TIN TỨC

Phát triển

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-08-17 15:43:03
mail facebook google pos stwis
938 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

Nội dung quyết định hình thức. Xét cả quá trình văn học lâu dài, các hình thức tác phẩm kế tiếp nhau xuất hiện, tác động vào nền văn học, góp phần tạo ra phát triển văn chương. Bài viết chỉ đề cập đến chủ đề này của cuốn sách. 

Bìa sách ĐỒNG BẰNG ÂM VANG VÀ NHỮNG NỐT TRẦM – Mã số ISBN: 978-604-497-253-4.

Sách chia làm 2 phần. Phần I. Văn học và phê bình văn học có 5 bài, gói gọn trong 51 trang, chiếm 23% số trang nhưng dung lượng và kiến thức mới đưa vào đây được cô đặc, giản hóa phù hợp với độc giả không chuyên về lý luận phê bình có được một số kiến thức đại cương vừa đủ để đọc phần còn lại của cuốn sách.

Bảo Bình phân biệt người viết phê bình văn học khác với nghề giáo bình giảng văn học hay người viết cảm tưởng (cảm nhận và liên tưởng): "nhà phê bình văn học là người nghệ sỹ chân chính nhất.... họ (cần phải có) trí tuệ và mạnh mẽ khi sử dụng ngòi bút của mình trên con đường đi tìm chân lý, đi tìm cái đẹp. Nhà phê bình (văn học) là người có năng lực thẩm định văn chương, phân tích lý tính, nghị luận..., có hiểu biết sâu sắc, am tường văn hóa, trực giác mãnh liệt... đó là những yếu tố không thể thiếu ở nhà phê bình" - trang 10.

Định nghĩa phê bình tác giả văn học ngắn gọn: "phác họa nên chân dung, sự nghiệp, phong cách, vị trí (trong nền văn học và do đó nếu không có vị trí, vê lâu dài, sẽ không gọi là tác giả văn học) của nhà văn" - trang 13.

Phân tích tác phẩm "dựa trên cơ sở lý luận, (nên) có đối chiếu, so sánh với những tác phẩm, tác giả cùng thời; rồi từ đó nhận diện khái quát một vấn đề, bày tỏ một quan điểm hết sức rõ ràng, điều chưa ai làm được" - trang 17. Từ đó cho thấy nếu phê bình văn học không phát hiện cái mới so với thời đại, hoặc khơi gợi vấn đề mới trong hiện tại với tác phẩm cũ, thì bài viết không đạt chuẩn mực phê bình văn học xét theo tiêu chí phát triển và cũng không ích lợi cho người sáng tác cũng như văn hóa đọc.

Nghiên cứu sự phát triển thể loại văn học theo dòng thời gian, dùng cách biểu đạt hình ảnh và có chiều thời gian do tác giả chỉ ra quy luật vận động: "Vận động ở đây là sự biến đổi. Là sự đa dạng hóa, phong phú thêm về thể loại; là sự tiến hóa (phát triển) cao hơn” - trang 22. “Về bản chất, thể loại đã vận động song hành (trong) cùng lịch sử văn học” - trang 23;  góp phần tạo ra sự phát triển ngày càng cao hơn. Đó là sự tác động biện chứng của mối liên hệ giữa hình thức và bản chất. Cách thức thể hiện quy luật này là “sự tương tác: với đời sống, giữa các thể loại (với nhau) với bên ngoài, và với ý thức sáng tạo, (thúc đẩy do ý muốn) cách tân chủ thể” - trang 24. Lý do sinh ra thể loại mới “Với văn học, nhu cầu làm mới cho nghệ thuật là nhu cầu bất tận, và thế là thể loại mới ra đời” - trang 26.

Bàn về tâm lý học, lĩnh vực luôn ẩn vào tác phẩm văn chương; Bảo Bình lướt qua Phân tâm học của S.Freud: “cấu trúc tâm lý con người tương ứng với vô thức, tiền ý thức và ý thức”.Tương ứng với cấu trúc nhân cách: “Cái ấy: gồm bản năng vô thức, không tính tới các quy tắc và quy định xã hội” – phần con. “Cái tôi: hoạt động, (bị) điều chỉnh và kiểm soát bởi thực tiễn” – có ý thức - trang 30 “Cái siêu tôi: bao gồm ý thức và đạo đức” - trang 31; do giáo dục và ý thức cá nhân xã hội tạo nên được văn học tận dụng cho mục đích ẩn: hiểu sâu hơn về bản chất con người.

Về thủ pháp viết truyện ngắn, Bảo Bình đã làm rõ hơn, sâu hơn về 3 loại tình huống nhỏ đan xen cần được đặc biệt chú ý: “Tình huống: tâm lý / hành động / nhận thức… ít khi tách rời… luôn bổ sung, tương trợ lẫn nhau” - trang 48.  

Để kết lại phần 1, Bảo Bình dẫn ra thể loại thơ mới “Thơ 1-2-3”; “được khai sinh bởi nhà thơ, nhà báo Phan Hoàng” - trang 54 là minh chứng sống động của hình thức vận động trong phát triển của nội dung. Tác giả chỉ ra đặc điểm thể loại thơ 1-2-3: “câu 1 và câu 6 là một mắt xích vô hình, bện chặt. Đó không chỉ là sự hô ứng, mà còn là sự liên kết tứ đầy tính logic và ám gợi (mở). Câu mở và câu kết của bài thơ như ổ khóa và chiếc chìa khóa của nhau vậy, (tạo ra hiệu ứng) sẽ dừng lại nơi tâm hồn hoặc tư duy (và có thể là cả hai của) người đọc một tình cảm, một vấn đề nào đấy cần được quan tâm, chia sẽ và khai mở” - trang 55. Đó là hình thức mới trong nội dung cũ viết về mọi chủ đề mà các tác giả đã viết mòn cả bút được nhà thơ Phan Hoàng tìm ra hình thức thể hiện mới. Và ở đây, Bảo Bình đã nhìn nhận thể loại này như một đột phá của thi ca. Hiện tại, một số nhà thơ sử dụng niêm luật thơ 1-2-3 trong sáng tác của mình.


Nhà thơ Phan Hoàng.

Có thể nói, ở phần lý luận văn học, tác giả đã mạnh dạn đưa ra những tư duy riêng biệt về phê bình bên cạnh những lý thuyết đã định hình từ những ngày đầu của phê bình văn học Việt Nam, như “ Phê bình và Cảo luận của Thiếu Sơn”, “ Sự cần thiết của điểm huyệt trong truyện ngắn”, “Sự vận động của thể loại văn học”..v..v..Tác giả định nghĩa vai trò tiên phong của nhà phê bình văn học. Sự tác động tích cực tạo môi trường phát triển, cũng như tạo động lực sáng tác nói chung mà nhà phê bình có thể góp sức mang lại cho văn đàn.

Không tìm thấy từ “phê bình văn học” trong từ điển Việt Nam. Chỉ có mục từ “PHÊ BÌNH – động từ. Đem cái hay hoặc cái dỡ ra mà xét và tìm nguyên nhân, để do đó phát huy cái hay, sửa chữa cái dở: Gạo càng giã càng trắng, người càng phê bình, càng hay (Hồ Chí Minh)- Trang 965; Từ điển Tiếng Việt - Văn Tân chủ biên, Nhà xuất bản khoa học xã hội, in lần thứ 3 có chỉnh lý bổ sung, năm 1991. Cũng từ điển này, trang 1326 có mục từ “VĂN HỌC – danh từ. Nghệ thuật dùng ngữ ngôn và hình tượng để biểu hiện tình cảm, tư tưởng, đời sống”. Ghép hai từ lại chúng ta có cụm từ PHÊ BÌNH VĂN HỌC; và theo nghĩa trên, cuốn sách này không làm nhiệm vụ phê bình văn học; Cuốn sách không viện dẫn kiến thức lý luận phê bình văn học, lý luận sáng tác văn học.

Do đó, nhiều học giả định nghĩa phê bình văn học với nghĩa rất rộng. Gần đây, hiện tượng trí thông minh nhân tạo AI (Artificial intelligence) bình giảng thơ được một số nhà văn, nhà thơ thích thú do tính duy lý của các bình giảng và cũng được xem như là phê bình văn học.

Đa số cho rằng: khác với người viết phê bình văn học nghiệp dư ở chỗ nhà lý luận phê bình văn học được đào tạo bài bản và sau đó tự học lên…

Nếu đối chiếu với Hoài Thanh, nhà phê bình nổi tiếng nhất 2 thế kỷ ở nước ta, đã có những đóng góp về mặt phê bình, lý luận để khẳng định Thơ mới trong văn học Việt Nam thế kỉ XX; ông chẳng có học hàm học vị giáo sư, tiến sỹ văn chương… có thể nói rằng: nếu tạo ra kết quả hướng dẫn nền văn học phát triển và thẩm định giá trị các tác phẩm trường tồn thì bất cứ họ là ai đều được độc giả tôn vinh là nhà lý luận  phê bình văn học thực thụ; các ý kiến, lập luận sẽ được độc giả lưu tâm.

***

Phần II. Tác giả - Tác phẩm có 22 bài, gói gọn trong 167 trang, chiếm 73%.

Tác giả lập luận độc giả quyết định về đánh giá giá trị tác phẩm từ đó: “sự định vị tác giả trong tiến trình văn học… không bao giờ bất biến, vĩnh cữu; bởi nó liên quan đến sự thay đổi các cách đọc hiểu của từng thời đại, thậm chí từng cá nhân” - trang 37. Từ nguyên lý này, các bài viết về phê bình tác phẩm được Bảo Bình tập trung phân tích 2 khía cạnh:  Đóng góp của tác phẩm, tác giả ở góc độ định vị tác giả trong nền văn học với góc nhìn mới của hôm nay, nhưng không phải là bất biến nếu xét từ khi tác phẩm ra đời và mãi mãi về sau khi nó còn sống đời sống văn học sử.

 Đánh giá sự nghiệp thơ của nhà thơ Hoài Vũ: “Tình cảm mà ông đặt vào (thơ) là một sự vô cùng của cái đẹp, là sự vĩnh hằng của lý tưởng trong sự lồng ghép các hiện tượng xã hội mang tính lịch sử. Bằng bút pháp trữ tình xen lẫn tự sự, nhà thơ xuyên thẫm (thẩm thấu) trái tim thuần khuyết yêu thương vào hiện thực chiến tranh tàn khốc, làm bật dậy những khát khao cháy bỏng của con người. Khát khao hạnh phúc của dân tộc” ” - trang 64.

 Nhà thơ Hoài Vũ xuất hiện với 3 bài viết trong tập sách này, đủ để thấy sức ảnh hưởng cũng như sự trân trọng mà tác giả dành cho nhà thơ. Từ “ Thì thầm với dòng sông”, “ Gái thời chiến” và rồi “ Hoa trong tuyết”: “Dịch giả Hoài Vũ có sự chọn lọc hợp lý, tinh tường để rồi chuyển ngữ một cách sinh động, sắc nét và cuốn hút đến lạ lùng. Không khó để thấy rằng những câu chuyện được dịch thuật ở đây gần với chúng ta về văn hóa, về lịch sử…” Hy vọng khi tái bản, Bảo Bình sẽ làm rõ hơn về chân dung văn học của nhà thơ Hoài Vũ, nét khác biệt của nhà thơ; làm nên sự định vị tác giả trong tiến trình văn học Việt Nam như là đại diện lớn nhất của tác giả thơ lãng mạn cách mạng trong bối cảnh chiến trường khốc liệt Long An và vùng ven Sài Gòn ở vào những năm tháng chiến tranh chống Mỹ khốc liệt nhất.

 “Nguyễn Minh Châu là cây bút sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mạn…. Nhà văn đã phản ánh hiện thực đời sống / thân phận con người trong những hoàn cảnh khắc nghiệt, đặc biệt và bi kịch bằng cái nhìn sâu sắc, bằng cảm xúc xót xa và bằng tâm trạng đau đớn … (nhưng khác với các tác giả đương thời là tâm trạng) bất lực”. - trang 70 và trang 71. Nếu không có phát hiện đó, dĩ nhiên Nhà văn Nguyễn Minh Châu, tác giả duy nhất không sinh ra và lớn lên cũng như không có tác phẩm viết về đồng bằng sông Cửu Long sẽ không có sự hiện diện trong tập sách này do không có sự định vị vững chắc trong văn học sử của địa phương. Đọc chậm “ Đồng bằng, âm vang và những nốt trầm”, ta sẽ nhận ra Bảo Bình không phải chỉ nói về các tác giả đồng bằng, mà cả những tác phẩm viết về đồng bằng, dù tác giả đó có sinh ra và sống ở bất kỳ đâu trên đất nước này.

“Thơ Trang Thế Hy – cuộc giao tiếp hữu hiệu giữa nội tâm và ngoại giới – lồng trong những sắc từ âm ngữ dư ba của một hệ tư tưởng minh triết và nghiêm khắc về nghề văn và người cầm bút” - trang 78, theo tôi nhận định này có nét độc đáo, cẩn ngôn và chuẩn xác mà tác giả dành cho nhà thơ Trang Thế Hy.

Hay, “Đồng bằng Nam bộ với các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, Chăm… làm nên một đời sống văn hóa đa sắc màu, độc đáo. Đời sống lao động sản xuất cần cù, chăm chỉ, chịu thương, chịu khó. Đời sống tinh thần phóng khoáng, bộc trực, hy sinh. Tất cả, quyện vào nhau, làm nên một đồng bằng trù phú, cuốn hút và say đắm” - trang 107. Đó là nền để 18 tác giả sinh ra và lớn lên ở đồng bằng sông Cửu Long tạo ra sự nghiệp văn chương được tác giả Bảo Bình chăm chút nâng niu nên tìm được nét mới định hình trong nền văn học nước nhà, đưa vào tập sách. Cách mà tác giả đánh giá về tác phẩm của các nhà văn khiến tôi trân trọng, Bảo Bình công phu tìm ra những điểm mạnh, cái hay mà tác phẩm mang lại, đồng thời rất khéo léo, nhẹ nhàng và thuyết phục khi chỉ ra những mặt còn hạn chế. Trong văn chương, cần lắm thay những ngòi bút tâm huyết thế này.

Phần tác giả tác phẩm Cần Thơ phải kể đến các tên tuổi như: Lê Chí, Phù Sa Lộc, Trúc Linh Lan...cùng một số cây bút trẻ như: Phan Duy, Huỳnh Ngọc Huy Tùng. Cũng nhờ có “ Âm vang và những nốt trầm” mà bạn đọc được biết nhiều hơn đến các tác giả cũng như một số tác phẩm hay, mang đậm giá trị nhân sinh, đạo nghĩa. Cũng như giúp bạn đọc hiểu sâu hơn về đất và người nơi vùng châu thổ nghĩa tình. Ở đây, tôi chỉ trích ra những nghiên cứu có hàm lượng mới, mang tính học thuật cũng như giá trị văn học mà tác giả đã dày công mang lại, để thấy rằng “ Trong văn chương, trường phái triết học tâm đắc thường sẽ ảnh hưởng sâu sắc ngòi bút tác giả. Và sự thấu suốt về lý luận, thể loại cũng sẽ tác động không nhỏ đến thủ pháp nghệ thuật. Cùng với đó là tâm hồn, thái độ, tư duy, trình độ… khiến mỗi nhà văn, nhà thơ sẽ làm nên sự khác biệt cho mình. Một tư tưởng, một phong cách, một giọng điệu… không trùng lắp và nhầm lẫn được” trang 221.

Do bài viết chỉ là cởi ngựa xem hoa nên tôi không thể đề cập chi tiết hết 18 bài viết còn lại. Có lẽ, tìm đọc là cách duy nhất để bạn hiểu rõ hơn về tác phẩm cũng như một số tác giả nơi vùng sông nước hữu tình này.

Nhà văn Bảo Bình sinh năm Nhâm tý, tên thật Lê Thị Thanh Tuyền. Nguyên là Trưởng khoa Sư phạm, trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang. Hội viên Hội Nhà văn Cần Thơ, sống và viết tại Cần Thơ. Khi còn là sinh viên, Bảo Bình đã sáng tác và có thơ đăng báo. Khi trở thành giảng viên, Bảo Bình là cộng tác viên thường xuyên của tạp chí ngành, tạp chí văn nghệ Tỉnh. Có nhiều thơ, văn đăng ở các báo và tạp chí. Trong quá trình làm giáo dục, tình yêu văn chương được Bảo Bình thể hiện trên bục giảng, và giờ đây “chọn nghỉ hưu trước tuổi để có nhiều thời gian hơn cho gia đình và viết lách”, Bảo Bình đã tiếp tục hành trình đam mê văn học bằng ngòi bút sắc bén của mình trên cả lĩnh vực sáng tác lẫn phê bình. Thơ văn của Bảo Bình đã không còn xa lạ với bạn đọc, một số bài thơ đã chạm vào cảm xúc của các nhạc sĩ và cất lên thành lời nhạc sâu lắng, như “ Trầm tích”, “ Lời ru bướm vàng”,“ Tiếng đàn từ ngôi nhà sau vách đá”... Một số tác phẩm của Bảo Bình đã được đưa vào chương trình giáo dục địa phương lớp 12, như “ Mùa điên điển”, “ Nghiêng thời gian”, “ Mẹ, ba và con”...minh chứng cho năng lực sáng tạo và cảm thấu văn chương nơi tâm hồn tinh nhạy này.

Bàn thêm về đặt tên tập sách, dưới dạng duy tình, muốn đền ơn Nam bộ, nơi sinh thành nên tác giả đã chọn đặt tựa đề 8 chữ, khá dài; tuy nhiên đã phần nào khái quát được nội dung mà quyển sách muốn đề cập.

 Hiện nay, phê bình văn học nhiều nhưng mãng lý luận văn học ít được quan tâm, việc có một tác giả viết về mãng này ở Tây Đô cho thấy văn học khu vực đang phát triển trong hệ sinh thái văn chương đa vùng miền và đa văn hóa Việt Nam...

Sài Gòn mùa hè năm 2025

LTH.

Ghi chú:  Những chữ viết xiên là trích nguyên văn từ ngữ của cuốn sách thơ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm