TIN TỨC

Phát triển

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-08-17 15:43:03
mail facebook google pos stwis
1230 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

Nội dung quyết định hình thức. Xét cả quá trình văn học lâu dài, các hình thức tác phẩm kế tiếp nhau xuất hiện, tác động vào nền văn học, góp phần tạo ra phát triển văn chương. Bài viết chỉ đề cập đến chủ đề này của cuốn sách. 

Bìa sách ĐỒNG BẰNG ÂM VANG VÀ NHỮNG NỐT TRẦM – Mã số ISBN: 978-604-497-253-4.

Sách chia làm 2 phần. Phần I. Văn học và phê bình văn học có 5 bài, gói gọn trong 51 trang, chiếm 23% số trang nhưng dung lượng và kiến thức mới đưa vào đây được cô đặc, giản hóa phù hợp với độc giả không chuyên về lý luận phê bình có được một số kiến thức đại cương vừa đủ để đọc phần còn lại của cuốn sách.

Bảo Bình phân biệt người viết phê bình văn học khác với nghề giáo bình giảng văn học hay người viết cảm tưởng (cảm nhận và liên tưởng): "nhà phê bình văn học là người nghệ sỹ chân chính nhất.... họ (cần phải có) trí tuệ và mạnh mẽ khi sử dụng ngòi bút của mình trên con đường đi tìm chân lý, đi tìm cái đẹp. Nhà phê bình (văn học) là người có năng lực thẩm định văn chương, phân tích lý tính, nghị luận..., có hiểu biết sâu sắc, am tường văn hóa, trực giác mãnh liệt... đó là những yếu tố không thể thiếu ở nhà phê bình" - trang 10.

Định nghĩa phê bình tác giả văn học ngắn gọn: "phác họa nên chân dung, sự nghiệp, phong cách, vị trí (trong nền văn học và do đó nếu không có vị trí, vê lâu dài, sẽ không gọi là tác giả văn học) của nhà văn" - trang 13.

Phân tích tác phẩm "dựa trên cơ sở lý luận, (nên) có đối chiếu, so sánh với những tác phẩm, tác giả cùng thời; rồi từ đó nhận diện khái quát một vấn đề, bày tỏ một quan điểm hết sức rõ ràng, điều chưa ai làm được" - trang 17. Từ đó cho thấy nếu phê bình văn học không phát hiện cái mới so với thời đại, hoặc khơi gợi vấn đề mới trong hiện tại với tác phẩm cũ, thì bài viết không đạt chuẩn mực phê bình văn học xét theo tiêu chí phát triển và cũng không ích lợi cho người sáng tác cũng như văn hóa đọc.

Nghiên cứu sự phát triển thể loại văn học theo dòng thời gian, dùng cách biểu đạt hình ảnh và có chiều thời gian do tác giả chỉ ra quy luật vận động: "Vận động ở đây là sự biến đổi. Là sự đa dạng hóa, phong phú thêm về thể loại; là sự tiến hóa (phát triển) cao hơn” - trang 22. “Về bản chất, thể loại đã vận động song hành (trong) cùng lịch sử văn học” - trang 23;  góp phần tạo ra sự phát triển ngày càng cao hơn. Đó là sự tác động biện chứng của mối liên hệ giữa hình thức và bản chất. Cách thức thể hiện quy luật này là “sự tương tác: với đời sống, giữa các thể loại (với nhau) với bên ngoài, và với ý thức sáng tạo, (thúc đẩy do ý muốn) cách tân chủ thể” - trang 24. Lý do sinh ra thể loại mới “Với văn học, nhu cầu làm mới cho nghệ thuật là nhu cầu bất tận, và thế là thể loại mới ra đời” - trang 26.

Bàn về tâm lý học, lĩnh vực luôn ẩn vào tác phẩm văn chương; Bảo Bình lướt qua Phân tâm học của S.Freud: “cấu trúc tâm lý con người tương ứng với vô thức, tiền ý thức và ý thức”.Tương ứng với cấu trúc nhân cách: “Cái ấy: gồm bản năng vô thức, không tính tới các quy tắc và quy định xã hội” – phần con. “Cái tôi: hoạt động, (bị) điều chỉnh và kiểm soát bởi thực tiễn” – có ý thức - trang 30 “Cái siêu tôi: bao gồm ý thức và đạo đức” - trang 31; do giáo dục và ý thức cá nhân xã hội tạo nên được văn học tận dụng cho mục đích ẩn: hiểu sâu hơn về bản chất con người.

Về thủ pháp viết truyện ngắn, Bảo Bình đã làm rõ hơn, sâu hơn về 3 loại tình huống nhỏ đan xen cần được đặc biệt chú ý: “Tình huống: tâm lý / hành động / nhận thức… ít khi tách rời… luôn bổ sung, tương trợ lẫn nhau” - trang 48.  

Để kết lại phần 1, Bảo Bình dẫn ra thể loại thơ mới “Thơ 1-2-3”; “được khai sinh bởi nhà thơ, nhà báo Phan Hoàng” - trang 54 là minh chứng sống động của hình thức vận động trong phát triển của nội dung. Tác giả chỉ ra đặc điểm thể loại thơ 1-2-3: “câu 1 và câu 6 là một mắt xích vô hình, bện chặt. Đó không chỉ là sự hô ứng, mà còn là sự liên kết tứ đầy tính logic và ám gợi (mở). Câu mở và câu kết của bài thơ như ổ khóa và chiếc chìa khóa của nhau vậy, (tạo ra hiệu ứng) sẽ dừng lại nơi tâm hồn hoặc tư duy (và có thể là cả hai của) người đọc một tình cảm, một vấn đề nào đấy cần được quan tâm, chia sẽ và khai mở” - trang 55. Đó là hình thức mới trong nội dung cũ viết về mọi chủ đề mà các tác giả đã viết mòn cả bút được nhà thơ Phan Hoàng tìm ra hình thức thể hiện mới. Và ở đây, Bảo Bình đã nhìn nhận thể loại này như một đột phá của thi ca. Hiện tại, một số nhà thơ sử dụng niêm luật thơ 1-2-3 trong sáng tác của mình.


Nhà thơ Phan Hoàng.

Có thể nói, ở phần lý luận văn học, tác giả đã mạnh dạn đưa ra những tư duy riêng biệt về phê bình bên cạnh những lý thuyết đã định hình từ những ngày đầu của phê bình văn học Việt Nam, như “ Phê bình và Cảo luận của Thiếu Sơn”, “ Sự cần thiết của điểm huyệt trong truyện ngắn”, “Sự vận động của thể loại văn học”..v..v..Tác giả định nghĩa vai trò tiên phong của nhà phê bình văn học. Sự tác động tích cực tạo môi trường phát triển, cũng như tạo động lực sáng tác nói chung mà nhà phê bình có thể góp sức mang lại cho văn đàn.

Không tìm thấy từ “phê bình văn học” trong từ điển Việt Nam. Chỉ có mục từ “PHÊ BÌNH – động từ. Đem cái hay hoặc cái dỡ ra mà xét và tìm nguyên nhân, để do đó phát huy cái hay, sửa chữa cái dở: Gạo càng giã càng trắng, người càng phê bình, càng hay (Hồ Chí Minh)- Trang 965; Từ điển Tiếng Việt - Văn Tân chủ biên, Nhà xuất bản khoa học xã hội, in lần thứ 3 có chỉnh lý bổ sung, năm 1991. Cũng từ điển này, trang 1326 có mục từ “VĂN HỌC – danh từ. Nghệ thuật dùng ngữ ngôn và hình tượng để biểu hiện tình cảm, tư tưởng, đời sống”. Ghép hai từ lại chúng ta có cụm từ PHÊ BÌNH VĂN HỌC; và theo nghĩa trên, cuốn sách này không làm nhiệm vụ phê bình văn học; Cuốn sách không viện dẫn kiến thức lý luận phê bình văn học, lý luận sáng tác văn học.

Do đó, nhiều học giả định nghĩa phê bình văn học với nghĩa rất rộng. Gần đây, hiện tượng trí thông minh nhân tạo AI (Artificial intelligence) bình giảng thơ được một số nhà văn, nhà thơ thích thú do tính duy lý của các bình giảng và cũng được xem như là phê bình văn học.

Đa số cho rằng: khác với người viết phê bình văn học nghiệp dư ở chỗ nhà lý luận phê bình văn học được đào tạo bài bản và sau đó tự học lên…

Nếu đối chiếu với Hoài Thanh, nhà phê bình nổi tiếng nhất 2 thế kỷ ở nước ta, đã có những đóng góp về mặt phê bình, lý luận để khẳng định Thơ mới trong văn học Việt Nam thế kỉ XX; ông chẳng có học hàm học vị giáo sư, tiến sỹ văn chương… có thể nói rằng: nếu tạo ra kết quả hướng dẫn nền văn học phát triển và thẩm định giá trị các tác phẩm trường tồn thì bất cứ họ là ai đều được độc giả tôn vinh là nhà lý luận  phê bình văn học thực thụ; các ý kiến, lập luận sẽ được độc giả lưu tâm.

***

Phần II. Tác giả - Tác phẩm có 22 bài, gói gọn trong 167 trang, chiếm 73%.

Tác giả lập luận độc giả quyết định về đánh giá giá trị tác phẩm từ đó: “sự định vị tác giả trong tiến trình văn học… không bao giờ bất biến, vĩnh cữu; bởi nó liên quan đến sự thay đổi các cách đọc hiểu của từng thời đại, thậm chí từng cá nhân” - trang 37. Từ nguyên lý này, các bài viết về phê bình tác phẩm được Bảo Bình tập trung phân tích 2 khía cạnh:  Đóng góp của tác phẩm, tác giả ở góc độ định vị tác giả trong nền văn học với góc nhìn mới của hôm nay, nhưng không phải là bất biến nếu xét từ khi tác phẩm ra đời và mãi mãi về sau khi nó còn sống đời sống văn học sử.

 Đánh giá sự nghiệp thơ của nhà thơ Hoài Vũ: “Tình cảm mà ông đặt vào (thơ) là một sự vô cùng của cái đẹp, là sự vĩnh hằng của lý tưởng trong sự lồng ghép các hiện tượng xã hội mang tính lịch sử. Bằng bút pháp trữ tình xen lẫn tự sự, nhà thơ xuyên thẫm (thẩm thấu) trái tim thuần khuyết yêu thương vào hiện thực chiến tranh tàn khốc, làm bật dậy những khát khao cháy bỏng của con người. Khát khao hạnh phúc của dân tộc” ” - trang 64.

 Nhà thơ Hoài Vũ xuất hiện với 3 bài viết trong tập sách này, đủ để thấy sức ảnh hưởng cũng như sự trân trọng mà tác giả dành cho nhà thơ. Từ “ Thì thầm với dòng sông”, “ Gái thời chiến” và rồi “ Hoa trong tuyết”: “Dịch giả Hoài Vũ có sự chọn lọc hợp lý, tinh tường để rồi chuyển ngữ một cách sinh động, sắc nét và cuốn hút đến lạ lùng. Không khó để thấy rằng những câu chuyện được dịch thuật ở đây gần với chúng ta về văn hóa, về lịch sử…” Hy vọng khi tái bản, Bảo Bình sẽ làm rõ hơn về chân dung văn học của nhà thơ Hoài Vũ, nét khác biệt của nhà thơ; làm nên sự định vị tác giả trong tiến trình văn học Việt Nam như là đại diện lớn nhất của tác giả thơ lãng mạn cách mạng trong bối cảnh chiến trường khốc liệt Long An và vùng ven Sài Gòn ở vào những năm tháng chiến tranh chống Mỹ khốc liệt nhất.

 “Nguyễn Minh Châu là cây bút sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mạn…. Nhà văn đã phản ánh hiện thực đời sống / thân phận con người trong những hoàn cảnh khắc nghiệt, đặc biệt và bi kịch bằng cái nhìn sâu sắc, bằng cảm xúc xót xa và bằng tâm trạng đau đớn … (nhưng khác với các tác giả đương thời là tâm trạng) bất lực”. - trang 70 và trang 71. Nếu không có phát hiện đó, dĩ nhiên Nhà văn Nguyễn Minh Châu, tác giả duy nhất không sinh ra và lớn lên cũng như không có tác phẩm viết về đồng bằng sông Cửu Long sẽ không có sự hiện diện trong tập sách này do không có sự định vị vững chắc trong văn học sử của địa phương. Đọc chậm “ Đồng bằng, âm vang và những nốt trầm”, ta sẽ nhận ra Bảo Bình không phải chỉ nói về các tác giả đồng bằng, mà cả những tác phẩm viết về đồng bằng, dù tác giả đó có sinh ra và sống ở bất kỳ đâu trên đất nước này.

“Thơ Trang Thế Hy – cuộc giao tiếp hữu hiệu giữa nội tâm và ngoại giới – lồng trong những sắc từ âm ngữ dư ba của một hệ tư tưởng minh triết và nghiêm khắc về nghề văn và người cầm bút” - trang 78, theo tôi nhận định này có nét độc đáo, cẩn ngôn và chuẩn xác mà tác giả dành cho nhà thơ Trang Thế Hy.

Hay, “Đồng bằng Nam bộ với các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, Chăm… làm nên một đời sống văn hóa đa sắc màu, độc đáo. Đời sống lao động sản xuất cần cù, chăm chỉ, chịu thương, chịu khó. Đời sống tinh thần phóng khoáng, bộc trực, hy sinh. Tất cả, quyện vào nhau, làm nên một đồng bằng trù phú, cuốn hút và say đắm” - trang 107. Đó là nền để 18 tác giả sinh ra và lớn lên ở đồng bằng sông Cửu Long tạo ra sự nghiệp văn chương được tác giả Bảo Bình chăm chút nâng niu nên tìm được nét mới định hình trong nền văn học nước nhà, đưa vào tập sách. Cách mà tác giả đánh giá về tác phẩm của các nhà văn khiến tôi trân trọng, Bảo Bình công phu tìm ra những điểm mạnh, cái hay mà tác phẩm mang lại, đồng thời rất khéo léo, nhẹ nhàng và thuyết phục khi chỉ ra những mặt còn hạn chế. Trong văn chương, cần lắm thay những ngòi bút tâm huyết thế này.

Phần tác giả tác phẩm Cần Thơ phải kể đến các tên tuổi như: Lê Chí, Phù Sa Lộc, Trúc Linh Lan...cùng một số cây bút trẻ như: Phan Duy, Huỳnh Ngọc Huy Tùng. Cũng nhờ có “ Âm vang và những nốt trầm” mà bạn đọc được biết nhiều hơn đến các tác giả cũng như một số tác phẩm hay, mang đậm giá trị nhân sinh, đạo nghĩa. Cũng như giúp bạn đọc hiểu sâu hơn về đất và người nơi vùng châu thổ nghĩa tình. Ở đây, tôi chỉ trích ra những nghiên cứu có hàm lượng mới, mang tính học thuật cũng như giá trị văn học mà tác giả đã dày công mang lại, để thấy rằng “ Trong văn chương, trường phái triết học tâm đắc thường sẽ ảnh hưởng sâu sắc ngòi bút tác giả. Và sự thấu suốt về lý luận, thể loại cũng sẽ tác động không nhỏ đến thủ pháp nghệ thuật. Cùng với đó là tâm hồn, thái độ, tư duy, trình độ… khiến mỗi nhà văn, nhà thơ sẽ làm nên sự khác biệt cho mình. Một tư tưởng, một phong cách, một giọng điệu… không trùng lắp và nhầm lẫn được” trang 221.

Do bài viết chỉ là cởi ngựa xem hoa nên tôi không thể đề cập chi tiết hết 18 bài viết còn lại. Có lẽ, tìm đọc là cách duy nhất để bạn hiểu rõ hơn về tác phẩm cũng như một số tác giả nơi vùng sông nước hữu tình này.

Nhà văn Bảo Bình sinh năm Nhâm tý, tên thật Lê Thị Thanh Tuyền. Nguyên là Trưởng khoa Sư phạm, trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang. Hội viên Hội Nhà văn Cần Thơ, sống và viết tại Cần Thơ. Khi còn là sinh viên, Bảo Bình đã sáng tác và có thơ đăng báo. Khi trở thành giảng viên, Bảo Bình là cộng tác viên thường xuyên của tạp chí ngành, tạp chí văn nghệ Tỉnh. Có nhiều thơ, văn đăng ở các báo và tạp chí. Trong quá trình làm giáo dục, tình yêu văn chương được Bảo Bình thể hiện trên bục giảng, và giờ đây “chọn nghỉ hưu trước tuổi để có nhiều thời gian hơn cho gia đình và viết lách”, Bảo Bình đã tiếp tục hành trình đam mê văn học bằng ngòi bút sắc bén của mình trên cả lĩnh vực sáng tác lẫn phê bình. Thơ văn của Bảo Bình đã không còn xa lạ với bạn đọc, một số bài thơ đã chạm vào cảm xúc của các nhạc sĩ và cất lên thành lời nhạc sâu lắng, như “ Trầm tích”, “ Lời ru bướm vàng”,“ Tiếng đàn từ ngôi nhà sau vách đá”... Một số tác phẩm của Bảo Bình đã được đưa vào chương trình giáo dục địa phương lớp 12, như “ Mùa điên điển”, “ Nghiêng thời gian”, “ Mẹ, ba và con”...minh chứng cho năng lực sáng tạo và cảm thấu văn chương nơi tâm hồn tinh nhạy này.

Bàn thêm về đặt tên tập sách, dưới dạng duy tình, muốn đền ơn Nam bộ, nơi sinh thành nên tác giả đã chọn đặt tựa đề 8 chữ, khá dài; tuy nhiên đã phần nào khái quát được nội dung mà quyển sách muốn đề cập.

 Hiện nay, phê bình văn học nhiều nhưng mãng lý luận văn học ít được quan tâm, việc có một tác giả viết về mãng này ở Tây Đô cho thấy văn học khu vực đang phát triển trong hệ sinh thái văn chương đa vùng miền và đa văn hóa Việt Nam...

Sài Gòn mùa hè năm 2025

LTH.

Ghi chú:  Những chữ viết xiên là trích nguyên văn từ ngữ của cuốn sách thơ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm