TIN TỨC

Giải mã lịch sử bằng quyền năng văn học

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-20 23:44:22
mail facebook google pos stwis
2033 lượt xem

Tiểu thuyết Thiên mệnh, của nhà văn Nguyễn Trọng Tân phản ánh bối cảnh xã hội phong kiến Việt Nam thời kỳ suy vi, một bước chuyển từ thời Lê mạt sang triều Tây Sơn. Cuộc càn khôn khép mở vần vũ mang mệnh trời, ý dân diễn ra trong 15 năm (1774-1789).

Trước ông đã từng có khá nhiều tác phẩm văn học viết về thời kỳ này như: Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái; Thượng kinh ký sự của Hải Thượng Lãn Ông; Bà chúa chè của Nguyễn Triệu Luật, Đêm hội Long Trì của Nguyễn Huy Tưởng, Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác… Mỗi tác phẩm mang một cách nhìn và đều để lại những ấn tượng khó quên trong bạn đọc. Đó là một thử thách lớn với Nguyễn Trọng Tân khi ông “dẫm lên” vết chân của các nhà văn đi trước. Liệu có để lại dấu ấn gì?

Qua 500 trang Thiên mệnh mới thấy Nguyễn Trọng Tân đã chọn một lối đi khác. Ông không “kể sử”, không “phỏng dựng” lịch sử. Mà ông “giải mã” lịch sử. Như lời bạch ở đầu sách: “Sử liệu chính thống về triều đại Tây Sơn và Quang Trung – Nguyễn Huệ bị nhà Nguyễn hủy hoại hầu như không còn gì… Tây Sơn Thái tổ Quang Trung – Nguyễn Huệ xuất hiện sáng chói rồi tắt lịm như khối sao băng xé tan đêm đen phong kiến. Cái chết đột ngột của ông là đốt gãy lịch sử. Để lại nỗi bất hạnh lớn lao cho dân tộc này.

Số phận, võ công và thiên tài Quang Trung – Nguyễn Huệ như ánh xạ bi hùng vang vọng trong tâm khảm bao thế hệ, vọng vào tác phẩm của tôi. Nhưng Thiên mệnh không mang trong nó sứ mệnh của một thông điệp lịch sử”.

Vận dụng, xử lý một khối lượng sử liệu không chính thống từ nhiều nguồn để “dựng lên” bối cảnh xã hội 250 năm trước một cách khá mạch lạc, với bao nhiêu biến cố chóng mặt mà không gò gượng, thực sự sẽ làm nản lòng những cây bút tiểu thuyết bé gan. Nhưng Nguyễn Trọng Tân đã phổ vào Thiên mệnh một sức sống sinh động, hấp dẫn. Bằng quyền năng văn học, nhà văn dày công khắc họa hình tượng nhân vật trung tâm theo quan điểm thẩm mỹ của mình. Ông đặt các nhân vật vào cuộc sống đa chiều trong bối cảnh hỗn tạp của xã hội thời ấy để “giải mã” những ẩn khuất đằng sau các sự kiện, các số phận.

Nhân vật trung tâm, xuyên suốt tiểu thuyết là vua Quang Trung – Nguyễn Huệ. Trong lá thư gửi tôi khi đang viết Thiên mệnh, Nguyễn Trọng Tân tâm sự: “Lâu nay Quang Trung – Nguyễn Huệ trong mắt hậu thế hiện lên là bậc chiến tướng kỳ vĩ. Cả võ công và lầm lỗi đều kỳ vỹ. Một tượng đài đồ sộ, đơn điệu, lạnh lùng. Mình muốn góp thêm góc nhìn về bậc vĩ nhân này ở cuộc sống đời thường. Nguyễn Huệ cũng có điểm mạnh, yếu, tốt, xấu như bao người bình thường khác. Nhưng số phận không cho ông được hưởng đầy đủ, thể hiện đầy đủ những điều bình thường ấy”.

Là bậc Quân vương gánh trên vai sứ mệnh quá ư nặng nề trong một giai đoạn lịch sử vô cùng phức tạp, rối ren. Thù trong, giặc ngoài bao vây tứ phía. Nội bộ Tây Sơn lục đục. Nguyễn Huệ phải có tầm nhìn, quyết định và hành động vượt trên sức nghĩ của người bình thường.

Nguyễn Hữu Chỉnh bỏ chúa Trịnh vào hàng Tây Sơn. Đem Tây Sơn ra diệt họ Trịnh. Rồi lại phản Tây Sơn về với nhà Lê, xui vua Lê chống lại Tây Sơn… Nguyễn Huệ sai cháu mình là Vũ Văn Nhậm ra Đông Kinh bắt Nguyễn Hữu Chỉnh giết đi. Nhưng rồi cái bả vinh hoa lại dẫn Vũ Văn Nhậm dẫm đúng vào lốt chân Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Huệ phải thân chinh ra Đông Kinh giết Nhậm… Vì chuyện đó, hình ảnh Nguyễn Huệ trở nên rất xấu trong mắt quần thần nhà Lê. Huệ lãnh đủ ác cảm cùng bao điều tiếng thị phi và cái nhìn sai lệch của người đời. Đại thần Uông Sĩ Điển nhận xét: “Nguyễn Huệ là kẻ vô đạo. Một ngọn cờ không sạch sẽ, còn mang nặng thói hủ lậu, man mọi rừng rú. Ông ta sẽ tạo ra một nền chính trị hoang dã, trí trá. Liệu gương mặt như vậy có xứng với ngôi báu không? Có nên hiệp tác không?”. Trần Công Sáng nói: “Tôi nghĩ một vị Quân vương mà đem lính đánh giết anh mình. Quyền huynh thế phụ. Nguyễn Huệ làm thế có khác gì đánh lại cha. Một kẻ bất hiếu bất mục như vậy, ta không thể theo?”. Phan Lê Phiên thêm: “Nguyễn Huệ còn thể hiện là một kẻ gian hùng, phản phúc và nhẫn tâm. Ông ta giết cả cháu mình là Vũ Văn Nhậm và làm nhiều điều bất tín khác…”.

Nguyễn Trọng Tân sử dụng ngòi bút “trung tính”. Ông không tô vẽ cho Nguyễn Huệ mà để nhân vật này hiện lên trần trụi cả tốt và xấu trong con mắt quần thần và giới sĩ phu Bắc hà. Hai lần Nguyễn Huệ ra Đông Kinh dẹp loạn nhưng không cướp ngôi vua Lê như bao người lầm tưởng. Rồi những việc làm nhân ái của Nguyễn Huệ khiến quần thần phải nhìn vị chúa Tây Sơn bằng con mắt khác. Lê Chiêu Thống bỏ nước sang cầu cứu Mãn Thanh. Sĩ phu Bắc hà muốn Nguyễn Huệ lên ngôi thiên tử, Nguyễn Huệ từ chối. Điều ấy khiến họ ngỡ ngàng, trăn trở. Cũng như Nguyễn Trọng Tân từng trăn trở: “Lâu nay tôi cứ nghĩ mãi, nếu Nguyễn Huệ tuy là một thần tướng dũng lược, nhưng tàn bạo, hung tợn, vô cảm, thì làm sao ông ta tập hợp được quanh mình những văn thần, võ tướng siêu phàm như vậy. Vì sao ông ta sai khiến được hàng chục vạn người lính đồng lòng như một xông vào hòn tên, mũi giáo như vậy. Nguyễn Huệ phải là một bậc chí nhân, chí thánh…”. Và đây, một Nguyễn Huệ anh hùng cái thế nhưng cũng dễ mủi lòng, vị tha được tác giả “giải mã” đầy bất ngờ, lý thú nhưng hợp lô gich. Mặc dù buộc phải giết Nguyễn Hữu Chỉnh để loại bỏ một kẻ lộng quyền, chống lại Tây Sơn nhưng Nguyễn Huệ đã rất nhân ái không quên công lao của Chỉnh. Ông đến mộ thắp nhang viếng Chỉnh, Nguyễn Huệ  nói với Ngô Thì Nhậm:

– Quân sư biết không, lần đầu gặp Nguyễn Hữu Chỉnh ta đã bị Chỉnh cuốn hút rất mạnh. Ông ấy thực sự là một nhân tài đất Bắc. Một chỉ huy thủy chiến bậc thầy. Nguyễn Hữu Chỉnh đã giúp ta xây dựng thủy binh. Chỉnh cũng là người nối kết ta với vua Lê Hiển Tông. Và chắc hẳn việc vua Lê gả công chúa Ngọc Hân cho ta cũng có bàn tay sắp đặt của Chỉnh”… “Ôi! Đời người chẳng biết thế nào. Giờ Bằng Trung công đã trút sạch bụi trần. Quân sư cho tìm người thân của ông ta. Nếu họ muốn đưa hài cốt về quê, hay để nằm lại đây thì xây cất cho đàng hoàng. Hãy giúp họ một tay”.

Bằng những lời nói và hành động như thế, những thắc mắc, nghi ngại trong quần thần đã được giải đáp. Nguyễn Huệ tâm sự với Ngô Thì Nhậm: “Quân sư biết không, gần đây nhiều khi ta thấy lo sợ và cô đơn khủng khiếp. Triều chính Bắc hà đang ở cái thế châng lâng như vậy. Quần thần muốn ta lên ngôi báu. Việc ta từ chối hẳn làm không ít người thấy lạ. Nhưng ta nghĩ tới điều lớn hơn. Lê Chiêu Thống vẫn còn đó. Trên danh nghĩa Thống vẫn là vua nhà Lê. Mà các triều đại Trung Quốc thì chưa bao giờ nguôi mộng ăn cướp nước ta. Đừng vì chuyện cái ngai vàng có cũng như không ấy khiến giặc lấy cớ đem quân vào dày đạp lên tôn miếu xã tắc…”. Ngô Thì Nhậm sửng sốt, bật dậy thưa: “Điều chúa công vừa nói, trong đám quần thần chúng tôi không ai nghĩ tới. Không ai lượng định nổi. Giờ Nhậm này mới hiểu được sức nghĩ, tầm nhìn và tấm lòng của chúa công đối với đất nước, với muôn dân”.

Trong đời thường Nguyễn Huệ cũng hiện lên thật đáng yêu, gần gũi: “Nguyễn Huệ ôm công chúa Lê Ngọc Hân ngồi bên cửa sổ ngắm cảnh Đông Kinh về đêm. Hương sen thoảng trong không gian. Tiết này sen đã nở. Trà sen Dâm Đàm, món đặc sản rất quý trong cung đình nhà Lê. Ngọc Hân mỗi ngày tự tay hãm trà sen Đông Kinh cho chồng thưởng thức. Ngắm vợ hãm trà, Huệ mới thấy sự kỳ khu, tinh túy, lịch lãm và vẻ cao sang của giới quý tộc kinh thành. Từ khi làm bạn gối chăn với Ngọc Hân, mọi cử chỉ, lời thưa gửi của nàng làm cho cuộc sống của Huệ tươi nhuần hơn. Giảm đi nét thô bộc trong tính nết và khẩu khí”. Tình yêu Nguyễn Huệ dành cho Ngọc Hân quả là một tình yêu lớn, chân chất mà thánh thiện.

Bên cạnh hình tượng Nguyễn Huệ, hai nhân vật khác cũng hiện lên đầy đặn, sinh động và hấp dẫn không kém. Đó là Ngô Thì Nhậm và Nguyễn Hữu Chỉnh.

Nguyễn Hữu Chỉnh, một danh sĩ Bắc hà văn võ toàn tài. Nhưng Chỉnh lại cũng điển hình cho loại người lá mặt lá trái. Tài năng, mưu lược, hùng biện, cuốn hút, song hành với thủ đoạn, cơ hội, tham lam, lộng hành, phản trắc. Nguyễn Hữu Chỉnh là sản phẩm thường thấy của xã hội đang chất chứa những ung nhọt. Suy mạt là miếng đất màu mỡ sản sinh, dung dưỡng những quan lại như thế. Số phận Nguyễn Huệ dường như phải gắn với Nguyễn Hữu Chỉnh, như là một thử thách ông. Thâu nạp Chỉnh, tận dụng tài năng của Chỉnh nhưng bằng giác quan đặc biệt, Nguyễn Huệ rất sớm nhìn ra khoảng u tối, phức tạp, tráo trở trong con người Chỉnh. Nguyễn Hữu Chỉnh cũng là tác nhân lớn nhất khiến Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đem quân ra Đông Kinh dẹp bỏ chúa Trịnh, củng cố rường mối nhà Lê. Bước khởi đầu cho đại cuộc đánh bại  quân xâm lược Mãn Thanh.

Ngô Thì Nhậm là hình ảnh đại diện cho giới sĩ phu Bắc hà. Nguyễn Trọng Tân đã rất thành công khi khắc họa nhân vật này. Một dạng nhân vật rất khó viết. Sĩ phu Bắc hà là hồn cốt của nền chính trị, văn hóa thời đại. Họ liêm chính, tiết tháo nhưng cũng rất bảo thủ, mực thước và đầy nghi kị. Họ được tôn vinh là “Nguyên khí quốc gia” mang nặng tâm trạng “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Chúa Trịnh đã tan. Vua Lê Chiêu Thống bỏ nước cầu cứu ngoại bang. Nguyễn Huệ ban chiếu cầu hiền… Lớp người như Ngô Thì Nhậm lâm vào bế tắc, rối trí. Phải theo ai để phục vụ xã tắc, cứu vớt muôn dân? Bản thân Ngô Thì Nhậm càng trớ trêu, lúng túng. Nhậm từng gọi Tây Sơn là lũ giặc man mọi, quyết không hợp tác với Nguyễn Huệ. Nhậm vật vã trong đau khổ, cô đơn, mâu thuẫn. Ông lang thang vào chùa Thầy với tâm niệm tìm lời giải nơi cửa Phật. Nhậm thụ giáo Hòa thượng Thích Minh Tuệ về sự đổi thay của thời thế. Về quan niệm “trung quân”. Về bổn phận của kẻ sĩ trong thời buổi trắng đen lẫn lộn này…

Nguyễn Huệ có con mắt thật tinh đời. Ông nhận ra tài năng trời phú của Ngô Thì Nhậm. Khi hợp quân ở Tam Điệp trước khi ra đuổi giặc Thanh, Nguyễn Huệ nói trước ba quân: “Lần trước ra Đông Kinh phò Lê, sĩ phu Bắc hà ngoài mặt thì sợ ta, nhưng trong ruột thì chê ta võ biền. Ta biết chứ. Đến khi được ông Nhậm, ta mừng như có người rửa mặt cho vậy. Người Bắc hà bảo: “Tài ông Nhậm rỏ qua ngọn bút sánh với trăm vạn quân là thế”. Lần này nhờ mưu kế của quân sư, ba chục vạn quân địch ta chỉ quét một trận là xong”.

Vai trò của Ngô Thì Nhậm chỉ đứng sau Nguyễn Huệ. Mối quan hệ Nguyễn Huệ – Ngô Thì Nhậm gợi cho chúng ta nhớ đến Lê Lợi – Nguyễn Trãi trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh.

Nguyễn Trọng Tân khá am tường lịch sử. Ông góp phần giải mã một giai đoạn xã hội phong kiến vô cùng phức tạp mà chính sử hầu như không còn lại gì, nhưng tạo được niềm tin cho người đọc. Bằng khả năng tưởng tượng và linh cảm mẫn tiệp của mình, tác giả đã làm cho các sự kiện trở nên sinh động, nhân vật được ánh xạ từ tâm hồn nhà văn trở nên lấp lánh, mới mẻ đến bất ngờ.

Giọng văn hoạt. Câu văn ngắn, hóm hỉnh và đối thoại rất nhiều, Nguyễn Trọng Tân làm cho những trang viết lịch sử không bị nặng nề, khô cứng. Dựng lên những màn đối thoại liên tục giữa các nhân vật lớn về triều chính, binh pháp, Phật giáo, đạo quân thần, tổ chức bộ máy triều chính… đòi hỏi tác giả phải có một nền kiến thức rộng và rất chắc tay, biến nó thành “kiến thức và ngôn ngữ” của nhân vật. Ai ra người đó, nhuần nhuyễn sinh động. Bởi thế, cho dù những người đã “thuộc sử” chắc chắn vẫn bị các sự kiện và nhân vật của Thiên mệnh cuốn hút, dẫn dắt.

Tôi cho rằng tiểu thuyết Thiên mệnh của nhà văn Nguyễn Trọng Tân là một tác phẩm có một vị trí nhất định mà mỗi khi nhắc đến thể loại tiểu thuyết lịch sử, người ta không thể bỏ qua.

 Lê Hoài Nam/Văn nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm