TIN TỨC

Mặc khải của nước, lửa &…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-16 18:37:30
mail facebook google pos stwis
864 lượt xem

Văn chương TP. Hồ Chí Minh: Nhà khoa học, nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh luôn có những vần thơ hừng hực sống, đầy ám ảnh. Với bài phê bình "MẶC KHẢI CỦA NƯỚC, LỬA &…", nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã mở ra một lăng kính độc đáo, soi chiếu sâu vào nội hàm triết lý, cấu trúc thi ảnh và hành trình tư tưởng của thơ Nguyễn Đức Hạnh qua cặp phạm trù đối lập mà thống nhất: Nước và Lửa. Đây không chỉ là một bài luận về thơ mà còn là một hành trình chiêm nghiệm về thân phận, về những khát khao cháy bỏng và sự chuyển hóa diệu kỳ trong từng con chữ, mời quý độc giả cùng khám phá.
 

NGUYỄN THAM THIỆN KẾ

Tôi là ống cơm lam nướng vụng / Cháy đen rồi còn cố bùi thơm …

Vâng thưa, câu thơ nhuốm sắc tự ngộ của văn nhân Nguyễn Đức Hạnh ngỡ là khiêm nhưng tôi lại thấy đủ sự ngạo, dư tự tin, biết mình từ đâu, mình là ai, mình đang nào và sẽ như thế nào.

Tất nhiên nếu như thuận lòng Thượng đế.

Bởi khiêm tận sẽ đạt tới ngạo tận của hợp dung lửa nước.


PGS-TS, nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh - Đại học Thái Nguyên.

Đại diện cho 95 bài thơ tên KHÁT CHÁY sự hàm ngôn trong thi ảnh cần chúng ta cảm nhiều hơn là phẫu tích như xác phàm, huống là tinh huyết của một tâm thế đa truân, đa sự. Dù ở thể nào thì Nguyễn Đức Hạnh luôn hiển sáng yếu tố Lửa ở suy tư và hành xử mềm của chuyển hoán Nước trong dòng chảy đời sống, ngỡ kỵ khắc mà lại toàn hợp khi thi sĩ phổ phóng mình vô ưu vào vũ trụ nghệ thuật thi ca.

Nguyễn Đức Hạnh-một cái tên của kỳ vọng và khẳng định, nổi tiếng trên mạng, dễ lẫn Hạnh này với Hạnh kia, nhưng một khi đã đọc, đã đụng trong câu chuyện với PGS Tiến sĩ Nguyễn Đức Hạnh thì ta bị ngợp cuốn theo phún xuất dung nham của hỏa diệm sơn ngộn chất sống cần lao, chức phận công chức, miên man thơ văn tầm chương hàn lâm lẫn dân gian.

Và hơn nhất, đấy là zích zắc nồng hậu lấp lánh nỗi bạn, nghiệp nghề lao tác. Điếu thuốc tàn đêm rít tóp. Hào sảng cú vung, khoát, diễn nhịp mở tay mời cả thế giới, với hệ ngôn từ khúc triết, cộng minh chữ sáng, âm sang. Rồi chợt buột rơi vào thế giới tự kỷ hí hoáy bấm điện thoại. Sau năm mười phút tốc ký xong bài thơ, chỉnh một tus mà đọc chói lên những chữ những câu gia tăng năng lượng, chiều kích đối sánh khiến ta không thể không ngẩng lên nhìn người văn một cái.

Hiện văn đàn Việt đội ngũ nghiên cứu và dạy văn chương chốn thâm nghiêm giảng đường, thời kiêm sáng tác, dịch thuật khá hiếm. Tôi có thể kể: Phạm Quang Long, Trương Đăng Dung, Nhật Chiêu, Huỳnh Như Phương, Văn Giá, Nguyễn Đức Hạnh, Đinh Tiến Dũng… và Chu Văn Sơn, Phạm Quốc Ca đã rời văn cuộc. Với Nguyễn Đức Hạnh làm thầy và cũng là đối tượng để các nghiên cứu sinh thực hiện luận án về các sáng tác của mình.

Ngẫu nhiên ông tự khẳng định mình bằng một chuẩn kép.

Luận văn tiến sĩ: "Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ 1965-1975 nhìn từ góc độ thể loại" sau nối thêm công trình: "Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Chu Lai” và “Văn học địa phương miền núi phía Bắc". Hướng dẫn sinh viên làm luận văn tiến sĩ, thạc sĩ con số hàng chục. Ngỡ Nguyễn Đức Hạnh yên vị học thuật tháp ngà, nhưng mấy ai hay bên trong bệ vệ giáo sư kia là con ngựa chứng hoan cuồng với dặm ngàn xanh cỏ, cát bụi trường miên, là chú bé ngỗ nghịch tổn thương chỉ biết khóc nức dưới sao trời, sớm tròn vai anh lớn trước người cha khắc kỷ, là người thầy làm cha sấp sỉ tuổi sinh viên thuở bao cấp ngặt khó, vợ yếu con dại, bất chấp sĩ diện, bán trà chén, chụp ảnh dạo, xe ôm, moi than thổ phỉ, phu vàng và bưởng trưởng đã chạm tay giàu sang bỗng trắng tay sau một đêm.

Đa thân phận xung đột sau áo thụng chùm, dưới mũ hình thoi rủ tua vàng ngất nghểu thì làm sao chức phận nghệ sĩ của Nguyễn Đức Hạnh lại ngậm lưỡi trói tay mình nếu như không cất lời, nếu không vắt kiệt khí huyết gieo chữ nên thi thư. Khổng tước phải múa, bách thanh phải hót, đại bàng căng cánh lộng trời tự do, hoa quỳnh se sẽ nở đêm, hoa sen thắp sắc thả hương ngát đồng…

Từ 2000 đến 2022 riêng với thơ Nguyễn Đức Hạnh in 4 tập: "Núi khát"- Nxb Hội Nhà văn-năm 2000; "Vết thời gian"- Sở Văn hóa Thể thao Thái Nguyên, năm 2014; "Khoảng lặng"- Nxb Đại học Thái Nguyên-năm 2016 và "Thầm"- Nxb Hội Nhà văn-năm 2020. Và năm 2022, vị giáo sư trình bạn đọc tập truyện ngắn “Tiếng chuông chùa Tử Đằng”, sách do Nxb Hội Nhà văn ấn hành.

Một tập sách nội dung đan chen hiện thực và liêu trai, phóng chiếu từ những mảnh cắt mỗi gấp khúc đời sống thực của tác giả và nghiệm sinh văn hóa, hiện thực mà huyền ảo, huyền ảo mà hiện thực, trình hiện trong trường văn sôi trào năng lượng, khiến người đọc cứ phải gồng lên mới theo kịp diễn tiến cảm xúc. Một cách thức lấy thậm xưng trong sự thể hiện cảm tính - xúc cảm của chủ thể để làm nên những thiên truyện ngắn của trường phái biểu hiện.

Và bây giờ chúng ta cầm trên tay tập thơ thứ năm KHÁT CHÁY.

Hệ sinh thái KHÁT CHÁY về lượng có 96 bài thì đã có đến gần ba mươi đề tặng người thân, bạn văn chương và viết trực tiếp về các bậc văn nhân tài danh mà tâm thức ông trọng cảm như: Vũ Trọng Phụng, Văn Cao, Quang Dũng, Lâm Thị Mỹ Dạ.

…Có chị, sông Hương trong hơn, mưa Huế đẹp hơn

Chị đi vắng sen trắng chắp tay niệm Phật…

…Cầm thơ ra sông giặt phơi

Thơ hoá thành lụa trắng

Thắt nơ một bó thở dài…

…Thị trấn bằng hai bàn tay đếm mấy vốc nhân tài ?!

Anh Y Phương tựa lưng vào non nước

Ngắm sơn thuỷ mênh mông gieo một chữ Hoà…

Bản thân cũng được Nguyễn Đức Hạnh đề tặng thơ, với người khác thì có thể, nhưng tôi nghi ngờ mình khó có thể trở nguồn cảm hứng của bất cứ ai. Nên chăng, chỉ là chút xíu xúc tác. Tập hợp gần ba mươi bài thơ, mang đề tặng, chắc cũng tương tự ngọn ngưu bàng mảnh mai gẫy trong bão tuyết tạo cú huých cho Nikolay Vasilyevich Gogol viết Những linh hồn chết. Và để chúng ta thấy Nguyễn Đức Hạnh lụy tình như thế nào. Hơn nữa cũng thêm vai trò chia sẻ ý tưởng và kích ứng không gian thơ Nguyễn Đức Hạnh bùng phát biên độ.

Phần còn lại là những bài sinh diễn, cấu tứ từ đột biến mang tính ngẫu cảm của tác giả trước mỗi tọa độ quen thuộc của vùng địa văn hóa-địa lịch sử Việt Bắc, và quanh quanh Thăng Long. Bài thơ ghi dấu xê dịch của tác giả xa nhất về phía Nam là Phú Yên.

KHÁT CHÁY bị chi phối bởi hai yếu tố: Lửa-Nước.

…Nửa cho hồ bài ca mang tên Khát

Có nóng mặt trời? Có lạnh mặt trăng?...

…Bông hoa chuối rừng vừa cháy, vừa trôi…

…Sông co ro. Người xuýt xoa. Lửa hồng thương kêu lép bép

Phố đêm nghiêng thõng tiếng đàn bầu

Ao chuôm thở làn khói ấm

Cá lỡ hẹn hò nên lặn rất sâu….

…Yêu như là lửa đỏ

Thương như là than hồng

Thơ như là củi nỏ

Cháy rồi tan âm thầm …

Yếu tố nước-thủy hầu như xuất hiện đều đặn trong từng bài. Những từ khóa: Mưa. Sương. Mưa rào. Mưa phùn. Mưa sương. Sóng. Bến. Nước mắt. Lệ. Giọt buồn. Giọt vui. Nước trong. Dòng đục. Dòng hồng…

…Mưa trong veo ứa hai giọt thật trầm…

…Buồn thì ra bến

Thả mình trôi khoả đục tìm trong…

…Bến sông trong phưng phức

Bắp chân con gái thơm hồng…

…Sương muối bay mặn giấc chiêm bao…

…Hồn phố cổ như bình rượu quý hạ thổ mấy trăm năm

Xin đừng cho thêm ngũ xà lục xà vào nữa….

…Va vào mưa thủy tinh - mưa vỡ…

…Mật ngôn của cánh cò cõng mưa đá đến giấc mơ...

…Bầy lá khô tấp tểnh giỡn sương…

…Lệ đã chảy thành sông tiếng gọi…

Thơ là loài cây uống nước mắt mà xanh…

…Sương Lương Sơn tan không dỗ nổi…

…Sông Đà ôm em và anh kệ vầng trăng khuyết

Đập uống say nằm khóc một mình

Vạn con sóng vọt lưng trời tan vỡ

Con sóng nào cũng dáng lưng ong…

…Sông Cầu thức đòi uống ban mai cùng mắt biếc...

…Ai cùng tôi ngậm mưa

Em kéo nón che một mùa sen nở

Thở thật buồn sen bay trắng ngàn mây…

Yếu tố lửa-hỏa chính là giọng điệu hực ngụt thăng hoa. Đã bùng thì cháy đến kiệt. Cháy hết nguồn cảm xúc thì tự dừng. May rủi tùy thuộc vào nguồn cung năng lượng là phân ra hạt nhân, dầu sáng, xăng, than đá, củi, phong điện, quang điện.

…Thành thi nhân

Lửa hồng đố gì? Bối rối củi khô…

…Người đổ đèo vẫn phẻn dao lấp loáng

Mỗi bước chân rung nghịch một mặt trời…

…Lấy tóc bạc mà buộc

Sợi nắng vàng hân hoan…

…Anh là củi còn em là lửa

Đêm đêm che gió nhóm yêu thương

Có than hồng bùng trong vất vả

Khoai nướng cứ thơm…

…Thiêu nửa chừng núi đá rưng rưng

Người như đá tay cầm tay thành lửa…

…Ngòi bút tự khêu vào tiếng gọi thầm trong mắt

Chảy ròng ròng qua mấy mùa sen

Về cấu trúc, thì một số bài thơ có sơ đồ hình thang ngược, như một bông pháo hoa, bung sắc mình hết cỡ ngay từ giây phút khởi đầu rồi từ từ thu nhỏ mình đến kết thúc. Mở đầu bằng những câu thơ nối liền hàng như văn xuôi, liền cả một khổ. Cấu trúc này phản ánh đúng với trình cảm xúc khi đạt tới ngưỡng bùng nổ thì ngôn từ hay các mảnh vỡ của vụ nổ văng tóe cần một không gian lớn hơn kích cỡ truyền thống. Như là một cách chiếm lĩnh người đọc, tức thì. Đây thực sự là một điểm cộng, một đóng góp cho cấu trúc thơ đương đại hay chăng?

NHỚ VINH

Lửa đỏ trong nước lạnh. Tuyết trắng gói đa tình

Giấu thép trong lụa bạch. Lấy bão làm dây buộc tóc xinh

Cửa Hội nghiêng chiều đổ sóng vào anh

Mai xa rồi cắn sông lâu chút nữa …

 

ĐÊM CO SẦU

Hồn nhiên và trầm mặc. Nghìn tuổi hay không tuổi?

Gió ôm nhau sóng sánh thành đèo…

Phác thảo miền trung

Miền Trung - khớp nối hai thanh tà vẹt rung bần bật hành trình Bắc - Nam

Ngựa thồ phù sa sông Hồng nguồn cội

Rơi ngọt lành đẫm phá Tam Giang…

Tiếng trống chèo, quan họ, chầu văn…

Những loài nói thầm thường đau sâu

Sông nói bằng sóng. Ngôn từ vừa vỡ vừa trôi

Rừng nói bằng gió. Lá vừa thảng thốt vừa rơi

Trên quả đất này

Loài nói thầm đau sâu?

Loài nói to quên mau?

Tài năng và lòng trắc ẩn chắp đôi cánh đại bàng cho ngựa trắng Pegasus như muôn người thơ đúng nghĩa, Nguyễn Đức Hạnh bật thốt những câu thơ về mẹ, về em, về thân phận ngoài kia không tròn, nhẹ như không mà trĩu nặng.

 

MẸ ƠI, CON NHÓM LỬA RỒI

Sưởi cho bao mùa đông lăn thành giọt lệ…

… Xưa con nghịch, cha đánh, mẹ che

Không bao giờ khóc

Sáng mai đếm vết hằn lưng mẹ…

…Em là muối ớt

Tôi chấm tôi vào cùng trăm năm

Ngon cũng khóc mà đắng cay cũng khóc…

… Bác bán dao mài nỗi buồn ế khách

Tuổi tác trôi qua mặt đá mài

May còn đuôi mắt sắc

Mài ngực chị bán xôi...

…Gương mặt em buồn như trăng muộn

Cầm rổ cá ngồi vừa muốn rán vừa thương…

…Ô cửa cũ níu nụ cười ngày ấy

Mỗi bông phượng hồng cất giấu một đôi môi

Tóc con gái thành cầu vồng đen cong về hồi ức

Ai gọi ai mưa trắng xóa lối về…

…Em lấy chồng rồi hay khóc

Mang củ mài đi nhận củ nâu về

Sông đổi dòng ở chỗ ném bùa mê…

…Em thành sương khói

Về ôm sông đong chiều…

…Mưa suốt đêm không ướt nổi tiếng chim

Mổ thật khẽ vào thương nhớ…

…Em vẫn như sao mai ngơ ngác

Mới khẽ cười lệ đã vỡ làm đôi

KHÁT CHÁY- lật trang nào cũng gặp câu chữ phê choáng, thán phục cho sự thăng hoa của chuỗi ngôn từ giao hoan trong trường liên tưởng. Dư thời gian và kiên trì cho dẫn trích những câu thơ hay, nhưng tôi e, nếu dẫn hết ra đây sẽ là sự bất nhã với bạn đọc.

Chốt, xin trở lại với tự vấn của tác giả về thân phận và trách nhiệm nghệ sĩ.

…Anh nắng lửa gió Lào gặp em cát trắng

Có một ngày cát trắng hoá pha lê…

…trong một quả dừa khô

Còn một câu thơ cũ…

…Một đời rượu mặn không?!

Trong từng vết gỉ gãy…

…Người dưới biển tính chuyện lên rừng

Người trên núi mơ về sóng bể

Đi tìm cái mới cả đời đã thấy chưa?

Mặt nhà văn nhàu nát ngắm mặt nhà thơ

Mặt nhà thơ lơ ngơ ngắm mặt nhà phê bình nom như mặt sĩ quan cảnh vệ

…Trong ổ rơm nhìn trăng gầy quá

Giống quả ổi cuối cùng trên cây mùa đông

… Vách đất nứt ma về lay cửa mục ..

Con chó buồn cắn tiếng rõ, tiếng câm…

…Pha ấm trà rót xuống đá rưng rưng

Ta bắt gặp nồng ngột Trần Mạnh Hảo, cảm xúc mượt đau Hồng Thanh Quang, ngỡ rằng thơ đến vô không và cách xây dựng thi ảnh bội nghĩa, đa thanh của Nguyễn Quang Thiều, nhưng biệt sắc Nguyễn Đức Hạnh bồng sôi, ào chảy.

Trời phú khả năng ứng tác nhanh, dẫn đến cảnh huống chẳng phải lúc nào cảm xúc ngôn từ cũng song hành với lí trí văn hóa, nên không nhiều lắm những bài trọn vẹn, thỏa mãn. Đọc xong vẫn ấm ức, thiếu hụt vì vừa dứt ra khỏi cơn thăng trào, ta vẫn tiếp đợi bùng nổ. Trong dịch chuyển, sự khiếm này lại là nét duyên thơ Nguyễn Đức Hạnh?

Hỡi ôi, đúng thôi, ngẫm trước tác của các thi bá đông tây kim cổ, có bao nhiêu tác phẩm toàn bích. Dường như bao nhiêu kiến văn, vốn sống phong nhiêu bày sẵn, văn nhân hào sảng tiêu sạch vào CHÁY KHÁT.

Mạo định, KHÁT CHÁY là tác phẩm quan trọng nhất hiện nay trong vận trình sáng tạo của Nguyễn Đức Hạnh - văn nhân “bảo học” xứ ngàn Việt Bắc đỉnh độ sung chiếu văn mặt báo. Tôi trội bật cảm giác rằng, trước mỗi cấu tứ thi ảnh ập đến, Nguyễn Đức Hạnh vứt hết kiến thức nghiên cứu thơ ca bấy lâu, từng ngày vẫn truyền dạy sinh viên xuống Bến Tượng, chỉ một sục sôi triết máu hòa rượu để làm chữ, như viết bài thơ cuối cùng.

CHÁY KHÁT- tập thơ có đóng góp quan trọng về cấu trúc ở một số bài, cũng như nghệ thuật ngôn từ trong trường đối sánh thi ảnh được phóng chiếu làm mới, vượt qua cái xơ sáo bởi hụt nghiệm sống, hụt cảm xúc tràn lan các tập thơ hiện hành. KHÁT CHÁY dễ chinh phục số nhiều vì mới lạ cảm xúc, nhưng để thấu CHÁY KHÁT thì lại không nhiều. Nếu bạn là một người sáng tác, hay nghiên cứu văn học, thì cần phải đặt nó ngay ngắn lên bàn, vịn vào phép đọc lý tính hay suy cảm đây? KHÁT CHÁY đã định vị thế biệt sắc, không chỉ riêng cõi thơ Việt Bắc mà cả ở nền tảng thi ca Việt hiện tại.

…Ta nửa dại nửa khôn

Thơ vừa hay vừa dở…

…Nếu đời như mình muốn

Thì trời đâu bão mưa?!

Văn nhân Nguyễn Đức Hạnh cũng như muôn bao người Việt yêu thơ bị “giời đày làm thơ” đã giận hờn thơ, tức tưởi trước thơ. Nhưng nếu không có thơ người Việt sẽ ra sao nhỉ? Nguyễn Đức Hạnh sẽ thế nào, nếu thơ quay lưng với ông? Ông bỏ lửng thơ? Mới sơ hình dung, tôi đã giật mình. Biết CHÁY KHÁT rồi tôi mới hiểu mình sẽ nhạt nhèo đi nhiều lắm nếu như không gặp CHÁY KHÁT.

Đã buông bỏ lá rầu rầu

Để vòm cây ngát một màu bình an

Còn vương một lá ngỡ ngàng

Vừa khô vừa ướt bởi ngàn câu thơ.
 

Việt Trì. 3.9.2024,
N.T.T.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm