TIN TỨC

“Ngày Xanh” trong thơ Hồ Thế Hà hay là thơ của một thời hoa mộng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-07-31 14:40:57
mail facebook google pos stwis
2045 lượt xem

TS. HOÀNG THU THỦY

Tôi may mắn quen biết (1986) và thỉnh thoảng cùng ngồi Hội đồng Khoa học với PGS.TS. Hồ Thế Hà (từ năm 2002 đến nay); và cũng thật may mắn được anh tặng cho hầu hết những cuốn sách anh đã xuất bản. Tôi chưa dám viết về bất kì cuốn sách nào của anh, bởi trong anh, có nhiều nhà trong một nhà - Nhà khoa học, Nhà lý luận phê bình, Nhà văn, Nhà báo…

Ở vị trí nào, anh cũng có những đóng góp và nhận nhiều giải thưởng các cấp. Lần này, nhận tập thơ Ngày xanh anh tặng, tôi như gặp lại một thời hoa mộng của thanh xuân. Có thể gọi tên nhà thơ bằng định danh: Hồ Thế Hà - nhà thơ của thời hoa mộng - thơ của tháng ngày đẹp nhất trong cuộc đời. Anh đã có một hành trình thơ dày dặn với 9 tập thơ xuất bản từ năm 1990 đến nay: Khoảnh khắc (1990), Nghìn trùng (1991), Xác thu (1996), Thuyền trăng (2013), Tơ sương (2015), Xem mơ (2016), Nến tình (2021), Thẳm xa (2024), Ngày xanh (2025).

Vừa bước vào năm thứ hai ở trường Đại học, anh lên đường nhập ngũ theo lệnh Tổng động viên (1978), làm nhiệm vụ chiến đấu. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ giúp bạn, anh về lại trường cũ tiếp tục nghiệp bút nghiên (1981-1985). Đấy là quãng thời gian có nhiều dấu ấn của tuổi trẻ. Từ thanh xuân cho đến tuổi hoa niên, anh đã gắn bó với Huế bởi duyên tình và sự nghiệp. Anh mang theo tấm căn cước quê hương Bình Định - nơi lưu giữ biết bao trầm tích văn hóa, hòa quyện cùng văn hóa Huế để làm nên một cốt cách và giọng điệu thơ riêng mang tên Hồ Thế Hà: “Không phải thu vàng/ Cũng không mùa phượng cháy/ Ký ức nào thăm thẳm/ Gọi tôi về/ Huế mùa đông tóc xõa/ Phố cho dài mưa bay/ Dãy xà cừ trầm tư/ Hoàng hậu mùa không hoa/ Màu tím nhớ tan vào mây lữ thứ/ Tiếng đàn tranh đồng vọng phía sông mờ/ Cũng không phải vầng trăng/ Không cỏ vàng kỷ niệm/ Không bóng si rủ dáng rèm mơ/ Mùa đông buốt/ Nhói một vùng tâm tưởng/ Dư âm giờ xao xác phía hư vô/ Huế gọi tôi về/ Sông Hương chảy trong mưa chiều thao thiết/ Con thuyền reo vỗ nhịp bến hoang sơ” (Huế gọi tôi về - 1984). Điệp từ “không” lặp đi lặp lại trong cả bài thơ nhoi nhói trong ta một nỗi buồn về cái cảm giác “cô đơn”, cô đơn không phải vì đơn chiếc mà vì trong thời điểm trưởng thành con người ta có nhiều phân vân, cho dù “không” - không thu vàng, không cỏ vàng kỉ niệm, nhưng từ trong thẳm sâu một sợi dây vô hình níu kéo, mời gọi, buộc chân người lữ thứ, đó cũng là nghệ thuật dùng “không” nói “” - có Huế mùa đông, Huế mùa hoa, Huế dòng Hương - “Huế gọi tôi về”. Không biết bước chân của thi nhân đã bao lần in dấu trên mỗi vỉa hè, mỗi hàng cây, mỗi con đường trên thành phố Huế mà mỗi thi ảnh trong bài thơ như gợi, như tả, như kể, như tự tình, như là hiển hiện… chỉ thế thôi mà xôn xao bao nhớ mong, bao kỉ niệm và bài thơ như là vẫy gọi.  

“Những bài thơ trong Ngày xanh chủ yếu là thơ tình yêu thơ mộng và lãng mạn thời sinh viên, vừa cụ thể, vừa xa vời, vừa mê đắm, vừa dại ngộ” (Lối vào Ngày xanh, tr.7 - Hồ Thế Hà). Tác giả đã khai mở trong lời mở đầu tập thơ như thế, giúp độc giả có định hướng trong quá trình tiếp nhận tác phẩm. Mỗi bài thơ đều ghi lại thời gian sáng tác, đây có thể xem là “nhật ký thơ” trong hành trình sáng tạo của thi nhân:

Em ơi rượu chỉ một bầu

Thơ thì một túi, nỗi sầu một bao

Tình yêu một biển sóng trào

Nụ hôn đợi một nụ trao nồng nàn

Đời buồn một kiếp lang thang

Em đi một chuyến đò ngang muộn về

Đợi em tàn một cơn mê

Tỉnh ra mới biết mình mê một mình

Bao giờ trọn một cuộc tình

Cho tôi thôi hết lênh đênh một đời

Gọi em một tiếng giữa trời

Vầng trăng thì vẫn lẻ loi một vầng

Bao giờ tôi thôi một thân

Để thôi nuối tiếc một lần yêu em?

 (Một - 1984)

Bài thơ lục bát mở đầu tập thơ đã bộc lộ nỗi cô đơn của cái tôi thi nhân - cái tôi cô đơn của tuổi trẻ nhiều mộng mơ, khao khát; nỗi cô đơn này không riêng gì tác giả mà biết bao tuổi trẻ cùng thời với anh, tôi cũng thấy có mình trong đó. Sự cô đơn cũng có vai trò quan trọng trong quá trình sáng tạo. Nếu chưa từng cô đơn, chưa từng tiếc nuối, chưa từng phân vân, chưa từng khao khát thì chàng thi sĩ Hồ Thế Hà ở độ tuổi thanh xuân không thể có tâm lý sáng tạo kiểu như “Ta là một, là Riêng, là Thứ nhất” (Xuân Diệu) ở trong bài thơ Một. Cái tôi trữ tình phân thân và thức tỉnh, nói như PGS.TS Đỗ Lai Thúy, đó là “Hành trình tìm lại bản thể, cái bản lai diện mục ấy, của Hồ Thế Hà là một “con đường đau khổ” (Hồ - Thế - Hà - Thơ, Đỗ Lai Thúy - https://vannghebinhdinh.vn/ho-the-ha-tho/).

Có phải nhờ “con đường đau khổ” mới có thơ, hay thơ là cách giãi bày về “nỗi khổ”? Mà văn chương có khổ mới hay, nhà văn có “đau” ở đâu đó thì viết mới hay. Với nhà thơ Hồ Thế Hà thì anh đã đi qua một hành trình nghệ thuật và sáng tạo để tìm thấy Một, và con đường anh đi chắc chắn là có nhiều trăn trở, suy tư, nhuốm màu đau khổ:

Nỗi đợi chờ mang chính mình đi hoang

Là tôi tìm em đẫm sương khuya Hà Nội

Có cách chi để thôi khát một mình

Điều bí mật đã thành giông bã

 (Phân thân, 1985)

Với bài thơ Mắc nợ, nhà thơ cảm nhận sự xa cách không phải bởi không gian mà tự trong cảm nhận đã nhận ra sự ly biệt. Thi ảnh trong bài thơ rất đẹp, gợi nhớ những địa danh, những nét riêng của Thủ đô yêu dấu. Hà Nội phố trong anh thấm đẫm một tình yêu. Mỗi khổ thơ là một tứ thơ đẹp, cả bài thơ là một chỉnh thể nghệ thuật hài hòa, chặt chẽ, nên dẫu có “bơ vơ, lỡ làng” thì đó cũng là một nỗi buồn đã thăng hoa nghệ thuật:

Rồi sẽ một ngày Hà Nội ơi, day dứt

Em đã xa, tôi đã dại khờ

Tôi lỡ đánh rơi vầng trăng vào đáy nước

Để bây giờ mắc nợ với bơ vơ

Những cung bậc cảm xúc trong thơ tình yêu của nhà thơ Hồ Thế Hà ở tập thơ Ngày xanh thể hiện một hành trình tìm lại chính mình trong cái tôi trữ tình chân thực và anh luôn nhận nỗi cô đơn, sự tiếc nuối về phía mình, giọng thơ anh nhẹ nhàng, dịu dàng như chính trái tim luôn khát khao, rung cảm và cũng như chính cuộc đời của anh, hiền hòa, thân thương:

Có một tình yêu đầu đời tôi đem trao

Người con gái hững hờ không nhận

Nỗi buồn từ đó lên ngôi

 

Có một tình yêu tôi dâng cùng nỗi buồn

Người con gái ấy thuộc về người khác

Lá thu rơi vàng mặt đất

 

Có một tình yêu mang nỗi buồn lá thu

Tôi tặng em ngày cưới

Xác pháo hồn tôi tan tác

                     (Có một tình yêu, 1984)

Thi ảnh “lá thu, xác pháo” như lời từ biệt mối tình đầu, mối tình đơn phương, mối tình vô vọng… em “hững hờ”, tôi đa tình; cứ thế mà đau, mà buồn, nỗi buồn của tình yêu đầu đời dẫu có vô vọng thì vẫn đẹp bởi giọng thơ nhẹ nhàng, tứ thơ dìu dặt, cảm nhận như sợi tơ lòng đang ngân lên những nốt nhạc nhớ thương và tiếc nuối: “Thế rồi tôi cứ lặng im/ Và rồi em cũng lặng im. Thế rồi/ Tôi về ép trái tim tôi/ Nhỏ thành giọt nhớ trọn đời yêu em” (Thế rồi).

Những rung cảm đầu đời của trái tim đa cảm khi đã thành thơ thì mối tình không chỉ đẹp bởi trái tim của người đang yêu mà còn đẹp bởi sự đồng cảm của những độc giả cùng chung tâm trạng hay cùng chung nỗi buồn giống anh. Văn học không chỉ bộc lộ ở bề rộng của những kiến thức về đời sống mà chủ yếu và quan trọng hơn là ở chiều sâu của những khám phá thẩm mĩ về con người: “Đôi mắt em gieo cái nhìn trìu mến/ Chạm vào tim tôi nhói những cơn đau/ Cũng đôi mắt em bao dung, nồng ấm/ Mơ ước nào tôi đợi đã từ lâu”. Bởi vì: Có một tình yêu mỏng manh như cỏ/ Có nỗi niềm chẳng thể nói thành câu/ Rồi sẽ chết những cái nhìn đa cảm/ Rồi sẽ tan những nụ hôn đầu”. Để cuối cùng, cả hai đều nhận về mình những trầm tư, nhớ nhung và mơ mộng:

Rồi sẽ có một người con gái nhớ

Một chàng trai mơ mộng, trầm tư

Chiều sẽ xuống, nắng vàng rồi sẽ tắt

Vô tư ơi! Cho tôi được giã từ

 (Rồi sẽ - 1983)  

Ngày xanh không chỉ trữ tình và lãng mạn với đề tài muôn thuở - tình yêu - tình yêu đẹp mà buồn bởi cái tôi trữ tình càng yêu càng nhận ra nỗi cô đơn trong hành trình tìm lại chính mình; mà tập thơ còn bộc lộ cái tôi trữ tình trong “những ngày tháng thanh xuân gian khổ và đẹp nhất trong cuộc đời sinh viên của tôi” (sđd, tr.5)  

Bao năm rồi cứ thế bình yên

Dãy nhà con trai, dãy nhà con gái

Chỉ cách nhau một sắc bàng khó nói

Nên bên này, bên ấy chẳng tìm nhau

(Màu xanh ô cửa)

Kí ức một thời được khơi gợi trong cái nhìn thao thiết của nhà thơ về ô cửa màu xanh - nơi ấy có cái vô tư, hồn nhiên, cái dịu dàng, thơ ngây, cái rụt rè hồi hộp, cái đắm say của tuổi trẻ. Nơi ấy là cả một bầu trời “sinh viên” của bất cứ ai từng bước chân vào đại học - vào ở ký túc xá của nhà trường. Tất cả đã trở thành nỗi nhớ khi chia xa: “Sẽ rất nhớ dáng người con gái ấy/ Dịu dàng ơi, đôi mắt cứ lặng buồn/ Đêm chia tay bao điều không thể nói/ Mai em về kỉ niệm mù sương”. Những vần thơ thời sinh viên ấy là hành trang, là kí ức của biết bao thế hệ; nhớ thương và kỉ niệm sẽ theo ta trong suốt cuộc đời. “Em” là nguyên cớ, là điểm tựa, là khát vọng tình yêu trong mỗi con người:

Em đã sống hồn nhiên cùng với Huế

Trái tim ơi! Em chẳng hiểu em đâu

Vô tư ơi! Sao vô tư đến vậy

Thời sinh viên thành kỉ niệm rồi

 (Sẽ rất nhớ - 1984)

Ngày ra trường biết bao kỉ niệm, biết bao quyến luyến, biết bao hoài niệm, biết bao nuối tiếc: “Có cách chi để mà đừng xa cách/ Bạn bè ơi! Hoa phượng đỏ dường kia/ Tôi đã nghe một cô áo trắng/ Hát bài ca tạm biệt để chia lìa”. Để rồi còn lại một rung cảm lặng thầm, hồi hộp thời hoa đỏ mộng mơ:

Rung cảm lắm nhưng nào đâu dám nói

Để phập phồng, hồi hộp trái tim ai

 (Bài thơ chia tay)

Những vần thơ vấn vít, đan cài, tất cả như trôi chảy trong tiềm thức, kí ức và nỗi nhớ. Đó là toàn bộ nỗi niềm yêu thương, rung cảm làm nên thi pháp Ngày xanh của Hồ Thế Hà.

***

Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi. Người thơ Hồ Thế Hà đã bộc lộ tình cảm mãnh liệt, tình yêu nồng cháy trong thơ từ những ngày ngồi trên giảng đường Đại học và rồi bốn mươi năm sau, Ngày xanh đã lưu giữ thời kì thanh xuân rực rỡ và tràn đầy sức sống của trái tim nhiệt huyết và hoài bão với những kỉ niệm không thể phai mờ trong tâm hồn dạt dào thi cảm Hồ Thế Hà:

Hãy nhẹ nhàng, đừng làm trăng lay động

Để dòng Hương thức suốt đêm nay

Từng đi khắp đất trời, từng chong mắt nhớ

Tôi gặp lại hồn mình qua màu Huế mê say

 (Màu Huế)

Huế, ngày mưa tháng 6/2025

H . T . T   

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm