TIN TỨC

Nghĩa trang Trường Sơn - Mãi còn đây những linh hồn bất tử

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-11-17 21:09:26
mail facebook google pos stwis
4709 lượt xem

Tạp chí Văn nghệ TPHCM: Tại Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn trong chuyến Hành trình về nguồn “Âm vang Trường Sơn” do Ban Tuyên giáo Thành ủy TPHCM tổ chức, MC Quỳnh Hoa đã đọc 2 bài thơ xúc động, trong đó có bài “Một thoáng Nghĩa trang Trường Sơn” của nhà thơ Nguyên Hùng, một thành viên trong Đoàn, và sau đây là cảm nhận của đồng nghiệp về bài thơ này.
 


Phó Ban tuyên giáo Thành ủy Nguyễn Thọ Truyền phát biểu tại buổi lễ dâng hương

PHAN NGỌC QUANG

 MỘT THOÁNG NGHĨA TRANG TRƯỜNG SƠN

Khi ngã xuống
Các anh còn rất trẻ
Chưa một ngày vui
Chưa một mối tình...

Các anh nằm giữa núi rừng lặng lẽ
Vai kề vai trong đội ngũ điệp trùng
Các anh nằm giữa thương đau Đất Mẹ
Bao nỗi niềm bia đá cũng rưng rưng.

(Nguyên Hùng)

Cách đây vài hôm ghé vào “trạm dừng chân” Cánh buồm thao thức trên chặng cao tốc thơ văn của trang Bạn bè văn nghệ, tôi bắt gặp bài Nghĩa trang Trường Sơn. Nhìn vào “giấy khai sinh” đứa con tinh thần của Nguyên Hùng mới biết bài thơ ra đời trước ngày anh tham gia chuyến Hành trình về nguồn “Âm vang Trường Sơn” do Ban Tuyên giáo Thành ủy TPHCM tổ chức từ ngày 7/11/2022.

Tuy không có xuất xứ nhưng ai cũng nhận diện được đây chính là cảm xúc trào dâng của thi sĩ khi đứng trước hàng ngàn bia mộ ở một chiều Nghĩa trang Trường Sơn. Có biết bao bài thơ viết về nỗi thương cảm của người đang sống đối với một cả thế hệ đã ngã xuống trong thời mưa bom bão đạn để giành lấy từng tấc đất tự do hòa bình cho Tổ quốc nhưng bài thơ của Nguyên Hùng vẫn để lại những nỗi niềm sâu lắng về những con người đang nằm dưới cỏ trong giấc ngủ ngàn thu. Chỉ với 2 khổ thơ, một tác phẩm khó có thể diễn đạt được những gì mà tác giả muốn gửi gắm. Và tôi nghĩ, trong bài thơ này cũng vậy. Nhưng Nguyên Hùng đã biết đem cái lạ vào thơ mình bởi 2 khổ thơ với 2 giọng điệu riêng biệt. Không hẳn là thơ 4 chữ cũng không hoàn toàn là thơ 8 chữ vì nếu thế chẳng có chi để bàn. Tôi thích bài thơ là ở ngay kết cấu, nền tảng vẫn là truyền thống nhưng đã có phá cách trong lời nói chuyện với độc giả. “Khi ngã xuống/ Các anh còn rất trẻ”. Ở tuổi 20 các anh đã hiến dâng đời mình cho cuộc chiến tranh đầy khốc liệt và chấp nhận sự hy sinh. Câu thơ làm nên tiếng nấc trước sự thật đau lòng và tiếc nuối. Sự tiếc nuối càng được nhân lên khi có 2 câu thơ 3, 4 tiếp giãi bày: “Chưa một ngày vui/ chưa một mối tình”. Đã có lúc tôi muốn hỏi Nguyên Hùng rõ hơn câu thơ: “Chưa một ngày vui” nhưng tôi đành tự hiểu vì không muốn gợi lại nỗi đau của người đã khuất. Còn gì phũ phàng hơn mà sống trọn cuộc đời mà chưa có một ngày vui. Ngày vui đó là ngày được ngủ ngon một giấc nồng trên ruộng lúa quê hương, Ngày vui đó là ngày thấy nụ cười cha mẹ khi đất trời rợp bóng cờ sao. Đó cũng là ngày vui tràn ngập hạnh phúc của đôi uyên ương trong ngày hôn lễ và cả trong đêm đuốc hoa. Mãi mãi ngày vui đó không còn, đã đi theo các anh vĩnh viễn. Làm sao bù đắp hết sự thiệt thòi của những chàng trai trẻ tuổi đầy nhựa sống.

Có lẽ vì thương các anh hùng liệt sĩ quá nên tác giả viết tiếp câu: “Các anh nằm giữa núi rừng, lặng lẽ/ Vai kề vai trong đội ngũ điệp trùng”. Câu thơ vẽ nên bức tranh toàn cảnh Nghĩa trang Trường Sơn không thể đếm hết mộ phần giữa núi rừng heo hút dù ai chưa đặt chân tới cũng có thể hình dung được. Nhưng đó lại là những linh hồn bất tử, những cuộc đời còn sống mãi với thời gian vì họ vẫn đi trong đoàn quân trong tư thế oai nghiêm của người chiến sĩ. Mỗi nắm đất nơi đây đã hóa thành nắm thương đau và cả yêu thương của Đất Mẹ. Tổ quốc non sông hình chữ S đã làm thành chiếc nôi ru các anh giấc ngủ muôn đời.

Dù được động viên bằng những niềm an ủi của ngày hôm nay nhưng có ai khi bước chân đến đây khó cầm được dòng lệ không khóc mà vẫn tuôn trào vì thương nhớ. Không khóc sao được khi bia đá nơi đây cũng rưng rưng vì niềm xúc động mà không nói được nên lời. Tôi thích Nguyên Hùng ở những câu thơ như thế, anh không nói nhiều nhưng “ý tại ngôn ngoại” trong từng câu chữ bay ra làm bạn đọc day dứt, suy nghĩ không nguôi. Cả bài thơ không hề nói đến nén nhang nhưng đọc lên vẫn cảm nhận được hương thơm của một tấm lòng khó nói hết thành lời còn phảng phất đâu đây. Hay chăng đó là hương thơm của lòng ngưỡng vọng và sự tri ân đối với những linh hồn bất tử ở một nghĩa trang mà nơi đó không chỉ có mộ phần.

Nghĩ mình chưa thỏa hết nỗi lòng, Nguyên Hùng còn có thêm chùm 2 bài Về thăm lại chiến trường xưa. Bài 1 có nhiều cảm nhận tinh tế khi anh viết: “Tà Cơn vừa nắng đã mưa A Sầu”. Đây là một thực tế ở vùng núi Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn. Hai năm trước khi ở Đông Hà tôi tính hủy chuyến đi ngược lên đường 9 để ghé Khe sanh vì mưa trắng cả trời TP Quảng Trị, thế nhưng tôi thật sự ngỡ ngàng khi người thân báo trên này vẫn nắng chang chang. Đến nơi tôi mới thấm thía câu thơ của Tố Hữu: “Trường Sơn đông nắng, tây mưa/ Ai chưa đến đó như chưa rõ mình” mình biết cách đây gần nửa thế kỷ. Và anh bộ đội năm xưa chỉ cần đến Đakrông là đã bắt gặp được thời lửa đạn năm xưa hiện về: “Đakrông nối lại nhịp cầu/ Ngược thời lửa đạn tìm nhau những ngày...”. Khổ 2 gắn nhiều kỷ niệm với tác giả bởi những bữa cơm rừng và cả đồng đội đã hy sinh đến nay vẫn thèm một bát canh rau rừng. Dù giữa đại ngàn Trường Sơn ngọn lửa hòa bình đã được nhen lên nhưng tác giả vẫn không quên tháng ngày gian khó. Hy sinh mất mát đi qua để cho nụ cười hạnh phúc hôm nay nở mãi như đóa hoa rừng. Một lần nữa xin cảm ơn các anh và cảm ơn tác giả.
 

NSƯT Thanh Thúy, Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin, dâng hương.


Các nghệ sĩ Trần Xuân Tiến, Lê Thiện, Cẩm Thúy, Lâm Lê Dũng giao lưu với các VNS.


Ông Nguyễn Thọ Truyền thắp nến tại các phần mộ tại Nghĩa trang Trường Sơn.

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 50 (ngày 17/11/2022)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm