TIN TỨC

“Ngày Xanh” trong thơ Hồ Thế Hà hay là thơ của một thời hoa mộng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-07-31 14:40:57
mail facebook google pos stwis
1763 lượt xem

TS. HOÀNG THU THỦY

Tôi may mắn quen biết (1986) và thỉnh thoảng cùng ngồi Hội đồng Khoa học với PGS.TS. Hồ Thế Hà (từ năm 2002 đến nay); và cũng thật may mắn được anh tặng cho hầu hết những cuốn sách anh đã xuất bản. Tôi chưa dám viết về bất kì cuốn sách nào của anh, bởi trong anh, có nhiều nhà trong một nhà - Nhà khoa học, Nhà lý luận phê bình, Nhà văn, Nhà báo…

Ở vị trí nào, anh cũng có những đóng góp và nhận nhiều giải thưởng các cấp. Lần này, nhận tập thơ Ngày xanh anh tặng, tôi như gặp lại một thời hoa mộng của thanh xuân. Có thể gọi tên nhà thơ bằng định danh: Hồ Thế Hà - nhà thơ của thời hoa mộng - thơ của tháng ngày đẹp nhất trong cuộc đời. Anh đã có một hành trình thơ dày dặn với 9 tập thơ xuất bản từ năm 1990 đến nay: Khoảnh khắc (1990), Nghìn trùng (1991), Xác thu (1996), Thuyền trăng (2013), Tơ sương (2015), Xem mơ (2016), Nến tình (2021), Thẳm xa (2024), Ngày xanh (2025).

Vừa bước vào năm thứ hai ở trường Đại học, anh lên đường nhập ngũ theo lệnh Tổng động viên (1978), làm nhiệm vụ chiến đấu. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ giúp bạn, anh về lại trường cũ tiếp tục nghiệp bút nghiên (1981-1985). Đấy là quãng thời gian có nhiều dấu ấn của tuổi trẻ. Từ thanh xuân cho đến tuổi hoa niên, anh đã gắn bó với Huế bởi duyên tình và sự nghiệp. Anh mang theo tấm căn cước quê hương Bình Định - nơi lưu giữ biết bao trầm tích văn hóa, hòa quyện cùng văn hóa Huế để làm nên một cốt cách và giọng điệu thơ riêng mang tên Hồ Thế Hà: “Không phải thu vàng/ Cũng không mùa phượng cháy/ Ký ức nào thăm thẳm/ Gọi tôi về/ Huế mùa đông tóc xõa/ Phố cho dài mưa bay/ Dãy xà cừ trầm tư/ Hoàng hậu mùa không hoa/ Màu tím nhớ tan vào mây lữ thứ/ Tiếng đàn tranh đồng vọng phía sông mờ/ Cũng không phải vầng trăng/ Không cỏ vàng kỷ niệm/ Không bóng si rủ dáng rèm mơ/ Mùa đông buốt/ Nhói một vùng tâm tưởng/ Dư âm giờ xao xác phía hư vô/ Huế gọi tôi về/ Sông Hương chảy trong mưa chiều thao thiết/ Con thuyền reo vỗ nhịp bến hoang sơ” (Huế gọi tôi về - 1984). Điệp từ “không” lặp đi lặp lại trong cả bài thơ nhoi nhói trong ta một nỗi buồn về cái cảm giác “cô đơn”, cô đơn không phải vì đơn chiếc mà vì trong thời điểm trưởng thành con người ta có nhiều phân vân, cho dù “không” - không thu vàng, không cỏ vàng kỉ niệm, nhưng từ trong thẳm sâu một sợi dây vô hình níu kéo, mời gọi, buộc chân người lữ thứ, đó cũng là nghệ thuật dùng “không” nói “” - có Huế mùa đông, Huế mùa hoa, Huế dòng Hương - “Huế gọi tôi về”. Không biết bước chân của thi nhân đã bao lần in dấu trên mỗi vỉa hè, mỗi hàng cây, mỗi con đường trên thành phố Huế mà mỗi thi ảnh trong bài thơ như gợi, như tả, như kể, như tự tình, như là hiển hiện… chỉ thế thôi mà xôn xao bao nhớ mong, bao kỉ niệm và bài thơ như là vẫy gọi.  

“Những bài thơ trong Ngày xanh chủ yếu là thơ tình yêu thơ mộng và lãng mạn thời sinh viên, vừa cụ thể, vừa xa vời, vừa mê đắm, vừa dại ngộ” (Lối vào Ngày xanh, tr.7 - Hồ Thế Hà). Tác giả đã khai mở trong lời mở đầu tập thơ như thế, giúp độc giả có định hướng trong quá trình tiếp nhận tác phẩm. Mỗi bài thơ đều ghi lại thời gian sáng tác, đây có thể xem là “nhật ký thơ” trong hành trình sáng tạo của thi nhân:

Em ơi rượu chỉ một bầu

Thơ thì một túi, nỗi sầu một bao

Tình yêu một biển sóng trào

Nụ hôn đợi một nụ trao nồng nàn

Đời buồn một kiếp lang thang

Em đi một chuyến đò ngang muộn về

Đợi em tàn một cơn mê

Tỉnh ra mới biết mình mê một mình

Bao giờ trọn một cuộc tình

Cho tôi thôi hết lênh đênh một đời

Gọi em một tiếng giữa trời

Vầng trăng thì vẫn lẻ loi một vầng

Bao giờ tôi thôi một thân

Để thôi nuối tiếc một lần yêu em?

 (Một - 1984)

Bài thơ lục bát mở đầu tập thơ đã bộc lộ nỗi cô đơn của cái tôi thi nhân - cái tôi cô đơn của tuổi trẻ nhiều mộng mơ, khao khát; nỗi cô đơn này không riêng gì tác giả mà biết bao tuổi trẻ cùng thời với anh, tôi cũng thấy có mình trong đó. Sự cô đơn cũng có vai trò quan trọng trong quá trình sáng tạo. Nếu chưa từng cô đơn, chưa từng tiếc nuối, chưa từng phân vân, chưa từng khao khát thì chàng thi sĩ Hồ Thế Hà ở độ tuổi thanh xuân không thể có tâm lý sáng tạo kiểu như “Ta là một, là Riêng, là Thứ nhất” (Xuân Diệu) ở trong bài thơ Một. Cái tôi trữ tình phân thân và thức tỉnh, nói như PGS.TS Đỗ Lai Thúy, đó là “Hành trình tìm lại bản thể, cái bản lai diện mục ấy, của Hồ Thế Hà là một “con đường đau khổ” (Hồ - Thế - Hà - Thơ, Đỗ Lai Thúy - https://vannghebinhdinh.vn/ho-the-ha-tho/).

Có phải nhờ “con đường đau khổ” mới có thơ, hay thơ là cách giãi bày về “nỗi khổ”? Mà văn chương có khổ mới hay, nhà văn có “đau” ở đâu đó thì viết mới hay. Với nhà thơ Hồ Thế Hà thì anh đã đi qua một hành trình nghệ thuật và sáng tạo để tìm thấy Một, và con đường anh đi chắc chắn là có nhiều trăn trở, suy tư, nhuốm màu đau khổ:

Nỗi đợi chờ mang chính mình đi hoang

Là tôi tìm em đẫm sương khuya Hà Nội

Có cách chi để thôi khát một mình

Điều bí mật đã thành giông bã

 (Phân thân, 1985)

Với bài thơ Mắc nợ, nhà thơ cảm nhận sự xa cách không phải bởi không gian mà tự trong cảm nhận đã nhận ra sự ly biệt. Thi ảnh trong bài thơ rất đẹp, gợi nhớ những địa danh, những nét riêng của Thủ đô yêu dấu. Hà Nội phố trong anh thấm đẫm một tình yêu. Mỗi khổ thơ là một tứ thơ đẹp, cả bài thơ là một chỉnh thể nghệ thuật hài hòa, chặt chẽ, nên dẫu có “bơ vơ, lỡ làng” thì đó cũng là một nỗi buồn đã thăng hoa nghệ thuật:

Rồi sẽ một ngày Hà Nội ơi, day dứt

Em đã xa, tôi đã dại khờ

Tôi lỡ đánh rơi vầng trăng vào đáy nước

Để bây giờ mắc nợ với bơ vơ

Những cung bậc cảm xúc trong thơ tình yêu của nhà thơ Hồ Thế Hà ở tập thơ Ngày xanh thể hiện một hành trình tìm lại chính mình trong cái tôi trữ tình chân thực và anh luôn nhận nỗi cô đơn, sự tiếc nuối về phía mình, giọng thơ anh nhẹ nhàng, dịu dàng như chính trái tim luôn khát khao, rung cảm và cũng như chính cuộc đời của anh, hiền hòa, thân thương:

Có một tình yêu đầu đời tôi đem trao

Người con gái hững hờ không nhận

Nỗi buồn từ đó lên ngôi

 

Có một tình yêu tôi dâng cùng nỗi buồn

Người con gái ấy thuộc về người khác

Lá thu rơi vàng mặt đất

 

Có một tình yêu mang nỗi buồn lá thu

Tôi tặng em ngày cưới

Xác pháo hồn tôi tan tác

                     (Có một tình yêu, 1984)

Thi ảnh “lá thu, xác pháo” như lời từ biệt mối tình đầu, mối tình đơn phương, mối tình vô vọng… em “hững hờ”, tôi đa tình; cứ thế mà đau, mà buồn, nỗi buồn của tình yêu đầu đời dẫu có vô vọng thì vẫn đẹp bởi giọng thơ nhẹ nhàng, tứ thơ dìu dặt, cảm nhận như sợi tơ lòng đang ngân lên những nốt nhạc nhớ thương và tiếc nuối: “Thế rồi tôi cứ lặng im/ Và rồi em cũng lặng im. Thế rồi/ Tôi về ép trái tim tôi/ Nhỏ thành giọt nhớ trọn đời yêu em” (Thế rồi).

Những rung cảm đầu đời của trái tim đa cảm khi đã thành thơ thì mối tình không chỉ đẹp bởi trái tim của người đang yêu mà còn đẹp bởi sự đồng cảm của những độc giả cùng chung tâm trạng hay cùng chung nỗi buồn giống anh. Văn học không chỉ bộc lộ ở bề rộng của những kiến thức về đời sống mà chủ yếu và quan trọng hơn là ở chiều sâu của những khám phá thẩm mĩ về con người: “Đôi mắt em gieo cái nhìn trìu mến/ Chạm vào tim tôi nhói những cơn đau/ Cũng đôi mắt em bao dung, nồng ấm/ Mơ ước nào tôi đợi đã từ lâu”. Bởi vì: Có một tình yêu mỏng manh như cỏ/ Có nỗi niềm chẳng thể nói thành câu/ Rồi sẽ chết những cái nhìn đa cảm/ Rồi sẽ tan những nụ hôn đầu”. Để cuối cùng, cả hai đều nhận về mình những trầm tư, nhớ nhung và mơ mộng:

Rồi sẽ có một người con gái nhớ

Một chàng trai mơ mộng, trầm tư

Chiều sẽ xuống, nắng vàng rồi sẽ tắt

Vô tư ơi! Cho tôi được giã từ

 (Rồi sẽ - 1983)  

Ngày xanh không chỉ trữ tình và lãng mạn với đề tài muôn thuở - tình yêu - tình yêu đẹp mà buồn bởi cái tôi trữ tình càng yêu càng nhận ra nỗi cô đơn trong hành trình tìm lại chính mình; mà tập thơ còn bộc lộ cái tôi trữ tình trong “những ngày tháng thanh xuân gian khổ và đẹp nhất trong cuộc đời sinh viên của tôi” (sđd, tr.5)  

Bao năm rồi cứ thế bình yên

Dãy nhà con trai, dãy nhà con gái

Chỉ cách nhau một sắc bàng khó nói

Nên bên này, bên ấy chẳng tìm nhau

(Màu xanh ô cửa)

Kí ức một thời được khơi gợi trong cái nhìn thao thiết của nhà thơ về ô cửa màu xanh - nơi ấy có cái vô tư, hồn nhiên, cái dịu dàng, thơ ngây, cái rụt rè hồi hộp, cái đắm say của tuổi trẻ. Nơi ấy là cả một bầu trời “sinh viên” của bất cứ ai từng bước chân vào đại học - vào ở ký túc xá của nhà trường. Tất cả đã trở thành nỗi nhớ khi chia xa: “Sẽ rất nhớ dáng người con gái ấy/ Dịu dàng ơi, đôi mắt cứ lặng buồn/ Đêm chia tay bao điều không thể nói/ Mai em về kỉ niệm mù sương”. Những vần thơ thời sinh viên ấy là hành trang, là kí ức của biết bao thế hệ; nhớ thương và kỉ niệm sẽ theo ta trong suốt cuộc đời. “Em” là nguyên cớ, là điểm tựa, là khát vọng tình yêu trong mỗi con người:

Em đã sống hồn nhiên cùng với Huế

Trái tim ơi! Em chẳng hiểu em đâu

Vô tư ơi! Sao vô tư đến vậy

Thời sinh viên thành kỉ niệm rồi

 (Sẽ rất nhớ - 1984)

Ngày ra trường biết bao kỉ niệm, biết bao quyến luyến, biết bao hoài niệm, biết bao nuối tiếc: “Có cách chi để mà đừng xa cách/ Bạn bè ơi! Hoa phượng đỏ dường kia/ Tôi đã nghe một cô áo trắng/ Hát bài ca tạm biệt để chia lìa”. Để rồi còn lại một rung cảm lặng thầm, hồi hộp thời hoa đỏ mộng mơ:

Rung cảm lắm nhưng nào đâu dám nói

Để phập phồng, hồi hộp trái tim ai

 (Bài thơ chia tay)

Những vần thơ vấn vít, đan cài, tất cả như trôi chảy trong tiềm thức, kí ức và nỗi nhớ. Đó là toàn bộ nỗi niềm yêu thương, rung cảm làm nên thi pháp Ngày xanh của Hồ Thế Hà.

***

Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi. Người thơ Hồ Thế Hà đã bộc lộ tình cảm mãnh liệt, tình yêu nồng cháy trong thơ từ những ngày ngồi trên giảng đường Đại học và rồi bốn mươi năm sau, Ngày xanh đã lưu giữ thời kì thanh xuân rực rỡ và tràn đầy sức sống của trái tim nhiệt huyết và hoài bão với những kỉ niệm không thể phai mờ trong tâm hồn dạt dào thi cảm Hồ Thế Hà:

Hãy nhẹ nhàng, đừng làm trăng lay động

Để dòng Hương thức suốt đêm nay

Từng đi khắp đất trời, từng chong mắt nhớ

Tôi gặp lại hồn mình qua màu Huế mê say

 (Màu Huế)

Huế, ngày mưa tháng 6/2025

H . T . T   

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm