TIN TỨC

Mặc khải của nước, lửa &…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-16 18:37:30
mail facebook google pos stwis
547 lượt xem

Văn chương TP. Hồ Chí Minh: Nhà khoa học, nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh luôn có những vần thơ hừng hực sống, đầy ám ảnh. Với bài phê bình "MẶC KHẢI CỦA NƯỚC, LỬA &…", nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã mở ra một lăng kính độc đáo, soi chiếu sâu vào nội hàm triết lý, cấu trúc thi ảnh và hành trình tư tưởng của thơ Nguyễn Đức Hạnh qua cặp phạm trù đối lập mà thống nhất: Nước và Lửa. Đây không chỉ là một bài luận về thơ mà còn là một hành trình chiêm nghiệm về thân phận, về những khát khao cháy bỏng và sự chuyển hóa diệu kỳ trong từng con chữ, mời quý độc giả cùng khám phá.
 

NGUYỄN THAM THIỆN KẾ

Tôi là ống cơm lam nướng vụng / Cháy đen rồi còn cố bùi thơm …

Vâng thưa, câu thơ nhuốm sắc tự ngộ của văn nhân Nguyễn Đức Hạnh ngỡ là khiêm nhưng tôi lại thấy đủ sự ngạo, dư tự tin, biết mình từ đâu, mình là ai, mình đang nào và sẽ như thế nào.

Tất nhiên nếu như thuận lòng Thượng đế.

Bởi khiêm tận sẽ đạt tới ngạo tận của hợp dung lửa nước.


PGS-TS, nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh - Đại học Thái Nguyên.

Đại diện cho 95 bài thơ tên KHÁT CHÁY sự hàm ngôn trong thi ảnh cần chúng ta cảm nhiều hơn là phẫu tích như xác phàm, huống là tinh huyết của một tâm thế đa truân, đa sự. Dù ở thể nào thì Nguyễn Đức Hạnh luôn hiển sáng yếu tố Lửa ở suy tư và hành xử mềm của chuyển hoán Nước trong dòng chảy đời sống, ngỡ kỵ khắc mà lại toàn hợp khi thi sĩ phổ phóng mình vô ưu vào vũ trụ nghệ thuật thi ca.

Nguyễn Đức Hạnh-một cái tên của kỳ vọng và khẳng định, nổi tiếng trên mạng, dễ lẫn Hạnh này với Hạnh kia, nhưng một khi đã đọc, đã đụng trong câu chuyện với PGS Tiến sĩ Nguyễn Đức Hạnh thì ta bị ngợp cuốn theo phún xuất dung nham của hỏa diệm sơn ngộn chất sống cần lao, chức phận công chức, miên man thơ văn tầm chương hàn lâm lẫn dân gian.

Và hơn nhất, đấy là zích zắc nồng hậu lấp lánh nỗi bạn, nghiệp nghề lao tác. Điếu thuốc tàn đêm rít tóp. Hào sảng cú vung, khoát, diễn nhịp mở tay mời cả thế giới, với hệ ngôn từ khúc triết, cộng minh chữ sáng, âm sang. Rồi chợt buột rơi vào thế giới tự kỷ hí hoáy bấm điện thoại. Sau năm mười phút tốc ký xong bài thơ, chỉnh một tus mà đọc chói lên những chữ những câu gia tăng năng lượng, chiều kích đối sánh khiến ta không thể không ngẩng lên nhìn người văn một cái.

Hiện văn đàn Việt đội ngũ nghiên cứu và dạy văn chương chốn thâm nghiêm giảng đường, thời kiêm sáng tác, dịch thuật khá hiếm. Tôi có thể kể: Phạm Quang Long, Trương Đăng Dung, Nhật Chiêu, Huỳnh Như Phương, Văn Giá, Nguyễn Đức Hạnh, Đinh Tiến Dũng… và Chu Văn Sơn, Phạm Quốc Ca đã rời văn cuộc. Với Nguyễn Đức Hạnh làm thầy và cũng là đối tượng để các nghiên cứu sinh thực hiện luận án về các sáng tác của mình.

Ngẫu nhiên ông tự khẳng định mình bằng một chuẩn kép.

Luận văn tiến sĩ: "Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ 1965-1975 nhìn từ góc độ thể loại" sau nối thêm công trình: "Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Chu Lai” và “Văn học địa phương miền núi phía Bắc". Hướng dẫn sinh viên làm luận văn tiến sĩ, thạc sĩ con số hàng chục. Ngỡ Nguyễn Đức Hạnh yên vị học thuật tháp ngà, nhưng mấy ai hay bên trong bệ vệ giáo sư kia là con ngựa chứng hoan cuồng với dặm ngàn xanh cỏ, cát bụi trường miên, là chú bé ngỗ nghịch tổn thương chỉ biết khóc nức dưới sao trời, sớm tròn vai anh lớn trước người cha khắc kỷ, là người thầy làm cha sấp sỉ tuổi sinh viên thuở bao cấp ngặt khó, vợ yếu con dại, bất chấp sĩ diện, bán trà chén, chụp ảnh dạo, xe ôm, moi than thổ phỉ, phu vàng và bưởng trưởng đã chạm tay giàu sang bỗng trắng tay sau một đêm.

Đa thân phận xung đột sau áo thụng chùm, dưới mũ hình thoi rủ tua vàng ngất nghểu thì làm sao chức phận nghệ sĩ của Nguyễn Đức Hạnh lại ngậm lưỡi trói tay mình nếu như không cất lời, nếu không vắt kiệt khí huyết gieo chữ nên thi thư. Khổng tước phải múa, bách thanh phải hót, đại bàng căng cánh lộng trời tự do, hoa quỳnh se sẽ nở đêm, hoa sen thắp sắc thả hương ngát đồng…

Từ 2000 đến 2022 riêng với thơ Nguyễn Đức Hạnh in 4 tập: "Núi khát"- Nxb Hội Nhà văn-năm 2000; "Vết thời gian"- Sở Văn hóa Thể thao Thái Nguyên, năm 2014; "Khoảng lặng"- Nxb Đại học Thái Nguyên-năm 2016 và "Thầm"- Nxb Hội Nhà văn-năm 2020. Và năm 2022, vị giáo sư trình bạn đọc tập truyện ngắn “Tiếng chuông chùa Tử Đằng”, sách do Nxb Hội Nhà văn ấn hành.

Một tập sách nội dung đan chen hiện thực và liêu trai, phóng chiếu từ những mảnh cắt mỗi gấp khúc đời sống thực của tác giả và nghiệm sinh văn hóa, hiện thực mà huyền ảo, huyền ảo mà hiện thực, trình hiện trong trường văn sôi trào năng lượng, khiến người đọc cứ phải gồng lên mới theo kịp diễn tiến cảm xúc. Một cách thức lấy thậm xưng trong sự thể hiện cảm tính - xúc cảm của chủ thể để làm nên những thiên truyện ngắn của trường phái biểu hiện.

Và bây giờ chúng ta cầm trên tay tập thơ thứ năm KHÁT CHÁY.

Hệ sinh thái KHÁT CHÁY về lượng có 96 bài thì đã có đến gần ba mươi đề tặng người thân, bạn văn chương và viết trực tiếp về các bậc văn nhân tài danh mà tâm thức ông trọng cảm như: Vũ Trọng Phụng, Văn Cao, Quang Dũng, Lâm Thị Mỹ Dạ.

…Có chị, sông Hương trong hơn, mưa Huế đẹp hơn

Chị đi vắng sen trắng chắp tay niệm Phật…

…Cầm thơ ra sông giặt phơi

Thơ hoá thành lụa trắng

Thắt nơ một bó thở dài…

…Thị trấn bằng hai bàn tay đếm mấy vốc nhân tài ?!

Anh Y Phương tựa lưng vào non nước

Ngắm sơn thuỷ mênh mông gieo một chữ Hoà…

Bản thân cũng được Nguyễn Đức Hạnh đề tặng thơ, với người khác thì có thể, nhưng tôi nghi ngờ mình khó có thể trở nguồn cảm hứng của bất cứ ai. Nên chăng, chỉ là chút xíu xúc tác. Tập hợp gần ba mươi bài thơ, mang đề tặng, chắc cũng tương tự ngọn ngưu bàng mảnh mai gẫy trong bão tuyết tạo cú huých cho Nikolay Vasilyevich Gogol viết Những linh hồn chết. Và để chúng ta thấy Nguyễn Đức Hạnh lụy tình như thế nào. Hơn nữa cũng thêm vai trò chia sẻ ý tưởng và kích ứng không gian thơ Nguyễn Đức Hạnh bùng phát biên độ.

Phần còn lại là những bài sinh diễn, cấu tứ từ đột biến mang tính ngẫu cảm của tác giả trước mỗi tọa độ quen thuộc của vùng địa văn hóa-địa lịch sử Việt Bắc, và quanh quanh Thăng Long. Bài thơ ghi dấu xê dịch của tác giả xa nhất về phía Nam là Phú Yên.

KHÁT CHÁY bị chi phối bởi hai yếu tố: Lửa-Nước.

…Nửa cho hồ bài ca mang tên Khát

Có nóng mặt trời? Có lạnh mặt trăng?...

…Bông hoa chuối rừng vừa cháy, vừa trôi…

…Sông co ro. Người xuýt xoa. Lửa hồng thương kêu lép bép

Phố đêm nghiêng thõng tiếng đàn bầu

Ao chuôm thở làn khói ấm

Cá lỡ hẹn hò nên lặn rất sâu….

…Yêu như là lửa đỏ

Thương như là than hồng

Thơ như là củi nỏ

Cháy rồi tan âm thầm …

Yếu tố nước-thủy hầu như xuất hiện đều đặn trong từng bài. Những từ khóa: Mưa. Sương. Mưa rào. Mưa phùn. Mưa sương. Sóng. Bến. Nước mắt. Lệ. Giọt buồn. Giọt vui. Nước trong. Dòng đục. Dòng hồng…

…Mưa trong veo ứa hai giọt thật trầm…

…Buồn thì ra bến

Thả mình trôi khoả đục tìm trong…

…Bến sông trong phưng phức

Bắp chân con gái thơm hồng…

…Sương muối bay mặn giấc chiêm bao…

…Hồn phố cổ như bình rượu quý hạ thổ mấy trăm năm

Xin đừng cho thêm ngũ xà lục xà vào nữa….

…Va vào mưa thủy tinh - mưa vỡ…

…Mật ngôn của cánh cò cõng mưa đá đến giấc mơ...

…Bầy lá khô tấp tểnh giỡn sương…

…Lệ đã chảy thành sông tiếng gọi…

Thơ là loài cây uống nước mắt mà xanh…

…Sương Lương Sơn tan không dỗ nổi…

…Sông Đà ôm em và anh kệ vầng trăng khuyết

Đập uống say nằm khóc một mình

Vạn con sóng vọt lưng trời tan vỡ

Con sóng nào cũng dáng lưng ong…

…Sông Cầu thức đòi uống ban mai cùng mắt biếc...

…Ai cùng tôi ngậm mưa

Em kéo nón che một mùa sen nở

Thở thật buồn sen bay trắng ngàn mây…

Yếu tố lửa-hỏa chính là giọng điệu hực ngụt thăng hoa. Đã bùng thì cháy đến kiệt. Cháy hết nguồn cảm xúc thì tự dừng. May rủi tùy thuộc vào nguồn cung năng lượng là phân ra hạt nhân, dầu sáng, xăng, than đá, củi, phong điện, quang điện.

…Thành thi nhân

Lửa hồng đố gì? Bối rối củi khô…

…Người đổ đèo vẫn phẻn dao lấp loáng

Mỗi bước chân rung nghịch một mặt trời…

…Lấy tóc bạc mà buộc

Sợi nắng vàng hân hoan…

…Anh là củi còn em là lửa

Đêm đêm che gió nhóm yêu thương

Có than hồng bùng trong vất vả

Khoai nướng cứ thơm…

…Thiêu nửa chừng núi đá rưng rưng

Người như đá tay cầm tay thành lửa…

…Ngòi bút tự khêu vào tiếng gọi thầm trong mắt

Chảy ròng ròng qua mấy mùa sen

Về cấu trúc, thì một số bài thơ có sơ đồ hình thang ngược, như một bông pháo hoa, bung sắc mình hết cỡ ngay từ giây phút khởi đầu rồi từ từ thu nhỏ mình đến kết thúc. Mở đầu bằng những câu thơ nối liền hàng như văn xuôi, liền cả một khổ. Cấu trúc này phản ánh đúng với trình cảm xúc khi đạt tới ngưỡng bùng nổ thì ngôn từ hay các mảnh vỡ của vụ nổ văng tóe cần một không gian lớn hơn kích cỡ truyền thống. Như là một cách chiếm lĩnh người đọc, tức thì. Đây thực sự là một điểm cộng, một đóng góp cho cấu trúc thơ đương đại hay chăng?

NHỚ VINH

Lửa đỏ trong nước lạnh. Tuyết trắng gói đa tình

Giấu thép trong lụa bạch. Lấy bão làm dây buộc tóc xinh

Cửa Hội nghiêng chiều đổ sóng vào anh

Mai xa rồi cắn sông lâu chút nữa …

 

ĐÊM CO SẦU

Hồn nhiên và trầm mặc. Nghìn tuổi hay không tuổi?

Gió ôm nhau sóng sánh thành đèo…

Phác thảo miền trung

Miền Trung - khớp nối hai thanh tà vẹt rung bần bật hành trình Bắc - Nam

Ngựa thồ phù sa sông Hồng nguồn cội

Rơi ngọt lành đẫm phá Tam Giang…

Tiếng trống chèo, quan họ, chầu văn…

Những loài nói thầm thường đau sâu

Sông nói bằng sóng. Ngôn từ vừa vỡ vừa trôi

Rừng nói bằng gió. Lá vừa thảng thốt vừa rơi

Trên quả đất này

Loài nói thầm đau sâu?

Loài nói to quên mau?

Tài năng và lòng trắc ẩn chắp đôi cánh đại bàng cho ngựa trắng Pegasus như muôn người thơ đúng nghĩa, Nguyễn Đức Hạnh bật thốt những câu thơ về mẹ, về em, về thân phận ngoài kia không tròn, nhẹ như không mà trĩu nặng.

 

MẸ ƠI, CON NHÓM LỬA RỒI

Sưởi cho bao mùa đông lăn thành giọt lệ…

… Xưa con nghịch, cha đánh, mẹ che

Không bao giờ khóc

Sáng mai đếm vết hằn lưng mẹ…

…Em là muối ớt

Tôi chấm tôi vào cùng trăm năm

Ngon cũng khóc mà đắng cay cũng khóc…

… Bác bán dao mài nỗi buồn ế khách

Tuổi tác trôi qua mặt đá mài

May còn đuôi mắt sắc

Mài ngực chị bán xôi...

…Gương mặt em buồn như trăng muộn

Cầm rổ cá ngồi vừa muốn rán vừa thương…

…Ô cửa cũ níu nụ cười ngày ấy

Mỗi bông phượng hồng cất giấu một đôi môi

Tóc con gái thành cầu vồng đen cong về hồi ức

Ai gọi ai mưa trắng xóa lối về…

…Em lấy chồng rồi hay khóc

Mang củ mài đi nhận củ nâu về

Sông đổi dòng ở chỗ ném bùa mê…

…Em thành sương khói

Về ôm sông đong chiều…

…Mưa suốt đêm không ướt nổi tiếng chim

Mổ thật khẽ vào thương nhớ…

…Em vẫn như sao mai ngơ ngác

Mới khẽ cười lệ đã vỡ làm đôi

KHÁT CHÁY- lật trang nào cũng gặp câu chữ phê choáng, thán phục cho sự thăng hoa của chuỗi ngôn từ giao hoan trong trường liên tưởng. Dư thời gian và kiên trì cho dẫn trích những câu thơ hay, nhưng tôi e, nếu dẫn hết ra đây sẽ là sự bất nhã với bạn đọc.

Chốt, xin trở lại với tự vấn của tác giả về thân phận và trách nhiệm nghệ sĩ.

…Anh nắng lửa gió Lào gặp em cát trắng

Có một ngày cát trắng hoá pha lê…

…trong một quả dừa khô

Còn một câu thơ cũ…

…Một đời rượu mặn không?!

Trong từng vết gỉ gãy…

…Người dưới biển tính chuyện lên rừng

Người trên núi mơ về sóng bể

Đi tìm cái mới cả đời đã thấy chưa?

Mặt nhà văn nhàu nát ngắm mặt nhà thơ

Mặt nhà thơ lơ ngơ ngắm mặt nhà phê bình nom như mặt sĩ quan cảnh vệ

…Trong ổ rơm nhìn trăng gầy quá

Giống quả ổi cuối cùng trên cây mùa đông

… Vách đất nứt ma về lay cửa mục ..

Con chó buồn cắn tiếng rõ, tiếng câm…

…Pha ấm trà rót xuống đá rưng rưng

Ta bắt gặp nồng ngột Trần Mạnh Hảo, cảm xúc mượt đau Hồng Thanh Quang, ngỡ rằng thơ đến vô không và cách xây dựng thi ảnh bội nghĩa, đa thanh của Nguyễn Quang Thiều, nhưng biệt sắc Nguyễn Đức Hạnh bồng sôi, ào chảy.

Trời phú khả năng ứng tác nhanh, dẫn đến cảnh huống chẳng phải lúc nào cảm xúc ngôn từ cũng song hành với lí trí văn hóa, nên không nhiều lắm những bài trọn vẹn, thỏa mãn. Đọc xong vẫn ấm ức, thiếu hụt vì vừa dứt ra khỏi cơn thăng trào, ta vẫn tiếp đợi bùng nổ. Trong dịch chuyển, sự khiếm này lại là nét duyên thơ Nguyễn Đức Hạnh?

Hỡi ôi, đúng thôi, ngẫm trước tác của các thi bá đông tây kim cổ, có bao nhiêu tác phẩm toàn bích. Dường như bao nhiêu kiến văn, vốn sống phong nhiêu bày sẵn, văn nhân hào sảng tiêu sạch vào CHÁY KHÁT.

Mạo định, KHÁT CHÁY là tác phẩm quan trọng nhất hiện nay trong vận trình sáng tạo của Nguyễn Đức Hạnh - văn nhân “bảo học” xứ ngàn Việt Bắc đỉnh độ sung chiếu văn mặt báo. Tôi trội bật cảm giác rằng, trước mỗi cấu tứ thi ảnh ập đến, Nguyễn Đức Hạnh vứt hết kiến thức nghiên cứu thơ ca bấy lâu, từng ngày vẫn truyền dạy sinh viên xuống Bến Tượng, chỉ một sục sôi triết máu hòa rượu để làm chữ, như viết bài thơ cuối cùng.

CHÁY KHÁT- tập thơ có đóng góp quan trọng về cấu trúc ở một số bài, cũng như nghệ thuật ngôn từ trong trường đối sánh thi ảnh được phóng chiếu làm mới, vượt qua cái xơ sáo bởi hụt nghiệm sống, hụt cảm xúc tràn lan các tập thơ hiện hành. KHÁT CHÁY dễ chinh phục số nhiều vì mới lạ cảm xúc, nhưng để thấu CHÁY KHÁT thì lại không nhiều. Nếu bạn là một người sáng tác, hay nghiên cứu văn học, thì cần phải đặt nó ngay ngắn lên bàn, vịn vào phép đọc lý tính hay suy cảm đây? KHÁT CHÁY đã định vị thế biệt sắc, không chỉ riêng cõi thơ Việt Bắc mà cả ở nền tảng thi ca Việt hiện tại.

…Ta nửa dại nửa khôn

Thơ vừa hay vừa dở…

…Nếu đời như mình muốn

Thì trời đâu bão mưa?!

Văn nhân Nguyễn Đức Hạnh cũng như muôn bao người Việt yêu thơ bị “giời đày làm thơ” đã giận hờn thơ, tức tưởi trước thơ. Nhưng nếu không có thơ người Việt sẽ ra sao nhỉ? Nguyễn Đức Hạnh sẽ thế nào, nếu thơ quay lưng với ông? Ông bỏ lửng thơ? Mới sơ hình dung, tôi đã giật mình. Biết CHÁY KHÁT rồi tôi mới hiểu mình sẽ nhạt nhèo đi nhiều lắm nếu như không gặp CHÁY KHÁT.

Đã buông bỏ lá rầu rầu

Để vòm cây ngát một màu bình an

Còn vương một lá ngỡ ngàng

Vừa khô vừa ướt bởi ngàn câu thơ.
 

Việt Trì. 3.9.2024,
N.T.T.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm