TIN TỨC

Nội trú trong ta một nỗi buồn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-09-25 09:55:16
mail facebook google pos stwis
1716 lượt xem

ĐẶNG HUY GIANG

(Đọc “Năm ngón chưa đặt tên” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2024)

Tôi ấn tượng với “Năm ngón tay chưa đặt tên” ngay từ hai bài thơ đầu tiên: “Vẫn thế nhiều khi” và “Cánh đồng”. Một bài viết về em (tình yêu) và một bài viết về cánh đồng (quê hương).

Trong cái nhịp thời gian “Ngày đung đưa/ Tháng đung đưa/ Em và anh ngồi trên cánh võng/ Lắc qua ngày, lắc qua đêm” và ví “Thời gian quanh ta là con chó nhỏ”, Đinh Nho Tuấn nhận thấy em lớn lao đến mức: “Những ngày em xanh rất tuyệt/ Trái đất quay vì có em/ Những ngày em lệch lạc/ Em vùi trái đất vào đêm”. Khi yêu, con người ta thường tuyệt đối hóa tình yêu như vậy, coi tình yêu lớn lao như vậy! Đó là điều dễ hiểu và dễ giải thích. Rồi tình yêu cứ thế mà trào dâng như một lẽ tự nhiên: “Những vần thơ anh không bằng ngôn ngữ/ Xin vang lên như triệu triệu vòng ôm”.

Viết đến đây, tự dưng tôi lại nhớ đến một bài thơ có cái tứ thật khác người của Đinh Nho Tuấn, cũng viết về tình yêu: “Sao em nhiều thế em ơi!”. Một em mà trở thành nhiều em, nhiều em mà vẫn chỉ là một em và có xuất phát từ em... Đó là một ý tưởng hay, chỉ có người nào thực sự yêu, thực sự sống với tình yêu, thực sự say đắm với tình yêu, mới có thể viết ra được như thế!

Trong “Cánh đồng”, nhìn bông lúa mà nảy sinh ý nghĩ như thế này, tâm trạng như thế này, thì cũng thật là hiếm hoi: “Nặng lòng/ Mỗi bông treo hàng trăm mặt trời/ Cúi đầu trùng trùng câu hỏi”. Rồi cũng từ đấy mà hốt nhiên bật ra: “Còn lúa là còn quê hương/ Còn cánh đồng là còn lối ta về”, thì thật là sâu sắc và chí lý!

Đó là hai câu thơ cho thấy “lúa” và “cánh đồng”, quan trọng đến mức nào đối với làng quê Việt, làm nên sự sống còn của làng quê Việt, là chứng chỉ của làng quê Việt và đây cũng là những lời xác quyết như “dao chém đá” về “lúa” và “cánh đồng”.

Cũng ít người, tri ân lúa hết mực như Đinh Nho Tuấn: ”Dành cho lúa những lời thứ nhất/ Dành cho lúa những lời sau cùng” và cũng ít người, canh cánh nỗi lo mất ruộng, mất làng đến xót xa như Đinh Nho Tuấn: “Tháng năm ăn hết những cánh đồng/ Những ngôi nhà nuốt hết những cánh đồng” để đến mức chỉ còn “Tiếng côn trùng/ Dắt nhau về những khoảng không/ Sót lại”. “Ăn” và “nuốt” là hai động tự mạnh, đã gọi sự vật với đúng tên gọi của nói, nói đến sự tàn phá đến mức huỷ diệt của thời đô thị hóa mang màu sắc thị trường.

Cố hương trong “Năm ngón chưa đặt tên”, lúc nào cũng đằm sâu ký ức với những kỷ niệm đẹp đến nao lòng và “lâu đến bao nhiêu cũng không già”: “Tắc kè thảng thốt đêm không trăng/ lung linh tàn tro, cong dáng người nhóm bếp/ bụi tre gai sao đêm nào cũng khóc/ đêm bao mươi oa oa bật lên khỏi tro vùi” (“Nồi bánh đêm ba mươi”), “Làng tôi xanh một vệt dài đuôi mắt/ Sống bình yêu như một đóa hoa rừng/ Lấy tiếng diều từ linh hồn của đất/ Làm nắng vàng, trăng sáng, mưa tuôn” (“Tôi rơi về làng tôi”), “Đất còn run, ngày còn se lạnh/ Nước co ro, cỏ tai tái đôi bờ/ Mặt trời xa, nắng vẽ vầng ánh sáng/ Ru nỗi buồn mắt hồ biếc vu vơ” (“Đồng quê”)...Và những cái đã qua ấy đã trở thành cái nhớ dai dẳng đến nỗi:

Ký ức dội về hạnh phúc, khổ đau

Làm sẹo trên thân tôi da thịt...

  (“Ký ức”)

Trở lại với em (tình yêu), ít nhất Đinh Nho Tuấn có hai tứ thơ: “Khi còn năm ngón chưa đặt tên” và “Mười ngón chưa đặt tên”. Rõ ràng ở đây, ngón (tay) đã trở thành biểu tượng. Nếu trong “Khi còn năm ngón chưa đặt tên” có năm ngón chưa đặt tên, thì trong “Mười ngón chưa đặt tên” lại có đến cả mười ngón chưa đặt tên. Vậy là mỗi ngón cũng có mỗi ngôn ngữ của riêng nó, mà chỉ những lứa đôi mới gọi ra được, đọc ra được như một mật ngữ của tình yêu. Chắc chắn, trong mười ngón đó, chất chứa rất nhiều bí ẩn, chưa dễ giải mã được. Và đó cũng là thế giới riêng của tình yêu. Không thế, tại sao Đinh Nho Tuấn lại hạ bút: “Mười ngón chưa đặt tên/ Thoa dịu mái đầu phủ khói và trái tim ngập tràn nỗi đau anh/ Anh không thể tưởng tượng nổi mình ngờ nghệch đến mức nào/ Khi chưa đặt tên cho mười ngón”.

Thơ tình của Đinh Nho Tuấn đau đáu nỗi niềm, nhiều lúc chữ như cuộn xoáy vào nhau, xoắn xuýt vào nhau để sinh nghĩa mới: “Vết anh, vết em ăn vào nhau da thịt” (“Cho em ngày cạn”), “Thì em hỡi đời người như gió thơm/ Tình yêu đó không bao giờ nguyên khối/ Bao mảnh vỡ chính là ta nhập lại/ Rồi tan ra từ giây phút lúc này” (“Phép màu”), “Trời đất giao thoa, cánh nhạn thiên di/ Khi xa em, gia tài là nỗi nhớ/ Trăn trở, mơ hồ gửi vào giêng hai/ Theo cánh chim trời bay đi muôn ngả” (“Nhớ”)...Riêng trong “Logic em”có bốn câu hay ở cách nói, lại rất thi sĩ:

Không phải mùa khô đâu anh

Đó là mùa bầu trời quên khóc

Không phải mùa mưa đâu

Đó là mùa lệ dâng đầy mắt.

Nhiều bài thơ đạt về tổng thể, trong đó có “Tấm nhân từ đâu có quê hương”. Chỉ tên bài thơ này, riêng câu thơ này, đã được coi là một phát hiện. Còn những câu thơ hay có sắc thái tình cảm, có phần tài hoa và tài tình cũng không hiếm: “Nội trú trong ta một nỗi buồn” (“Chốn điêu linh nhịp thở không màu”),“Nếp thơm trong chén hay lửa đắng/ Nuốt vào mình thành ngụm rưng rưng” (“Ly rượu đầu năm”), “Tay ấp thiền cho năm ngón có đôi” (“Tay ấp thiền cho năm ngón có đôi”)...Tôi dám chắc, cũng ít người viết về chữ “dưng” lạ và biến ảo như Đinh Nho Tuấn:

Duyên kiếp nhân gian hay biết mấy

Dưng dửng ngàn năm vẫn dưng thôi

Em đi dưng này sang dưng khác

Thoắt cái dưng thầm em là tôi.

Cho dù phải “bơi trong đời rộng/ vẫy vùng nước mắt nhân gian”, sống trong “nạn đói tình người” và đôi khi phải “đâm sầm vào nhân tình thế thái”,  nhưng về mặt thái độ và bản lĩnh của Đinh Nho Tuấn, lúc nào cũng quyết liệt, nhất quán. Anh chấp nhập đến mức: “Ngọt ngào và mặn chát/ Xin cứ hắt vào tôi” (“Ly rượu tháng tư”). Anh coi: “Mải miết chết bằng mải miết sống” (“Hoa lộc vừng”). Anh luôn sẵn sàng “năm ăn năm thua” với chính mình trước trang giấy trắng: “Tôi vẫn viết như ngày mai tuyệt chủng” (“Tôi thách tôi”). “Đêm” vẫn “đuổi theo ngày”, “ngày” vẫn “đuổi theo đêm” theo quy luật tự nhiên, cũng giống như “không ai đốt nhưng phượng hồng vẫn cháy”, còn nhà thơ của chúng ta thì “đuổi theo những ký tự”, “ẩn trong phe nước mắt quê hương” mà làm thơ hết mình một cách tự thân.

Nói không quá thì “Năm ngón chưa đặt tên” giống như một tòa nhà thơ có nhiều cánh cửa để đi vào và chính ở đó, mỗi cánh cửa như mở ra một điều gì đó mà độc giả hằng trông đợi.

Phố Khuất Duy Tiến đêm 23 - 9 - 2024

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm