TIN TỨC

Mặc khải của nước, lửa &…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-16 18:37:30
mail facebook google pos stwis
602 lượt xem

Văn chương TP. Hồ Chí Minh: Nhà khoa học, nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh luôn có những vần thơ hừng hực sống, đầy ám ảnh. Với bài phê bình "MẶC KHẢI CỦA NƯỚC, LỬA &…", nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã mở ra một lăng kính độc đáo, soi chiếu sâu vào nội hàm triết lý, cấu trúc thi ảnh và hành trình tư tưởng của thơ Nguyễn Đức Hạnh qua cặp phạm trù đối lập mà thống nhất: Nước và Lửa. Đây không chỉ là một bài luận về thơ mà còn là một hành trình chiêm nghiệm về thân phận, về những khát khao cháy bỏng và sự chuyển hóa diệu kỳ trong từng con chữ, mời quý độc giả cùng khám phá.
 

NGUYỄN THAM THIỆN KẾ

Tôi là ống cơm lam nướng vụng / Cháy đen rồi còn cố bùi thơm …

Vâng thưa, câu thơ nhuốm sắc tự ngộ của văn nhân Nguyễn Đức Hạnh ngỡ là khiêm nhưng tôi lại thấy đủ sự ngạo, dư tự tin, biết mình từ đâu, mình là ai, mình đang nào và sẽ như thế nào.

Tất nhiên nếu như thuận lòng Thượng đế.

Bởi khiêm tận sẽ đạt tới ngạo tận của hợp dung lửa nước.


PGS-TS, nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh - Đại học Thái Nguyên.

Đại diện cho 95 bài thơ tên KHÁT CHÁY sự hàm ngôn trong thi ảnh cần chúng ta cảm nhiều hơn là phẫu tích như xác phàm, huống là tinh huyết của một tâm thế đa truân, đa sự. Dù ở thể nào thì Nguyễn Đức Hạnh luôn hiển sáng yếu tố Lửa ở suy tư và hành xử mềm của chuyển hoán Nước trong dòng chảy đời sống, ngỡ kỵ khắc mà lại toàn hợp khi thi sĩ phổ phóng mình vô ưu vào vũ trụ nghệ thuật thi ca.

Nguyễn Đức Hạnh-một cái tên của kỳ vọng và khẳng định, nổi tiếng trên mạng, dễ lẫn Hạnh này với Hạnh kia, nhưng một khi đã đọc, đã đụng trong câu chuyện với PGS Tiến sĩ Nguyễn Đức Hạnh thì ta bị ngợp cuốn theo phún xuất dung nham của hỏa diệm sơn ngộn chất sống cần lao, chức phận công chức, miên man thơ văn tầm chương hàn lâm lẫn dân gian.

Và hơn nhất, đấy là zích zắc nồng hậu lấp lánh nỗi bạn, nghiệp nghề lao tác. Điếu thuốc tàn đêm rít tóp. Hào sảng cú vung, khoát, diễn nhịp mở tay mời cả thế giới, với hệ ngôn từ khúc triết, cộng minh chữ sáng, âm sang. Rồi chợt buột rơi vào thế giới tự kỷ hí hoáy bấm điện thoại. Sau năm mười phút tốc ký xong bài thơ, chỉnh một tus mà đọc chói lên những chữ những câu gia tăng năng lượng, chiều kích đối sánh khiến ta không thể không ngẩng lên nhìn người văn một cái.

Hiện văn đàn Việt đội ngũ nghiên cứu và dạy văn chương chốn thâm nghiêm giảng đường, thời kiêm sáng tác, dịch thuật khá hiếm. Tôi có thể kể: Phạm Quang Long, Trương Đăng Dung, Nhật Chiêu, Huỳnh Như Phương, Văn Giá, Nguyễn Đức Hạnh, Đinh Tiến Dũng… và Chu Văn Sơn, Phạm Quốc Ca đã rời văn cuộc. Với Nguyễn Đức Hạnh làm thầy và cũng là đối tượng để các nghiên cứu sinh thực hiện luận án về các sáng tác của mình.

Ngẫu nhiên ông tự khẳng định mình bằng một chuẩn kép.

Luận văn tiến sĩ: "Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ 1965-1975 nhìn từ góc độ thể loại" sau nối thêm công trình: "Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Chu Lai” và “Văn học địa phương miền núi phía Bắc". Hướng dẫn sinh viên làm luận văn tiến sĩ, thạc sĩ con số hàng chục. Ngỡ Nguyễn Đức Hạnh yên vị học thuật tháp ngà, nhưng mấy ai hay bên trong bệ vệ giáo sư kia là con ngựa chứng hoan cuồng với dặm ngàn xanh cỏ, cát bụi trường miên, là chú bé ngỗ nghịch tổn thương chỉ biết khóc nức dưới sao trời, sớm tròn vai anh lớn trước người cha khắc kỷ, là người thầy làm cha sấp sỉ tuổi sinh viên thuở bao cấp ngặt khó, vợ yếu con dại, bất chấp sĩ diện, bán trà chén, chụp ảnh dạo, xe ôm, moi than thổ phỉ, phu vàng và bưởng trưởng đã chạm tay giàu sang bỗng trắng tay sau một đêm.

Đa thân phận xung đột sau áo thụng chùm, dưới mũ hình thoi rủ tua vàng ngất nghểu thì làm sao chức phận nghệ sĩ của Nguyễn Đức Hạnh lại ngậm lưỡi trói tay mình nếu như không cất lời, nếu không vắt kiệt khí huyết gieo chữ nên thi thư. Khổng tước phải múa, bách thanh phải hót, đại bàng căng cánh lộng trời tự do, hoa quỳnh se sẽ nở đêm, hoa sen thắp sắc thả hương ngát đồng…

Từ 2000 đến 2022 riêng với thơ Nguyễn Đức Hạnh in 4 tập: "Núi khát"- Nxb Hội Nhà văn-năm 2000; "Vết thời gian"- Sở Văn hóa Thể thao Thái Nguyên, năm 2014; "Khoảng lặng"- Nxb Đại học Thái Nguyên-năm 2016 và "Thầm"- Nxb Hội Nhà văn-năm 2020. Và năm 2022, vị giáo sư trình bạn đọc tập truyện ngắn “Tiếng chuông chùa Tử Đằng”, sách do Nxb Hội Nhà văn ấn hành.

Một tập sách nội dung đan chen hiện thực và liêu trai, phóng chiếu từ những mảnh cắt mỗi gấp khúc đời sống thực của tác giả và nghiệm sinh văn hóa, hiện thực mà huyền ảo, huyền ảo mà hiện thực, trình hiện trong trường văn sôi trào năng lượng, khiến người đọc cứ phải gồng lên mới theo kịp diễn tiến cảm xúc. Một cách thức lấy thậm xưng trong sự thể hiện cảm tính - xúc cảm của chủ thể để làm nên những thiên truyện ngắn của trường phái biểu hiện.

Và bây giờ chúng ta cầm trên tay tập thơ thứ năm KHÁT CHÁY.

Hệ sinh thái KHÁT CHÁY về lượng có 96 bài thì đã có đến gần ba mươi đề tặng người thân, bạn văn chương và viết trực tiếp về các bậc văn nhân tài danh mà tâm thức ông trọng cảm như: Vũ Trọng Phụng, Văn Cao, Quang Dũng, Lâm Thị Mỹ Dạ.

…Có chị, sông Hương trong hơn, mưa Huế đẹp hơn

Chị đi vắng sen trắng chắp tay niệm Phật…

…Cầm thơ ra sông giặt phơi

Thơ hoá thành lụa trắng

Thắt nơ một bó thở dài…

…Thị trấn bằng hai bàn tay đếm mấy vốc nhân tài ?!

Anh Y Phương tựa lưng vào non nước

Ngắm sơn thuỷ mênh mông gieo một chữ Hoà…

Bản thân cũng được Nguyễn Đức Hạnh đề tặng thơ, với người khác thì có thể, nhưng tôi nghi ngờ mình khó có thể trở nguồn cảm hứng của bất cứ ai. Nên chăng, chỉ là chút xíu xúc tác. Tập hợp gần ba mươi bài thơ, mang đề tặng, chắc cũng tương tự ngọn ngưu bàng mảnh mai gẫy trong bão tuyết tạo cú huých cho Nikolay Vasilyevich Gogol viết Những linh hồn chết. Và để chúng ta thấy Nguyễn Đức Hạnh lụy tình như thế nào. Hơn nữa cũng thêm vai trò chia sẻ ý tưởng và kích ứng không gian thơ Nguyễn Đức Hạnh bùng phát biên độ.

Phần còn lại là những bài sinh diễn, cấu tứ từ đột biến mang tính ngẫu cảm của tác giả trước mỗi tọa độ quen thuộc của vùng địa văn hóa-địa lịch sử Việt Bắc, và quanh quanh Thăng Long. Bài thơ ghi dấu xê dịch của tác giả xa nhất về phía Nam là Phú Yên.

KHÁT CHÁY bị chi phối bởi hai yếu tố: Lửa-Nước.

…Nửa cho hồ bài ca mang tên Khát

Có nóng mặt trời? Có lạnh mặt trăng?...

…Bông hoa chuối rừng vừa cháy, vừa trôi…

…Sông co ro. Người xuýt xoa. Lửa hồng thương kêu lép bép

Phố đêm nghiêng thõng tiếng đàn bầu

Ao chuôm thở làn khói ấm

Cá lỡ hẹn hò nên lặn rất sâu….

…Yêu như là lửa đỏ

Thương như là than hồng

Thơ như là củi nỏ

Cháy rồi tan âm thầm …

Yếu tố nước-thủy hầu như xuất hiện đều đặn trong từng bài. Những từ khóa: Mưa. Sương. Mưa rào. Mưa phùn. Mưa sương. Sóng. Bến. Nước mắt. Lệ. Giọt buồn. Giọt vui. Nước trong. Dòng đục. Dòng hồng…

…Mưa trong veo ứa hai giọt thật trầm…

…Buồn thì ra bến

Thả mình trôi khoả đục tìm trong…

…Bến sông trong phưng phức

Bắp chân con gái thơm hồng…

…Sương muối bay mặn giấc chiêm bao…

…Hồn phố cổ như bình rượu quý hạ thổ mấy trăm năm

Xin đừng cho thêm ngũ xà lục xà vào nữa….

…Va vào mưa thủy tinh - mưa vỡ…

…Mật ngôn của cánh cò cõng mưa đá đến giấc mơ...

…Bầy lá khô tấp tểnh giỡn sương…

…Lệ đã chảy thành sông tiếng gọi…

Thơ là loài cây uống nước mắt mà xanh…

…Sương Lương Sơn tan không dỗ nổi…

…Sông Đà ôm em và anh kệ vầng trăng khuyết

Đập uống say nằm khóc một mình

Vạn con sóng vọt lưng trời tan vỡ

Con sóng nào cũng dáng lưng ong…

…Sông Cầu thức đòi uống ban mai cùng mắt biếc...

…Ai cùng tôi ngậm mưa

Em kéo nón che một mùa sen nở

Thở thật buồn sen bay trắng ngàn mây…

Yếu tố lửa-hỏa chính là giọng điệu hực ngụt thăng hoa. Đã bùng thì cháy đến kiệt. Cháy hết nguồn cảm xúc thì tự dừng. May rủi tùy thuộc vào nguồn cung năng lượng là phân ra hạt nhân, dầu sáng, xăng, than đá, củi, phong điện, quang điện.

…Thành thi nhân

Lửa hồng đố gì? Bối rối củi khô…

…Người đổ đèo vẫn phẻn dao lấp loáng

Mỗi bước chân rung nghịch một mặt trời…

…Lấy tóc bạc mà buộc

Sợi nắng vàng hân hoan…

…Anh là củi còn em là lửa

Đêm đêm che gió nhóm yêu thương

Có than hồng bùng trong vất vả

Khoai nướng cứ thơm…

…Thiêu nửa chừng núi đá rưng rưng

Người như đá tay cầm tay thành lửa…

…Ngòi bút tự khêu vào tiếng gọi thầm trong mắt

Chảy ròng ròng qua mấy mùa sen

Về cấu trúc, thì một số bài thơ có sơ đồ hình thang ngược, như một bông pháo hoa, bung sắc mình hết cỡ ngay từ giây phút khởi đầu rồi từ từ thu nhỏ mình đến kết thúc. Mở đầu bằng những câu thơ nối liền hàng như văn xuôi, liền cả một khổ. Cấu trúc này phản ánh đúng với trình cảm xúc khi đạt tới ngưỡng bùng nổ thì ngôn từ hay các mảnh vỡ của vụ nổ văng tóe cần một không gian lớn hơn kích cỡ truyền thống. Như là một cách chiếm lĩnh người đọc, tức thì. Đây thực sự là một điểm cộng, một đóng góp cho cấu trúc thơ đương đại hay chăng?

NHỚ VINH

Lửa đỏ trong nước lạnh. Tuyết trắng gói đa tình

Giấu thép trong lụa bạch. Lấy bão làm dây buộc tóc xinh

Cửa Hội nghiêng chiều đổ sóng vào anh

Mai xa rồi cắn sông lâu chút nữa …

 

ĐÊM CO SẦU

Hồn nhiên và trầm mặc. Nghìn tuổi hay không tuổi?

Gió ôm nhau sóng sánh thành đèo…

Phác thảo miền trung

Miền Trung - khớp nối hai thanh tà vẹt rung bần bật hành trình Bắc - Nam

Ngựa thồ phù sa sông Hồng nguồn cội

Rơi ngọt lành đẫm phá Tam Giang…

Tiếng trống chèo, quan họ, chầu văn…

Những loài nói thầm thường đau sâu

Sông nói bằng sóng. Ngôn từ vừa vỡ vừa trôi

Rừng nói bằng gió. Lá vừa thảng thốt vừa rơi

Trên quả đất này

Loài nói thầm đau sâu?

Loài nói to quên mau?

Tài năng và lòng trắc ẩn chắp đôi cánh đại bàng cho ngựa trắng Pegasus như muôn người thơ đúng nghĩa, Nguyễn Đức Hạnh bật thốt những câu thơ về mẹ, về em, về thân phận ngoài kia không tròn, nhẹ như không mà trĩu nặng.

 

MẸ ƠI, CON NHÓM LỬA RỒI

Sưởi cho bao mùa đông lăn thành giọt lệ…

… Xưa con nghịch, cha đánh, mẹ che

Không bao giờ khóc

Sáng mai đếm vết hằn lưng mẹ…

…Em là muối ớt

Tôi chấm tôi vào cùng trăm năm

Ngon cũng khóc mà đắng cay cũng khóc…

… Bác bán dao mài nỗi buồn ế khách

Tuổi tác trôi qua mặt đá mài

May còn đuôi mắt sắc

Mài ngực chị bán xôi...

…Gương mặt em buồn như trăng muộn

Cầm rổ cá ngồi vừa muốn rán vừa thương…

…Ô cửa cũ níu nụ cười ngày ấy

Mỗi bông phượng hồng cất giấu một đôi môi

Tóc con gái thành cầu vồng đen cong về hồi ức

Ai gọi ai mưa trắng xóa lối về…

…Em lấy chồng rồi hay khóc

Mang củ mài đi nhận củ nâu về

Sông đổi dòng ở chỗ ném bùa mê…

…Em thành sương khói

Về ôm sông đong chiều…

…Mưa suốt đêm không ướt nổi tiếng chim

Mổ thật khẽ vào thương nhớ…

…Em vẫn như sao mai ngơ ngác

Mới khẽ cười lệ đã vỡ làm đôi

KHÁT CHÁY- lật trang nào cũng gặp câu chữ phê choáng, thán phục cho sự thăng hoa của chuỗi ngôn từ giao hoan trong trường liên tưởng. Dư thời gian và kiên trì cho dẫn trích những câu thơ hay, nhưng tôi e, nếu dẫn hết ra đây sẽ là sự bất nhã với bạn đọc.

Chốt, xin trở lại với tự vấn của tác giả về thân phận và trách nhiệm nghệ sĩ.

…Anh nắng lửa gió Lào gặp em cát trắng

Có một ngày cát trắng hoá pha lê…

…trong một quả dừa khô

Còn một câu thơ cũ…

…Một đời rượu mặn không?!

Trong từng vết gỉ gãy…

…Người dưới biển tính chuyện lên rừng

Người trên núi mơ về sóng bể

Đi tìm cái mới cả đời đã thấy chưa?

Mặt nhà văn nhàu nát ngắm mặt nhà thơ

Mặt nhà thơ lơ ngơ ngắm mặt nhà phê bình nom như mặt sĩ quan cảnh vệ

…Trong ổ rơm nhìn trăng gầy quá

Giống quả ổi cuối cùng trên cây mùa đông

… Vách đất nứt ma về lay cửa mục ..

Con chó buồn cắn tiếng rõ, tiếng câm…

…Pha ấm trà rót xuống đá rưng rưng

Ta bắt gặp nồng ngột Trần Mạnh Hảo, cảm xúc mượt đau Hồng Thanh Quang, ngỡ rằng thơ đến vô không và cách xây dựng thi ảnh bội nghĩa, đa thanh của Nguyễn Quang Thiều, nhưng biệt sắc Nguyễn Đức Hạnh bồng sôi, ào chảy.

Trời phú khả năng ứng tác nhanh, dẫn đến cảnh huống chẳng phải lúc nào cảm xúc ngôn từ cũng song hành với lí trí văn hóa, nên không nhiều lắm những bài trọn vẹn, thỏa mãn. Đọc xong vẫn ấm ức, thiếu hụt vì vừa dứt ra khỏi cơn thăng trào, ta vẫn tiếp đợi bùng nổ. Trong dịch chuyển, sự khiếm này lại là nét duyên thơ Nguyễn Đức Hạnh?

Hỡi ôi, đúng thôi, ngẫm trước tác của các thi bá đông tây kim cổ, có bao nhiêu tác phẩm toàn bích. Dường như bao nhiêu kiến văn, vốn sống phong nhiêu bày sẵn, văn nhân hào sảng tiêu sạch vào CHÁY KHÁT.

Mạo định, KHÁT CHÁY là tác phẩm quan trọng nhất hiện nay trong vận trình sáng tạo của Nguyễn Đức Hạnh - văn nhân “bảo học” xứ ngàn Việt Bắc đỉnh độ sung chiếu văn mặt báo. Tôi trội bật cảm giác rằng, trước mỗi cấu tứ thi ảnh ập đến, Nguyễn Đức Hạnh vứt hết kiến thức nghiên cứu thơ ca bấy lâu, từng ngày vẫn truyền dạy sinh viên xuống Bến Tượng, chỉ một sục sôi triết máu hòa rượu để làm chữ, như viết bài thơ cuối cùng.

CHÁY KHÁT- tập thơ có đóng góp quan trọng về cấu trúc ở một số bài, cũng như nghệ thuật ngôn từ trong trường đối sánh thi ảnh được phóng chiếu làm mới, vượt qua cái xơ sáo bởi hụt nghiệm sống, hụt cảm xúc tràn lan các tập thơ hiện hành. KHÁT CHÁY dễ chinh phục số nhiều vì mới lạ cảm xúc, nhưng để thấu CHÁY KHÁT thì lại không nhiều. Nếu bạn là một người sáng tác, hay nghiên cứu văn học, thì cần phải đặt nó ngay ngắn lên bàn, vịn vào phép đọc lý tính hay suy cảm đây? KHÁT CHÁY đã định vị thế biệt sắc, không chỉ riêng cõi thơ Việt Bắc mà cả ở nền tảng thi ca Việt hiện tại.

…Ta nửa dại nửa khôn

Thơ vừa hay vừa dở…

…Nếu đời như mình muốn

Thì trời đâu bão mưa?!

Văn nhân Nguyễn Đức Hạnh cũng như muôn bao người Việt yêu thơ bị “giời đày làm thơ” đã giận hờn thơ, tức tưởi trước thơ. Nhưng nếu không có thơ người Việt sẽ ra sao nhỉ? Nguyễn Đức Hạnh sẽ thế nào, nếu thơ quay lưng với ông? Ông bỏ lửng thơ? Mới sơ hình dung, tôi đã giật mình. Biết CHÁY KHÁT rồi tôi mới hiểu mình sẽ nhạt nhèo đi nhiều lắm nếu như không gặp CHÁY KHÁT.

Đã buông bỏ lá rầu rầu

Để vòm cây ngát một màu bình an

Còn vương một lá ngỡ ngàng

Vừa khô vừa ướt bởi ngàn câu thơ.
 

Việt Trì. 3.9.2024,
N.T.T.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm