- Lý luận - Phê bình
- “Lời đồng vọng” với những áng văn hay
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình. Lời đồng vọng 2, theo tôi đó là tập “Tiểu luận và Phê bình” đầy đặn và chỉn chu cả về nội dung lẫn hình thức.

Lời đồng vọng 2 được bố cục làm ba phần:
Phần 1: Văn học và cuộc sống với chín bài viết rất bổ ích, thể hiện kiến văn sâu rộng của Lê Xuân về đời sống và văn học nghệ thuật. Lê Xuân đặt vấn đề về những kiến thức căn bản, yếu tố cần thiết nhất của một người học tập, nghiên cứu và sáng tạo văn chương. Bạn đọc được trang bị những kiến thức về thơ, yếu tố ngôn ngữ trong một bài thơ; nhà văn cần trang bị những kiến thức gì để có tác phẩm hay; bàn thêm về người viết trẻ… Lê Xuân đã dày công nghiên cứu, tìm tòi, quan sát dõi theo tình hình sáng tác và phê bình văn học ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tác phẩm được xem khá đầy đủ những gương mặt văn nghệ, những đặc trưng nổi bật của văn chương Đồng bằng sông Cửu Long qua từng giai đoạn cụ thể.
Đặc biệt, anh có ba bài viết hay vừa mang tính tổng kết vừa vạch ra những định hướng và dự báo cho văn học Cần Thơ nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung: Phương ngữ Nam Bộ - nét đặc sắc của văn học Đồng bằng sông Cửu Long cần lưu giữ; bài Văn học Cần Thơ trước cơ chế thị trường, làm sao để có tác phẩm hay và bài Vai trò, vị trí của văn nghệ sĩ Cần Thơ trong giai đoạn 1975-2025.
Vốn là một nhà giáo, một nhà báo, một nhà phê bình nên Lê Xuân có những ý kiến khá xác đáng về dạy và học Văn hiện nay, về mối quan hệ giữa người viết phê bình và người sáng tác. Đọc từng câu chữ và cả những đề xuất của anh trong các bài viết mới thấy anh giành tâm sức cho văn chương và tâm huyết với nó biết nhường nào!
Phần 2: Đến với bài thơ hay. Nhà phê bình Lê Xuân phẩm bình 24 bài thơ của 24 tác giả. Nhiều nhà thơ tên tuổi với những bài thơ được định hình theo năm tháng và qua lời bình của anh tăng thêm giá trị, sự hàm súc, sức bay bổng với những khám phá tinh tế, đầy bất ngờ và thú vị. Có lẽ, với những bài thơ ấy, bạn đọc đã từng được đọc, được nghe những lời bình của nhiều tác giả khác nhưng đọc những lời bình giá của Lê Xuân mỗi chúng ta sẽ thấy có nét riêng trong sự khám phá, chỉ ra được hồn cốt cái tinh túy, độc đáo mà tôi tin là bạn đọc sẽ ấn tượng hơn về nó. Tôi thích cách anh bình với ngôn từ đẹp, sự tinh nhạy trong cách cảm, vận dụng linh hoạt kiến thức về ngôn ngữ, thi pháp nhưng không hề khô cứng, máy móc, giáo điều mà gieo vào lòng bạn đọc nhiều những kiến thức, thông điệp bổ ích và để lại những dư ba. Chẳng hạn ở bài Bùa lá của Nguyễn Thị Đạo Tĩnh, nhà phê bình Lê Xuân có đoạn phẩm bình rất hay: “Đọc Bùa lá tôi lại liên tưởng tới chiếc “lá diêu bông” của thi sĩ tài hoa Hoàng Cầm. Bao nhiêu người mải mê cất công đi tìm để mong được làm chồng cái nhân vật trữ tình kia nhưng đều vô vọng. Gìơ đây biết bao chàng trai lại đi tìm “bùa lá” của chị, và liệu rằng có tìm được không giữa cái mênh mông của biển tình, biển đời.
Mở đầu bài thơ ta bắt gặp hình ảnh “lá vàng” nằm trong cặp câu lục bát biến thể “Lá vàng tôi thả bùa mê/ Có ai nhặt về làm chút duyên chơi, gieo vần vào tiếng thứ tư (về) ở câu “bát”, tách câu thơ làm hai theo nhịp 4/4 tạo âm hưởng không xuôi chèo mát mái như những câu lục bát bình thường. Nó như dự báo sự trắc trở, lỡ làng của duyên muộn. Nhặt “lá vàng” làm “bùa mê” để thả ra giữa dòng đời “cầu duyên” da diết quá, xót xa quá. Nhân vật trữ tình ở đây không có sự “bùng nổ” quyết liệt như trong thơ Hồ Xuân Hương khi xưa “thân này đâu đã chịu già tom” (Tự tình) mà cứ nhẹ nhàng, thủ thỉ độc thoại nội tâm: Lỡ làng mười tám, đôi mươi/ Tôi đi chợ muộn kiếm cơi trầu già/ Chân vương tóc rối chân gà/ Ai mua tôi bán - để mà cầu duyên. Song, điều đáng quý ở nhân vật trữ tình này là chưa hề nguôi tắt niềm tin ở tình yêu cuộc sống, vẫn hy vọng ở chuyện “cầu duyên”.
Hoặc, với bài thơ Cõi người của nhà thơ Lê Quốc Hán, anh cũng có những lời tâm huyết, thấu tình. Bằng vốn kiến thức, sự tinh nhạy trong cách nhìn nhận về con người và cuộc đời mà Lê Xuân đã luận giải một cách biện chứng, sâu sắc. Đó là sự nghịch lý của cõi người. “Mở đầu bài thơ là một câu hỏi tu từ “Làm sao cắt nghĩa cõi người”, nó như một phương trình vô định. Có cõi người, cõi đất, cõi âm, cõi dương và “cõi tôi” nữa. Ở đây nhà thơ lạm bàn về “cõi người” qua cái tôi trữ tình. Nghe vừa gần gũi lại vừa xa xôi với một âm hưởng buồn. Và từ đó tứ thơ được triển khai tạo nên sự đối lập, là nghịch lý “Khi vui ứa lệ khi cười đớn đau”. Tôi liên tưởng ngay đến câu thơ của Nguyễn Công Trứ: “Ngồi buồn mà trách ông xanh/ Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười”. Có niềm vui ứa lệ, nước mắt rưng rưng như sau ngày giải phóng cha mẹ gặp con, vợ gặp chồng. Lại có cái cười ra nước mắt vì đớn đau, vì sự mai mỉa lắng đọng tim gan. Cười vì mình bất lực trước thế sự nhiễu nhương, cười vì một sự sám hối nào đó, hay cười vì trước sự nhỏ nhen ganh tỵ của người đời. Câu thơ mở ra nhiều trường liên tưởng về “kiếp này”, “kiếp sau”. Tác giả lại lý giải một hiện tượng ngược chiều cuộc sống: “Tim hồng đem muối làm dưa” và “Bẻ hoa rồi dạy cuộc đời yêu hoa”. Sự trách đời và trách mình cứ tăng dần theo cấp số nhân. Theo tư duy lô gic của triết học thì đây là mối quan hệ đối lập giữa hai cặp phạm trù nội dung và hình thức. Người “bẻ hoa” mà lại đi giảng đạo lý cho người “yêu hoa”, kẻ “lưỡi phun nọc rắn” mà miệng vẫn cười như “đùa chơi”. Quả là loại người “Khẩu Phật tâm xà” hay “Miệng nam mô bụng một bồ dao găm” (Tục ngữ). Sự đối lập tăng cao ở khổ thơ thứ ba: “Hoàng bào đổi lấy cà sa/ hạt cơm lừa bán Hằng Nga nuôi mình/ ngàn vàng khôn chuộc chữ trinh/ nào ai trao trọn người tình mình yêu”. Sự lừa lọc và giả dối cứ từ từ tiệm tiến. Sự hoán đổi thật trớ trêu như một màn bi hài kịch. Lê Quốc Hán giấu nỗi buồn vào trong mà cứ tủm tĩm cười như chú Cuội, chứ không chán đời trước trần thế còn nhiều cát bụi”…
Phần 3: Những hạt vàng trong sách, với 23 bài giới thiệu về sách của 23 tác giả. Phần này, nhà phê bình Lê Xuân đã giành phần lớn giới thiệu các tác phẩm của các tác giả ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (18/23). Ở đây có thể coi như một cuộc điểm danh những tên tuổi và tác phẩm ở vùng đất này với những tác giả quen thuộc được nhiều bạn đọc biết đến như: Lâm Tẻn Cuôi, Huệ Thi, Lê Lương Ngọc, Lê Kim Loan, Đặng Tuyết, Lê Ái Siêm, Trương Viết Hùng, Tùng Chương, Huyền Văn, Trần Thanh Chương, Nguyễn Kim Thanh, Đặng Phúc Minh, Dũng Trần, Lương Minh Hinh, Nguyễn Duy Chuông, Sáu Nghệ, Cao Thanh Mai, Lê Quang Vui.
Ở mỗi tác phẩm anh luôn tìm ra những nét độc đáo về phong cách tác giả và sự thành công trong bút pháp biểu hiện ở những hình tượng nghệ thuật để chuyển tải nội dung. Ở đây người đọc bắt gặp sự từng trãi và vốn sống của mỗi tác giả phả vào tác phẩm. Ta thấy chất lính của anh bộ đội Cụ Hồ khá đậm nét qua các truyện ngắn, tản văn, bút ký của HuyềnVăn, Cao Thanh Mai, Nguyễn Duy Chuông, Sáu Nghệ. Tình thơ, tình yêu, tình bạn, tình quê hòa quyện trong thơ Lê Ái Siêm, Lâm Tẻn Cuôi, Tùng Chương, Lê Lương Ngọc, Lê Quang Vui, Huệ Thi, Trương Viết Hùng. Những cảnh sắc miền sông nước Tây Nam Bộ, những con người miệt vườn chất phác, nhân ái, hào hiệp trọng nghĩa khinh tài, thích ca cải lương, đờn ca tài tử, và đôi khi điệu nghệ cứ hiện lên như sờ nắm được trong những bút ký, tản văn, truyện ngắn của Nguyễn Kim Thanh, Huyền Văn, Cao Thanh Mai. Đặc biệt anh rất trân trọng những tìm tòi mới lạ về xu hướng hậu hiện đại, ảnh hưởng của trường phái Prớt trong trường ca “Lò Mổ” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều mà nhiều người còn bàn cãi. Anh đưa ra những nhận định thấu tình đạt lý.
Việc phân chia bố cục của tập sách như thế cùng với những vấn đề được chuyển tải trong tác phẩm, cho thấy sự nghiêm cẩn trong lao động nghệ thuật, sự chắt chiu và trân trọng những thành quả của người sáng tạo. Ở đó ý thức trách nhiệm, tình yêu và sự dấn thân với văn chương chữ nghĩa được thể hiện rõ nét. Vì thế, tôi rất trân quý và ngưỡng mộ phẩm hạnh người cầm bút tâm huyết mà nhà phê bình Lê Xuân đem tới. Tác phẩm này cũng là lời tri ân, là nén tâm nhang dâng lên anh linh một số tác giả đã rời cõi tạm về miền cực lạc, như nhà thơ Chế Lan Viên, Hồ Dzếnh, Nguyễn Bùi Vợi, Lâm Tẻn Cuôi, Lê Đình Cánh, Bùi Văn Bồng, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Văn Chương (Bắc Ninh), Trịnh Anh Đạt, Đoàn Vị Thượng, Đinh Văn Hội, Lâm Văn Lan, Phan Huy.
Với quan niệm về văn chương một cách thấu đáo, sự tương thông linh cảm, ngòi bút tinh tế, sắc sảo của người phê bình nên anh đã có một cái nhìn và đánh giá hài hòa, vừa phải. Anh không quá khắt khe, không dùng phê bình như “ngọn roi” mà luôn có sự nâng niu trân trọng, ghi nhận những điểm mạnh của từng tác giả để tạo động lực cho họ tiếp tục trên con đường sáng tạo nghệ thuật. Bởi hơn ai hết, Lê Xuân hiểu được nỗi nhọc nhằn, vất vả, chông chênh của người “phu chữ”. Anh cho rằng: “Văn chương là sự ký thác cuộc đời của mỗi tác giả cho đam mê phát sáng và bùng cháy, đem thông điệp cho con người và cuộc sống theo một cảm quan thẩm mỹ. Nhà văn cần nhận ra một điều là ta đang tồn tại trong một hiện thực phức tạp, đa diện, đa chiều để từ đó sáng tạo không ngừng cho tác phẩm có độ “bắt sáng” hiện thực cụ thể. Và tâm hồn phải là một “ăng ten” nhạy cảm, có “đường dẫn” của lý trí sáng suốt”.
Lời đồng vọng 2 với nhiều phát hiện mới mẻ, nhiều đúc kết giá trị được nhà phê bình Lê Xuân dày công nghiên cứu, cảm nghiệm. Vì thế, tôi cho rằng đây là tập tư liệu quý cho người nghiên cứu, học tập, tìm hiểu về văn chương, nhất là những nghiên cứu có liên quan đến văn chương vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
N.V.H