TIN TỨC

Tóc xưa còn giữ mấy lời ẩn hương

Người đăng : vanchuong
Ngày đăng: 2021-10-26 06:22:18
mail facebook google pos stwis
2440 lượt xem

TRÚC LINH LAN

Tóc mai sợi vắn sợi dài

Lấy nhau chẳng được thương hoài ngàn năm

(Ca dao)

Đó là câu ca dao mà tôi nhớ khi đọc hết tập thơ “Mười năm bóng ngựa qua thềm cũ” của nhà thơ Nguyễn An Bình. Tôi không đi tìm bóng ngựa, tôi cũng không chạm chân vào thềm cũ của tác giả. Mà tôi đi nhặt từng sợi tóc yêu thương nhà thơ đã đánh rơi trong ký ức đẹp của mình. Sợi tóc mềm mại như mây lại có một lực hấp dẫn làm xao xuyến trái tim của người thầy giáo dạy văn này. Tóc đã đi vào ca dao từ xưa “Một thương tóc bỏ đuôi gà/Hai thương ăn nói mặn mà có duyên” hay “tóc em dài em cài hoa thiên lý/Miệng em cười anh để ý anh thương”. Chính mái tóc làm vương vấn trái tim nhà thơ xuyên suốt, chiếm gần như một phần ba số bài trong tập thơ. Mỗi bài thơ đó của An Bình, ta bắt gặp những sợi tóc có liên quan đến mối tình dang dở của môt thời xa rất xa, một thời học trò hồn nhiên, vu vơ trong sáng… gợi cho bạn yêu thơ thây bóng mình thấp thoáng trong tứ thơ thật lãng mạn dễ thương: “Nhà em ngày xưa góc phố/Thơm nồng từng cánh hoàng lan/Một thời anh hay trốn học/Đợi chờ hương tóc bay sang” (Hương hoàng lan, tr.109), Ta lại bắt gặp một cậu học trò ôm cặp len lén nhìn mái tóc ai đó mà say đắm ngọt ngào:

“Người con gái tóc dài mềm hơn suối

Chảy miên man dịu mát cả hồn tôi

Tình buổi ấy hạt sương mai buổi sớm

Lá thuộc bài mơ ước thât tinh khôi…”

(Tháng ba không ở lại tr.144).

Ơi sao mà dễ thương quá vậy! Mối tình học trò thường ít khi thành nợ phu thê, mà nó chỉ còn là kỷ niệm đẹp để ta giữ lại trong lòng, và nói như các nhà thơ, để ta làm thơ thương nhớ một thời, để nhận ra hiện thực cuộc đời không phải toàn là hoa hồng. Chính sự không trọn vẹn ấy lại trở thành bao kỷ niệm cháy lòng, da diết khôn nguôi: “Dòng sông cũ đẩm tình tôi trong đó/Ngọt tiếng em cười dọc nước giỡn trăng/Từng sợi tóc thơm lòng tôi ngày nọ/Qua cầu tre mang lại chút nắng vàng” (Giặt áo bên sông, tr.12)… “Trong giấc mơ tôi bao mùa mưa nắng/Vẫn nhớ một thời tóc thả gió bay” (tr.18). “Tóc thả gió bay” một hình ảnh thơ thật đẹp, gợi cho tác giả chút ngậm ngùi: “Xưa em chải tóc dưới trăng/Sợi thương rơi mất sợi buồn theo ai?/ Yêu người mấy sợi tóc mai” để rồi “Mùa xưa trăng rụng mất rồi/Nhớ em chải tóc một thời xuân xanh” (Thả lá trên sông, tr.22) và tình yêu đó bây giờ trở thành nỗi ám ảnh: “rong rêu”. Tất cả như phảng phất như khói sương mà sao lãng đãng cả đời của nhà thơ. Bạn yêu thơ yêu lắm hình ảnh một An Bình hết sức cô đơn trong nỗi nhớ riêng mình:

“Đường nhân gian đi hoài không tới

Tôi và em để gió qua sông

Thả sợi tóc bay về vô định

Tôi chờ ai nỗi nhớ mênh mông”

(Phiến tình sầu cuối đông, tr.82).

Mang nỗi nhớ mênh mông ấy, nhà thơ trở về nơi hò hẹn cũ, nhưng người con gái đó lổi hẹn rồi, thử hỏi sao không tiếc nuối ưu tư “sợi tóc hoàng kim sợi tơ trời/hương đưa theo gió rối lòng tôi” nay chỉ còn “Lãng đãng trong sương thơm mái tóc thề/Tình yêu tôi, tình một thời nông nổi”. Những cuộc tình chia tay tháng giêng trở thành nỗi buồn trầm tích hoài niệm khôn nguôi:

“Không biết dổi hờn có làm em ướt mắt

Tôi đánh rơi làn tóc rối hương xưa”

(Chia tay tháng Giêng, tr.118).

*

Lỡ đánh rơi rồi, tất cà trở thành quá khứ, tác giả cất giữ một góc khuất nào đó trong trái tim với lời thú nhận thật ngọt ngào. “Giữ lại đời nhau cuộc tình đánh mất/Se sắt chiều vàng đón lá me bay/Lặng lẽ nơi này mùa xuân trở gió/Tôi vẫn yêu người em đâu có hay” (Giữ lại đời nhau, tr.115). “Tôi vẫn yêu người em đâu có hay”. Cháy lòng quá nhà thơ ơi! Tất cả rồi cũng xa, nhưng sao mà thăm thẳm trái tim mình: “Gió cuốn đi áo huyền sương ngày nọ/Màu tóc mây em thả lửng bên trời/Con đường xa đem theo bao bụi đỏ/Chỉ một lần mãi thương nhớ khôn nguôi”, bây giờ. “Hãy trôi đi màu tóc xưa đã bạc/Nghiêng vai người từng sợi nhớ sợi thương” (Áo huyền sương, tr.32). Câu hẹn kiếp sau quen thuộc ấy hình như nhà thơ thấy rất huyễn hoặc vì vậy anh cảm thấy hoài nghi. “Đợi cầu vồng tạnh mưa ngâu/Nên duyên hạnh ngộ kiếp sau còn buồn” (Khúc tình sầu trong mưa, tr.69). Thôi thì kiếp này nhà thơ đã tìm ra một sợi tóc trói buộc cuộc đời mình, và sơi tóc mảnh mai này bền chặt đoạn cuối một cuộc tình trăm năm. Trong bài thơ “Cám ơn em” nhà thơ đã bày tỏ thật lòng, nghe mà ngưỡng mộ: “Cám ơn em mất một đời/Theo tôi cuối đất cùng trời truân chuyên”. Trở lại với thực tại hiển nhiên, một nơi mà bếp lửa gia đình vẫn tỏa sáng, ấm áp, bình yên để chiêm nghiệm một điều “Yêu người ngực ủ trầm hương/Trăm năm hơi thở còn thương tóc mềm”. Tuyệt vời.

Thơ Nguyễn An Bình không mới, một lối thơ truyền thống mượt mà, giàu nhạc điệu, giàu hình ảnh đẹp. Nhưng có lẻ bài thơ “Ẩn hương” là bài thơ tôi thích, vì theo tôi thì hình như bạn yêu thơ đang bắt gặp một hồn thơ thật sự, rất cô đơn, một mình thấp ngọn đèn khuya đối diên với nàng thơ, một mình với kỷ niệm, một mình với thổn thức ngày xưa? Tôi thích một Nguyễn An Bình suy tư với chính mình: “Tìm người chỉ thấy bóng tôi/Đi lang thang giữa dòng đời mộng du”… “Tìm nhau suốt cõi ta bà/ Một tôi chiếc bóng la đà mù sương”. Thôi thì: “Chút tình muôn dặm biển khơi/Tóc xưa còn giữ mấy lời ẩn hương?”. Nguyễn An Bình biết rất rõ vướng nợ với văn chương đã nhọc nhằn, vướng nợ với nàng thơ càng cô đơn hơn trên con đường hành hương vô định. Mùi hương này ẩn giấu nơi đâu? Và dấu chấm hỏi như một câu đố mà chính tác giả còn mãi miết đi tìm.

Một thầy giáo chuẩn mực. Một cuộc sống quy củ… Thật không dễ dàng để tác giả thoát ra khỏi khuôn phép cứng nhắc ấy đem đến các bạn yêu thơ một vườn hoa đầy hương sắc, mà nhà thơ Nguyễn An Bình đã làm được, rất thành công. Nhà thơ mời chúng ta chung rượu thơm, ngọt ngào nhưng vẫn chưa làm chúng ta say. Tôi thấy hình như tác giả còn hẹn với chúng ta điều gì:

“Nhánh sông buồn lở bồi ai gọi

Làn hương em tóc nhớ đêm ngày

Chim gọi mãi một mùa trăng vỡ

Tình yêu tôi còn cốc rượu say”

(Chút mưa xưa nào ấm vai người, tr.37)

Các bạn yêu thơ cũng như tôi đang háo hức chờ cốc rượu say mà tác giả còn giấu lại đâu đó. Và một ngày không xa chúng ta sẽ cùng tác giả ngây ngât một mùa say.

T.L.L.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm