TIN TỨC

Phát triển

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-08-17 15:43:03
mail facebook google pos stwis
1128 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

Nội dung quyết định hình thức. Xét cả quá trình văn học lâu dài, các hình thức tác phẩm kế tiếp nhau xuất hiện, tác động vào nền văn học, góp phần tạo ra phát triển văn chương. Bài viết chỉ đề cập đến chủ đề này của cuốn sách. 

Bìa sách ĐỒNG BẰNG ÂM VANG VÀ NHỮNG NỐT TRẦM – Mã số ISBN: 978-604-497-253-4.

Sách chia làm 2 phần. Phần I. Văn học và phê bình văn học có 5 bài, gói gọn trong 51 trang, chiếm 23% số trang nhưng dung lượng và kiến thức mới đưa vào đây được cô đặc, giản hóa phù hợp với độc giả không chuyên về lý luận phê bình có được một số kiến thức đại cương vừa đủ để đọc phần còn lại của cuốn sách.

Bảo Bình phân biệt người viết phê bình văn học khác với nghề giáo bình giảng văn học hay người viết cảm tưởng (cảm nhận và liên tưởng): "nhà phê bình văn học là người nghệ sỹ chân chính nhất.... họ (cần phải có) trí tuệ và mạnh mẽ khi sử dụng ngòi bút của mình trên con đường đi tìm chân lý, đi tìm cái đẹp. Nhà phê bình (văn học) là người có năng lực thẩm định văn chương, phân tích lý tính, nghị luận..., có hiểu biết sâu sắc, am tường văn hóa, trực giác mãnh liệt... đó là những yếu tố không thể thiếu ở nhà phê bình" - trang 10.

Định nghĩa phê bình tác giả văn học ngắn gọn: "phác họa nên chân dung, sự nghiệp, phong cách, vị trí (trong nền văn học và do đó nếu không có vị trí, vê lâu dài, sẽ không gọi là tác giả văn học) của nhà văn" - trang 13.

Phân tích tác phẩm "dựa trên cơ sở lý luận, (nên) có đối chiếu, so sánh với những tác phẩm, tác giả cùng thời; rồi từ đó nhận diện khái quát một vấn đề, bày tỏ một quan điểm hết sức rõ ràng, điều chưa ai làm được" - trang 17. Từ đó cho thấy nếu phê bình văn học không phát hiện cái mới so với thời đại, hoặc khơi gợi vấn đề mới trong hiện tại với tác phẩm cũ, thì bài viết không đạt chuẩn mực phê bình văn học xét theo tiêu chí phát triển và cũng không ích lợi cho người sáng tác cũng như văn hóa đọc.

Nghiên cứu sự phát triển thể loại văn học theo dòng thời gian, dùng cách biểu đạt hình ảnh và có chiều thời gian do tác giả chỉ ra quy luật vận động: "Vận động ở đây là sự biến đổi. Là sự đa dạng hóa, phong phú thêm về thể loại; là sự tiến hóa (phát triển) cao hơn” - trang 22. “Về bản chất, thể loại đã vận động song hành (trong) cùng lịch sử văn học” - trang 23;  góp phần tạo ra sự phát triển ngày càng cao hơn. Đó là sự tác động biện chứng của mối liên hệ giữa hình thức và bản chất. Cách thức thể hiện quy luật này là “sự tương tác: với đời sống, giữa các thể loại (với nhau) với bên ngoài, và với ý thức sáng tạo, (thúc đẩy do ý muốn) cách tân chủ thể” - trang 24. Lý do sinh ra thể loại mới “Với văn học, nhu cầu làm mới cho nghệ thuật là nhu cầu bất tận, và thế là thể loại mới ra đời” - trang 26.

Bàn về tâm lý học, lĩnh vực luôn ẩn vào tác phẩm văn chương; Bảo Bình lướt qua Phân tâm học của S.Freud: “cấu trúc tâm lý con người tương ứng với vô thức, tiền ý thức và ý thức”.Tương ứng với cấu trúc nhân cách: “Cái ấy: gồm bản năng vô thức, không tính tới các quy tắc và quy định xã hội” – phần con. “Cái tôi: hoạt động, (bị) điều chỉnh và kiểm soát bởi thực tiễn” – có ý thức - trang 30 “Cái siêu tôi: bao gồm ý thức và đạo đức” - trang 31; do giáo dục và ý thức cá nhân xã hội tạo nên được văn học tận dụng cho mục đích ẩn: hiểu sâu hơn về bản chất con người.

Về thủ pháp viết truyện ngắn, Bảo Bình đã làm rõ hơn, sâu hơn về 3 loại tình huống nhỏ đan xen cần được đặc biệt chú ý: “Tình huống: tâm lý / hành động / nhận thức… ít khi tách rời… luôn bổ sung, tương trợ lẫn nhau” - trang 48.  

Để kết lại phần 1, Bảo Bình dẫn ra thể loại thơ mới “Thơ 1-2-3”; “được khai sinh bởi nhà thơ, nhà báo Phan Hoàng” - trang 54 là minh chứng sống động của hình thức vận động trong phát triển của nội dung. Tác giả chỉ ra đặc điểm thể loại thơ 1-2-3: “câu 1 và câu 6 là một mắt xích vô hình, bện chặt. Đó không chỉ là sự hô ứng, mà còn là sự liên kết tứ đầy tính logic và ám gợi (mở). Câu mở và câu kết của bài thơ như ổ khóa và chiếc chìa khóa của nhau vậy, (tạo ra hiệu ứng) sẽ dừng lại nơi tâm hồn hoặc tư duy (và có thể là cả hai của) người đọc một tình cảm, một vấn đề nào đấy cần được quan tâm, chia sẽ và khai mở” - trang 55. Đó là hình thức mới trong nội dung cũ viết về mọi chủ đề mà các tác giả đã viết mòn cả bút được nhà thơ Phan Hoàng tìm ra hình thức thể hiện mới. Và ở đây, Bảo Bình đã nhìn nhận thể loại này như một đột phá của thi ca. Hiện tại, một số nhà thơ sử dụng niêm luật thơ 1-2-3 trong sáng tác của mình.


Nhà thơ Phan Hoàng.

Có thể nói, ở phần lý luận văn học, tác giả đã mạnh dạn đưa ra những tư duy riêng biệt về phê bình bên cạnh những lý thuyết đã định hình từ những ngày đầu của phê bình văn học Việt Nam, như “ Phê bình và Cảo luận của Thiếu Sơn”, “ Sự cần thiết của điểm huyệt trong truyện ngắn”, “Sự vận động của thể loại văn học”..v..v..Tác giả định nghĩa vai trò tiên phong của nhà phê bình văn học. Sự tác động tích cực tạo môi trường phát triển, cũng như tạo động lực sáng tác nói chung mà nhà phê bình có thể góp sức mang lại cho văn đàn.

Không tìm thấy từ “phê bình văn học” trong từ điển Việt Nam. Chỉ có mục từ “PHÊ BÌNH – động từ. Đem cái hay hoặc cái dỡ ra mà xét và tìm nguyên nhân, để do đó phát huy cái hay, sửa chữa cái dở: Gạo càng giã càng trắng, người càng phê bình, càng hay (Hồ Chí Minh)- Trang 965; Từ điển Tiếng Việt - Văn Tân chủ biên, Nhà xuất bản khoa học xã hội, in lần thứ 3 có chỉnh lý bổ sung, năm 1991. Cũng từ điển này, trang 1326 có mục từ “VĂN HỌC – danh từ. Nghệ thuật dùng ngữ ngôn và hình tượng để biểu hiện tình cảm, tư tưởng, đời sống”. Ghép hai từ lại chúng ta có cụm từ PHÊ BÌNH VĂN HỌC; và theo nghĩa trên, cuốn sách này không làm nhiệm vụ phê bình văn học; Cuốn sách không viện dẫn kiến thức lý luận phê bình văn học, lý luận sáng tác văn học.

Do đó, nhiều học giả định nghĩa phê bình văn học với nghĩa rất rộng. Gần đây, hiện tượng trí thông minh nhân tạo AI (Artificial intelligence) bình giảng thơ được một số nhà văn, nhà thơ thích thú do tính duy lý của các bình giảng và cũng được xem như là phê bình văn học.

Đa số cho rằng: khác với người viết phê bình văn học nghiệp dư ở chỗ nhà lý luận phê bình văn học được đào tạo bài bản và sau đó tự học lên…

Nếu đối chiếu với Hoài Thanh, nhà phê bình nổi tiếng nhất 2 thế kỷ ở nước ta, đã có những đóng góp về mặt phê bình, lý luận để khẳng định Thơ mới trong văn học Việt Nam thế kỉ XX; ông chẳng có học hàm học vị giáo sư, tiến sỹ văn chương… có thể nói rằng: nếu tạo ra kết quả hướng dẫn nền văn học phát triển và thẩm định giá trị các tác phẩm trường tồn thì bất cứ họ là ai đều được độc giả tôn vinh là nhà lý luận  phê bình văn học thực thụ; các ý kiến, lập luận sẽ được độc giả lưu tâm.

***

Phần II. Tác giả - Tác phẩm có 22 bài, gói gọn trong 167 trang, chiếm 73%.

Tác giả lập luận độc giả quyết định về đánh giá giá trị tác phẩm từ đó: “sự định vị tác giả trong tiến trình văn học… không bao giờ bất biến, vĩnh cữu; bởi nó liên quan đến sự thay đổi các cách đọc hiểu của từng thời đại, thậm chí từng cá nhân” - trang 37. Từ nguyên lý này, các bài viết về phê bình tác phẩm được Bảo Bình tập trung phân tích 2 khía cạnh:  Đóng góp của tác phẩm, tác giả ở góc độ định vị tác giả trong nền văn học với góc nhìn mới của hôm nay, nhưng không phải là bất biến nếu xét từ khi tác phẩm ra đời và mãi mãi về sau khi nó còn sống đời sống văn học sử.

 Đánh giá sự nghiệp thơ của nhà thơ Hoài Vũ: “Tình cảm mà ông đặt vào (thơ) là một sự vô cùng của cái đẹp, là sự vĩnh hằng của lý tưởng trong sự lồng ghép các hiện tượng xã hội mang tính lịch sử. Bằng bút pháp trữ tình xen lẫn tự sự, nhà thơ xuyên thẫm (thẩm thấu) trái tim thuần khuyết yêu thương vào hiện thực chiến tranh tàn khốc, làm bật dậy những khát khao cháy bỏng của con người. Khát khao hạnh phúc của dân tộc” ” - trang 64.

 Nhà thơ Hoài Vũ xuất hiện với 3 bài viết trong tập sách này, đủ để thấy sức ảnh hưởng cũng như sự trân trọng mà tác giả dành cho nhà thơ. Từ “ Thì thầm với dòng sông”, “ Gái thời chiến” và rồi “ Hoa trong tuyết”: “Dịch giả Hoài Vũ có sự chọn lọc hợp lý, tinh tường để rồi chuyển ngữ một cách sinh động, sắc nét và cuốn hút đến lạ lùng. Không khó để thấy rằng những câu chuyện được dịch thuật ở đây gần với chúng ta về văn hóa, về lịch sử…” Hy vọng khi tái bản, Bảo Bình sẽ làm rõ hơn về chân dung văn học của nhà thơ Hoài Vũ, nét khác biệt của nhà thơ; làm nên sự định vị tác giả trong tiến trình văn học Việt Nam như là đại diện lớn nhất của tác giả thơ lãng mạn cách mạng trong bối cảnh chiến trường khốc liệt Long An và vùng ven Sài Gòn ở vào những năm tháng chiến tranh chống Mỹ khốc liệt nhất.

 “Nguyễn Minh Châu là cây bút sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mạn…. Nhà văn đã phản ánh hiện thực đời sống / thân phận con người trong những hoàn cảnh khắc nghiệt, đặc biệt và bi kịch bằng cái nhìn sâu sắc, bằng cảm xúc xót xa và bằng tâm trạng đau đớn … (nhưng khác với các tác giả đương thời là tâm trạng) bất lực”. - trang 70 và trang 71. Nếu không có phát hiện đó, dĩ nhiên Nhà văn Nguyễn Minh Châu, tác giả duy nhất không sinh ra và lớn lên cũng như không có tác phẩm viết về đồng bằng sông Cửu Long sẽ không có sự hiện diện trong tập sách này do không có sự định vị vững chắc trong văn học sử của địa phương. Đọc chậm “ Đồng bằng, âm vang và những nốt trầm”, ta sẽ nhận ra Bảo Bình không phải chỉ nói về các tác giả đồng bằng, mà cả những tác phẩm viết về đồng bằng, dù tác giả đó có sinh ra và sống ở bất kỳ đâu trên đất nước này.

“Thơ Trang Thế Hy – cuộc giao tiếp hữu hiệu giữa nội tâm và ngoại giới – lồng trong những sắc từ âm ngữ dư ba của một hệ tư tưởng minh triết và nghiêm khắc về nghề văn và người cầm bút” - trang 78, theo tôi nhận định này có nét độc đáo, cẩn ngôn và chuẩn xác mà tác giả dành cho nhà thơ Trang Thế Hy.

Hay, “Đồng bằng Nam bộ với các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, Chăm… làm nên một đời sống văn hóa đa sắc màu, độc đáo. Đời sống lao động sản xuất cần cù, chăm chỉ, chịu thương, chịu khó. Đời sống tinh thần phóng khoáng, bộc trực, hy sinh. Tất cả, quyện vào nhau, làm nên một đồng bằng trù phú, cuốn hút và say đắm” - trang 107. Đó là nền để 18 tác giả sinh ra và lớn lên ở đồng bằng sông Cửu Long tạo ra sự nghiệp văn chương được tác giả Bảo Bình chăm chút nâng niu nên tìm được nét mới định hình trong nền văn học nước nhà, đưa vào tập sách. Cách mà tác giả đánh giá về tác phẩm của các nhà văn khiến tôi trân trọng, Bảo Bình công phu tìm ra những điểm mạnh, cái hay mà tác phẩm mang lại, đồng thời rất khéo léo, nhẹ nhàng và thuyết phục khi chỉ ra những mặt còn hạn chế. Trong văn chương, cần lắm thay những ngòi bút tâm huyết thế này.

Phần tác giả tác phẩm Cần Thơ phải kể đến các tên tuổi như: Lê Chí, Phù Sa Lộc, Trúc Linh Lan...cùng một số cây bút trẻ như: Phan Duy, Huỳnh Ngọc Huy Tùng. Cũng nhờ có “ Âm vang và những nốt trầm” mà bạn đọc được biết nhiều hơn đến các tác giả cũng như một số tác phẩm hay, mang đậm giá trị nhân sinh, đạo nghĩa. Cũng như giúp bạn đọc hiểu sâu hơn về đất và người nơi vùng châu thổ nghĩa tình. Ở đây, tôi chỉ trích ra những nghiên cứu có hàm lượng mới, mang tính học thuật cũng như giá trị văn học mà tác giả đã dày công mang lại, để thấy rằng “ Trong văn chương, trường phái triết học tâm đắc thường sẽ ảnh hưởng sâu sắc ngòi bút tác giả. Và sự thấu suốt về lý luận, thể loại cũng sẽ tác động không nhỏ đến thủ pháp nghệ thuật. Cùng với đó là tâm hồn, thái độ, tư duy, trình độ… khiến mỗi nhà văn, nhà thơ sẽ làm nên sự khác biệt cho mình. Một tư tưởng, một phong cách, một giọng điệu… không trùng lắp và nhầm lẫn được” trang 221.

Do bài viết chỉ là cởi ngựa xem hoa nên tôi không thể đề cập chi tiết hết 18 bài viết còn lại. Có lẽ, tìm đọc là cách duy nhất để bạn hiểu rõ hơn về tác phẩm cũng như một số tác giả nơi vùng sông nước hữu tình này.

Nhà văn Bảo Bình sinh năm Nhâm tý, tên thật Lê Thị Thanh Tuyền. Nguyên là Trưởng khoa Sư phạm, trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang. Hội viên Hội Nhà văn Cần Thơ, sống và viết tại Cần Thơ. Khi còn là sinh viên, Bảo Bình đã sáng tác và có thơ đăng báo. Khi trở thành giảng viên, Bảo Bình là cộng tác viên thường xuyên của tạp chí ngành, tạp chí văn nghệ Tỉnh. Có nhiều thơ, văn đăng ở các báo và tạp chí. Trong quá trình làm giáo dục, tình yêu văn chương được Bảo Bình thể hiện trên bục giảng, và giờ đây “chọn nghỉ hưu trước tuổi để có nhiều thời gian hơn cho gia đình và viết lách”, Bảo Bình đã tiếp tục hành trình đam mê văn học bằng ngòi bút sắc bén của mình trên cả lĩnh vực sáng tác lẫn phê bình. Thơ văn của Bảo Bình đã không còn xa lạ với bạn đọc, một số bài thơ đã chạm vào cảm xúc của các nhạc sĩ và cất lên thành lời nhạc sâu lắng, như “ Trầm tích”, “ Lời ru bướm vàng”,“ Tiếng đàn từ ngôi nhà sau vách đá”... Một số tác phẩm của Bảo Bình đã được đưa vào chương trình giáo dục địa phương lớp 12, như “ Mùa điên điển”, “ Nghiêng thời gian”, “ Mẹ, ba và con”...minh chứng cho năng lực sáng tạo và cảm thấu văn chương nơi tâm hồn tinh nhạy này.

Bàn thêm về đặt tên tập sách, dưới dạng duy tình, muốn đền ơn Nam bộ, nơi sinh thành nên tác giả đã chọn đặt tựa đề 8 chữ, khá dài; tuy nhiên đã phần nào khái quát được nội dung mà quyển sách muốn đề cập.

 Hiện nay, phê bình văn học nhiều nhưng mãng lý luận văn học ít được quan tâm, việc có một tác giả viết về mãng này ở Tây Đô cho thấy văn học khu vực đang phát triển trong hệ sinh thái văn chương đa vùng miền và đa văn hóa Việt Nam...

Sài Gòn mùa hè năm 2025

LTH.

Ghi chú:  Những chữ viết xiên là trích nguyên văn từ ngữ của cuốn sách thơ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm