TIN TỨC

Nghĩa trang Trường Sơn - Mãi còn đây những linh hồn bất tử

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-11-17 21:09:26
mail facebook google pos stwis
5280 lượt xem

Tạp chí Văn nghệ TPHCM: Tại Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn trong chuyến Hành trình về nguồn “Âm vang Trường Sơn” do Ban Tuyên giáo Thành ủy TPHCM tổ chức, MC Quỳnh Hoa đã đọc 2 bài thơ xúc động, trong đó có bài “Một thoáng Nghĩa trang Trường Sơn” của nhà thơ Nguyên Hùng, một thành viên trong Đoàn, và sau đây là cảm nhận của đồng nghiệp về bài thơ này.
 


Phó Ban tuyên giáo Thành ủy Nguyễn Thọ Truyền phát biểu tại buổi lễ dâng hương

PHAN NGỌC QUANG

 MỘT THOÁNG NGHĨA TRANG TRƯỜNG SƠN

Khi ngã xuống
Các anh còn rất trẻ
Chưa một ngày vui
Chưa một mối tình...

Các anh nằm giữa núi rừng lặng lẽ
Vai kề vai trong đội ngũ điệp trùng
Các anh nằm giữa thương đau Đất Mẹ
Bao nỗi niềm bia đá cũng rưng rưng.

(Nguyên Hùng)

Cách đây vài hôm ghé vào “trạm dừng chân” Cánh buồm thao thức trên chặng cao tốc thơ văn của trang Bạn bè văn nghệ, tôi bắt gặp bài Nghĩa trang Trường Sơn. Nhìn vào “giấy khai sinh” đứa con tinh thần của Nguyên Hùng mới biết bài thơ ra đời trước ngày anh tham gia chuyến Hành trình về nguồn “Âm vang Trường Sơn” do Ban Tuyên giáo Thành ủy TPHCM tổ chức từ ngày 7/11/2022.

Tuy không có xuất xứ nhưng ai cũng nhận diện được đây chính là cảm xúc trào dâng của thi sĩ khi đứng trước hàng ngàn bia mộ ở một chiều Nghĩa trang Trường Sơn. Có biết bao bài thơ viết về nỗi thương cảm của người đang sống đối với một cả thế hệ đã ngã xuống trong thời mưa bom bão đạn để giành lấy từng tấc đất tự do hòa bình cho Tổ quốc nhưng bài thơ của Nguyên Hùng vẫn để lại những nỗi niềm sâu lắng về những con người đang nằm dưới cỏ trong giấc ngủ ngàn thu. Chỉ với 2 khổ thơ, một tác phẩm khó có thể diễn đạt được những gì mà tác giả muốn gửi gắm. Và tôi nghĩ, trong bài thơ này cũng vậy. Nhưng Nguyên Hùng đã biết đem cái lạ vào thơ mình bởi 2 khổ thơ với 2 giọng điệu riêng biệt. Không hẳn là thơ 4 chữ cũng không hoàn toàn là thơ 8 chữ vì nếu thế chẳng có chi để bàn. Tôi thích bài thơ là ở ngay kết cấu, nền tảng vẫn là truyền thống nhưng đã có phá cách trong lời nói chuyện với độc giả. “Khi ngã xuống/ Các anh còn rất trẻ”. Ở tuổi 20 các anh đã hiến dâng đời mình cho cuộc chiến tranh đầy khốc liệt và chấp nhận sự hy sinh. Câu thơ làm nên tiếng nấc trước sự thật đau lòng và tiếc nuối. Sự tiếc nuối càng được nhân lên khi có 2 câu thơ 3, 4 tiếp giãi bày: “Chưa một ngày vui/ chưa một mối tình”. Đã có lúc tôi muốn hỏi Nguyên Hùng rõ hơn câu thơ: “Chưa một ngày vui” nhưng tôi đành tự hiểu vì không muốn gợi lại nỗi đau của người đã khuất. Còn gì phũ phàng hơn mà sống trọn cuộc đời mà chưa có một ngày vui. Ngày vui đó là ngày được ngủ ngon một giấc nồng trên ruộng lúa quê hương, Ngày vui đó là ngày thấy nụ cười cha mẹ khi đất trời rợp bóng cờ sao. Đó cũng là ngày vui tràn ngập hạnh phúc của đôi uyên ương trong ngày hôn lễ và cả trong đêm đuốc hoa. Mãi mãi ngày vui đó không còn, đã đi theo các anh vĩnh viễn. Làm sao bù đắp hết sự thiệt thòi của những chàng trai trẻ tuổi đầy nhựa sống.

Có lẽ vì thương các anh hùng liệt sĩ quá nên tác giả viết tiếp câu: “Các anh nằm giữa núi rừng, lặng lẽ/ Vai kề vai trong đội ngũ điệp trùng”. Câu thơ vẽ nên bức tranh toàn cảnh Nghĩa trang Trường Sơn không thể đếm hết mộ phần giữa núi rừng heo hút dù ai chưa đặt chân tới cũng có thể hình dung được. Nhưng đó lại là những linh hồn bất tử, những cuộc đời còn sống mãi với thời gian vì họ vẫn đi trong đoàn quân trong tư thế oai nghiêm của người chiến sĩ. Mỗi nắm đất nơi đây đã hóa thành nắm thương đau và cả yêu thương của Đất Mẹ. Tổ quốc non sông hình chữ S đã làm thành chiếc nôi ru các anh giấc ngủ muôn đời.

Dù được động viên bằng những niềm an ủi của ngày hôm nay nhưng có ai khi bước chân đến đây khó cầm được dòng lệ không khóc mà vẫn tuôn trào vì thương nhớ. Không khóc sao được khi bia đá nơi đây cũng rưng rưng vì niềm xúc động mà không nói được nên lời. Tôi thích Nguyên Hùng ở những câu thơ như thế, anh không nói nhiều nhưng “ý tại ngôn ngoại” trong từng câu chữ bay ra làm bạn đọc day dứt, suy nghĩ không nguôi. Cả bài thơ không hề nói đến nén nhang nhưng đọc lên vẫn cảm nhận được hương thơm của một tấm lòng khó nói hết thành lời còn phảng phất đâu đây. Hay chăng đó là hương thơm của lòng ngưỡng vọng và sự tri ân đối với những linh hồn bất tử ở một nghĩa trang mà nơi đó không chỉ có mộ phần.

Nghĩ mình chưa thỏa hết nỗi lòng, Nguyên Hùng còn có thêm chùm 2 bài Về thăm lại chiến trường xưa. Bài 1 có nhiều cảm nhận tinh tế khi anh viết: “Tà Cơn vừa nắng đã mưa A Sầu”. Đây là một thực tế ở vùng núi Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn. Hai năm trước khi ở Đông Hà tôi tính hủy chuyến đi ngược lên đường 9 để ghé Khe sanh vì mưa trắng cả trời TP Quảng Trị, thế nhưng tôi thật sự ngỡ ngàng khi người thân báo trên này vẫn nắng chang chang. Đến nơi tôi mới thấm thía câu thơ của Tố Hữu: “Trường Sơn đông nắng, tây mưa/ Ai chưa đến đó như chưa rõ mình” mình biết cách đây gần nửa thế kỷ. Và anh bộ đội năm xưa chỉ cần đến Đakrông là đã bắt gặp được thời lửa đạn năm xưa hiện về: “Đakrông nối lại nhịp cầu/ Ngược thời lửa đạn tìm nhau những ngày...”. Khổ 2 gắn nhiều kỷ niệm với tác giả bởi những bữa cơm rừng và cả đồng đội đã hy sinh đến nay vẫn thèm một bát canh rau rừng. Dù giữa đại ngàn Trường Sơn ngọn lửa hòa bình đã được nhen lên nhưng tác giả vẫn không quên tháng ngày gian khó. Hy sinh mất mát đi qua để cho nụ cười hạnh phúc hôm nay nở mãi như đóa hoa rừng. Một lần nữa xin cảm ơn các anh và cảm ơn tác giả.
 

NSƯT Thanh Thúy, Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin, dâng hương.


Các nghệ sĩ Trần Xuân Tiến, Lê Thiện, Cẩm Thúy, Lâm Lê Dũng giao lưu với các VNS.


Ông Nguyễn Thọ Truyền thắp nến tại các phần mộ tại Nghĩa trang Trường Sơn.

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 50 (ngày 17/11/2022)

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm