TIN TỨC

Hốc Chọ của Bùi Sỹ Hoa – Bay lên từ nặng đằm chân chất

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-11-05 10:31:45
mail facebook google pos stwis
1641 lượt xem

THẠCH LỰU

Hốc chọ của Bùi Sỹ Hoa là trường ca hiện đại, đi trên đường biên tự sự - trữ tình hội tụ cảm thức, tinh thần thời đại. Nhưng không hiểu sao, đọc Hốc chọ, tôi thấy mình như được sống trong bầu không khí sử thi, với những câu chuyện kể nối dài hàng đêm bên bếp lửa. Nói chuyện đất, chuyện người của một miền quê cụ thể (xứ Nghệ), Bùi Sỹ Hoa đã thành công mở rộng không gian, thời gian, cuốn người đọc vào trường ca gồm 9 khúc rời, vừa độc lập vừa liền mạch, chữ nối chữ, tình cuộn tình như sông, bay lên từ chân chất nặng đằm quê xứ.


Nhà thơ Bùi Sỹ Hoa và bìa Trường ca "Hốc chọ"

Khởi nguyên của trường ca là trường ca anh hùng, sử thi cổ đại với nội dung kể về những vấn đề lớn của cộng đồng, trạng huống xung đột cao nhất là chiến tranh, nhân vật trung tâm là người anh hùng đại diện cho phẩm chất tốt đẹp của cộng đồng. Khi cộng đồng đối mặt với vấn đề sống còn, cảm hứng sử thi thường trở lại, xuất hiện những bài thơ dài hơi mang cảm hứng ngợi ca, đủ sức dung chứa và khái quát hiện thực rộng lớn, suy tư về lịch sử. Trường ca hiện đại mang màu sắc mới, gia tăng tính chất trữ tình cá nhân, nhưng vẫn hướng đến khái quát những vấn đề lớn của lịch sử - dân tộc. Xét về phương diện này, phạm vi bao quát của Hốc chọ khá hẹp khi gắn với một địa phương cụ thể, cũng không xuất hiện người anh hùng của cộng đồng, dù có nhắc đến những nhân vật văn hóa (công chúa La Bình, Uy Minh Vương), câu chuyện kể gắn với con người nhỏ bé ông tôi, bà tôi… Nhưng chính điều này làm nên vẻ đẹp độc đáo của Hốc chọ, tác giả chỉ kể những chuyện đời thường nhưng đưa được người đọc vào không khí sử thi cổ xưa.

Bùi Sỹ Hoa dẫn dắt người đọc vào không khí của thiên trường ca khởi từ đêm, ông tôi. Thử đảo vị trí của các khúc ca, chẳng hạn khúc V, bắt đầu bằng Tôi là cá gỗ, lên đầu tiên, không khí sử thi sẽ mất đi nhiều. Đêm là không – thời gian của những câu chuyện kể xa xưa, với ánh lửa thiêng kết nối linh hồn cộng đồng – linh hồn vũ trụ, với sự hiện diện của người già mang tính chất nối kết thế hệ quá khứ - hiện tại. Đoạn I mở ra đêm, đoạn II nhắc về bếp lửa: Bếp lửa mơ quần tụ vai kề vai đượm/ Tiếng tiếng người xưa bập bùng bập bùng đâu đây quanh đây. Từ đêm, ông tôi, thiên trường ca kể về nhỏ bé đói nghèo đất và người mà khiến người đọc như thể sống trong không khí anh hùng, dù chẳng xuất hiện người anh hùng nào. Trong sử thi, thường nhân vật như ông tôi sẽ đóng vai trò người kể chuyện, kể về một người anh hùng của cộng đồng, còn trong Hốc chọ, ông tôi lặng im, nhưng sự hiện diện không lời của ông lại mang màu sắc anh hùng.

Mở đầu trường ca: Đêm đầy sao/ Tiếng vạc nhạt vào khuya loãng/ Ông tôi ngồi xa xăm/ Bóng xiên liếp nhà húng hắng/ Chắt cạn ấm chè xanh/ Hớp cuối cùng ực nghẹn/ Thơm ngọt đầy tràn, đắng chát chưa trôi. Chỉ vậy thôi, ông ngồi uống trà khuya, ho húng hắng, bóng ông lồng vào đêm sao, vẳng tiếng vạc, mang xa xăm trong dáng ngồi yên lặng. Đêm luân phiên đối lập với mai, mai trong tất cả sự khắc nghiệt, bóc tách từng lớp tột cùng khốn khó đất đai, vạn vật, Đêm sao tốt tươi thì Mai nắng hun, gió rang/ Mai sá đất quằn vỏ đỗ/ Trâu gác sừng nằm thở/ Phì phò giấc vũng đằm, Đêm sao rơi rơiMai cháy lựng đôi vai/ Mai tõe chân dốc đứng, Đêm ngàn sao, ngàn sao nhưng Đại ngàn kiệt sức/ Sông suối kiệt sức chảy/ Lá cành kiệt sức xanh/ Rễ siêng kiệt sức rỉ giọt… Bùi Sỹ Hoa nói về sự kiệt sức của vạn vật, dù là sông suối, đại ngàn làm nền, để từ đó người đọc tự hình dung ra sự kiệt sức của người. Vạn vật đã thế, người sống thế nào? Nhà thơ sẽ cho câu trả lời sau đó: Người cấy cày kiệt sức gồng gánh giấc mơ.

Câu thơ như đòn gánh chông chênh thể hiện bản lĩnh nhà thơ, bản lĩnh người, nửa này cấy cày kiệt sức, nửa kia gồng gánh giấc mơ. Đêm đầy sao là dự báo, biểu tượng của giấc mơ nối tiếp. Đoạn sau triển khai gian nan gieo trồng những giấc mơ người, từ cụ thể, thiết thân đến vượt thoát: Giấc mơ gieo trồng dày nhánh sây bông/ Giấc mơ khai khẩn hốc chọ bòn mót/…/ Giấc mơ làm người lương thiện/ Giấc mơ làm thông reo xanh giữa trời… Nhà thơ quay lại với đêm sao: Đêm chi chít những chòm sao mơ/ Cháy kiệt cạn, lại thắp bừng đuốc sáng. Mạch thơ xô nhau chảy, cuộn xoáy, có triển có phục, bộn bề mà nhất quán tài hoa. Giữa đêm mơ và mai thực, vũ trụ mênh mông, một dáng ông ngồi yên lặng để rồi hành động: Ông tôi thở dài nằng nặng/ Rồi vươn tay lấy nước – mát/ mềm/ Rồi vươn vai lấy đá – nóng/ rắn/ Mài dao/ Mài đêm/ Tiếng mài ngọt xớt/ Đêm thâu.

Khép lại khúc I là hành động mài, lặp lại, vô hạn trong không gian, thời gian, ông tôi cũng biến mất, cũng biến mất cụ thể một con người để hình dung ra cộng đồng: Đêm đá mài kiên gan/ Đêm trăng tà hõm vẹt/ Đêm đêm mài sắc. Hành động của ông được kể lại cụ thể, tiết chế mà có sức mạnh như chạm khắc: vươn tay, vươn vai… từ mài cái hữu hình sang mài cái vô hình: mài dao, mài đêm, phải kiên gan thế nào mới khiến đêm trăng tà hõm vẹt. Một cách tự nhiên, người đọc liên tưởng đến cái vươn vai Thánh Gióng, cách bao phen mang gươm báu ra mài dưới trăng, hay mài cả ánh trăng Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma của Đặng Dung… tất cả hội tụ trong dáng mài dao của ông tôi. Nếu sử thi kể về những chiến công anh hùng, những người anh hùng, thì những người bình thường như ông tôi, trong cuộc chiến không tính bằng ngày, bằng tháng, bằng năm, mà vô tận, ngày ngày, đêm đêm, với sự khắc nghiệt không thôi của đời sống, có thể gọi họ là anh hùng chăng?

Trong cả 9 đoạn của trường ca, Bùi Sỹ Hoa đã dẫn dắt người đọc đi từ mảnh ghép này sang mảnh ghép kia của mơ và thực, câu chuyện về nhà tôi, bà tôi, địa danh cụ thể… đặt câu chuyện về tôi ở khúc V – chính giữa – như tình cờ mà có chủ tâm. Từ tôi câu chuyện được viết tiếp, nhưng thật ra tôi không còn là một con người cá nhân – cụ thể trong phép đồng nhất: tôi là cá gỗ, đồng nhất người – vật, trong sự lăn lóc, chấp nhận nhưng không hề cam chịu, đời cá – đời người vì vậy lại tiếp tục là số phận – tính cách chung của một miền đất, và rộng ra, thấp thoáng bóng dáng một dân tộc: Tôi là cá gỗ/ Từ đẽo gọt mà nên/ Từ thẹo thừa bỏ đi mà có/ Tôi phù sa sục bùn mơ cá lúa đằm vai/ Tôi giọt đèn mơ thắp sáng trời sao. Đêm khởi đầu huyền thoại, xuyên suốt hiện thực ngày, thắp giấc mơ sao, trường ca Hốc chọ của Bùi Sỹ Hoa không hề là những mảnh rời mà liên tục khai triển, nhất quán, xuyên suốt, để kết lại là cánh chim bay lên mang tính biểu tượng: Bay lên thoát kiếp người không/ Bay là sống giữa mênh mông đất lành.

Kể lại câu chuyện về con người nhỏ bé, bình thường trong cuộc chiến khắc nghiệt sinh tồn nhưng gợi lên không khí sử thi là thành công của Bùi Sỹ Hoa với Hốc chọ. Thiên trường ca cũng được kể bằng giọng điệu hùng tráng của sử thi với cách sử dụng triệt để phép lặp, phép đối, từ nối từ, câu nối câu xô nhau như sóng. Phương thức lặp tưởng dễ mà khó, nếu không chắc tay sẽ rơi vào trùng lắp, dư thừa, đơn điệu, nghèo nàn, nhưng Bùi Sỹ Hoa đã tung hứng bằng vốn ngôn ngữ dồi dào, chân chất, dân dã mà giàu sức mạnh biểu đạt, đặt đúng chỗ, tiếp nối, bổ trợ, đối lập, khiến tác phẩm rộng mở, khái quát mà vẫn cụ thể, sinh động, âm vang điệu ví dặm, lục bát đậm hồn dân tộc. Hốc chọ của Bùi Sỹ Hoa thực sự là một trường ca được viết chắc tay, đẹp chân chất mà tài hoa trong văn học Việt Nam hiện đại.

Nguồn: Thể thao & Văn hóa

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm