TIN TỨC

Triệu hạt tâm hồn rót đầy biển tình yêu

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-03-05 05:27:39
mail facebook google pos stwis
2739 lượt xem

VÕ THỊ NHƯ MAI

(Đọc PHẢI CHI MÂY TRẮNG KHÔNG NGANG NGÕ, Nguyễn Đức Quận, NXB Hội nhà văn, 2024)


 

I. GIỮA NHỮNG DÒNG HOÀI NIỆM

Mẹ vẫn ở đó, trong ngôi nhà nhỏ ở quê. Con đã đi xa từ những ngày thanh xuân còn đang chảy trên lối cũ. Mười năm, rồi lại mười năm nữa, quãng đường đi chừng ngắn đó mà ngón tay đếm không xuể, lòng trống vắng mà ký ức lại quay về. Bên đó, mẹ thắt thỏm, tất bật như ngày cũ. Đó là điều duy nhất con dám tin rằng không đổi thay giữa bao điều đã nằm ngoài bàn tay con. Những mùa năm cũ, lúc con còn bên mẹ, những buổi chiều hè rực đỏ hay đêm mùa đông gió lạnh, mẹ đều nhóm lửa, đun nước, kể chuyện con nghe. Sáng mai mặt trời lên đẹp lắm, ai mà tĩnh tâm thì nhìn thấy ánh hồng lung linh. Lúc đó con nghĩ rằng, những điều như thế mẹ nói với con để làm gì? Rồi con lớn, rời quê hương, bước vào đô thành ồn ào, và chẳng bao giờ có thời gian dành cho những ánh hồng lung linh đó. Con lại học những bài học khác, về sự cần cù, về những chuyến xe tải chở hàng đi và đến, về những ngày chông chênh giữa đời. Rồi có những đêm con chợt giật mình thức giấc, ngồi nhắm mắt và thấy mây trắng bay qua ngõ nhà, che đi bóng mẹ đang tần tảo nơi quê xa. PHẢI CHI MÂY TRẮNG KHÔNG NGANG NGÕ. Con đi xa, mang theo lòng mình những vị ngọt của câu chuyện đêm mùa hè, những bài ca dao mẹ hát, những đêm đốt lửa khoai hồng ấm áp. Rồi có ngày, những điều đó trở nên xa lạ. Cuối ngày, có khi con muốn nghe một tiếng "con ơi" từ giọng mẹ, nhưng chỉ có tiếng gío rét luồn qua khung cửa

Và cứ thế, những bước chân phiêu bạt giữa cuộc đời vẫn mãi quay về một khoảng trời nhớ mẹ. Đọc PHẢI CHI MÂY TRẮNG KHÔNG NGANG NGÕ của Nguyễn Đức Quận, lòng ta như được trải ra giữa những cung bậc của nhớ thương, day dứt và tiếc nuối. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của riêng tác giả mà còn là nỗi niềm chung của những kẻ xa quê, những người con mãi lặn lội giữa dòng đời, để rồi một ngày giật mình nhận ra—mẹ vẫn ở đó, nhưng bóng mẹ đã nhòa dần trong sương khói thời gian. Từng câu thơ khắc khoải, chân thành, chạm đến sâu thẳm tâm hồn, khiến ta không khỏi tự vấn: phải chi thời gian chậm lại, phải chi những bước chân chưa từng rời đi, phải chi… mây trắng không ngang ngõ, để giây phút bên mẹ mãi còn vẹn nguyên.

Có những nỗi nhớ nằm sâu trong lòng, chỉ chờ một câu thơ khẽ chạm là trào dâng như sóng. PHẢI CHI MÂY TRẮNG KHÔNG NGANG NGÕ của Nguyễn Đức Quận là một tập thơ như thế, nhẹ nhàng mà da diết, giản dị mà khắc khoải. Trong từng dòng chữ, ta thấy hình bóng quê hương, nghe được nhịp thở của những tháng năm cũ, cảm nhận được nỗi lòng của một người con xa xứ mãi khôn nguôi niềm thương nhớ. Tôi đọc tập thơ theo bốn ý chủ đạo, như bốn cánh cửa mở ra những miền cảm xúc khác nhau. Ở đó có quê hương vẫy gọi, có những mùa tháng đã đi qua nhưng vẫn đọng lại trong ký ức, có khát khao một bến bờ an yên giữa bao dâu bể, và có cả những tâm tư thầm kín mà không phải lúc nào cũng dễ dàng bày tỏ. Nguyễn Đức Quận không tô vẽ những nỗi niềm bằng lời hoa mỹ mà để cảm xúc tự nhiên chảy trôi, chân thành và sâu lắng. Đọc thơ anh, ta như được trở về với chính những ký ức của mình, để rồi chợt nhận ra, trong dòng chảy vô tận của thời gian, có những điều dù xa đến đâu cũng chẳng thể phai mờ.

 

II. BỐN CÁNH CỬA MỞ RA NHỮNG MIỀN CẢM XÚC

1. Miền đất gọi mời

Quy Nhơn mời gọi những kẻ lữ hành bằng tiếng sóng vỗ rì rào, bằng những con đường đầy nắng, nơi biển xanh ôm ấp bờ cát dài dịu dàng như một lời tự tình. Thành phố ấy không vồn vã, mà trầm lắng, tựa như một bài thơ chưa viết hết, để ai đến rồi cũng lưu luyến chẳng muốn rời. Thăm bến My Lăng, ta bắt gặp hình bóng những con thuyền nhỏ chở đầy nỗi niềm của người dân chài. Nơi đây, nước mặn và tình người quyện vào nhau, dệt nên bức tranh quê hương bình dị mà sâu đậm. (Cầu Trường Thi nối đôi bờ lở/ Sông Cửa Tiền  êm sóng ru trăng/ Chân quay gót ta còn mãi nhớ/ Một lần về thăm bến My Lăng).. Chiều Quy Nhơn đổ bóng xuống những hàng phi lao, gió thổi mát những câu chuyện cũ. Trong khoảnh khắc ấy, lòng ta bình yên đến lạ, như thể thời gian đang ngừng lại, như thể chỉ cần một tiếng gọi là có thể quay về những ngày tháng xưa.

Hát với dòng Kôn, ta nghe được tiếng vọng của lịch sử, những câu ca về một thời binh đao lửa đạn, về những anh hùng đã ngã xuống để đất nước được bình yên. Dòng sông ấy không chỉ chở phù sa mà còn gánh cả bao nhiêu ký ức của người dân Bình Định. (Huyền Trân  ôm giấc mộng dài/ Tháp Chăm trầm mặc u hoài đau thương/ Về đây hát với quê hương/ Trường Thi bến nước còn vương vấn lòng). Dòng Kôn tắm mát bóng dừa, trôi qua bao làng mạc, bao bến bờ, chứng kiến biết bao đổi thay của đất nước. Những câu hát giao duyên xưa vẫn còn vương trên mặt nước, níu giữ bước chân người lữ khách chưa muốn rời xa. Bến bến Trường Thi, nơi từng lớp người trẻ mài giũa kinh thư, ôm ấp bao khát vọng. Đã qua rồi thời bảng vàng bia đá, nhưng trong sâu thẳm, giấc mơ vươn xa vẫn còn vang mãi, theo những dòng sông, theo những con đường, theo những người con rời quê đi muôn hướng nhưng lòng vẫn nhớ về...

Phú Yên cất lên tình ca giữa những cánh đồng xanh, nơi hoa vàng trải dài trên cỏ xanh như một bức tranh bất tận. Đất trời nơi đây đẹp đến nao lòng, khiến ai một lần đặt chân đến cũng muốn lưu lại mãi mãi. (Đưa em về lại Vũng Rô/ Bình minh ló dạng thuyền vô cá đầy/ Bên nhau duyên lại thắm say/ Trời yên biển lặng tình ngây ngất tình).

Tình ca Lý Sơn vang lên giữa biển trời rộng lớn, nơi những hòn đảo nhỏ giữ lấy hồn thiêng đất mẹ. Sóng biển miệt mài vỗ vào vách đá, như lời thì thầm của những người con kiên cường bám biển, giữ đảo, giữ quê hương. (Ta đưa nhau thăm núi Giếng Tiền/ Triệu năm rồi nay vẫn giữ nguyên/ Lên Thới Lới xem mây vờn đỉnh/ Xuống Tò Vò tìm chút an yên). Quảng Ngãi ta ơi, miền đất nặng nghĩa tình, nơi từng thớ đất, từng ngọn núi, từng dòng sông đều khắc ghi dấu chân cha ông. Mảnh đất ấy, dù có đi xa bao nhiêu, vẫn mãi là nơi để trở về.

Bình Định ta ơi, bao nhiêu năm vẫn sừng sững với võ trận Tây Sơn, với những câu hát bội ngân vang trong đêm hội. Người Bình Định chân chất, kiên trung, như sóng biển ngày đêm vỗ bờ, như mạch nguồn bất tận của những câu thơ còn vang mãi. Lại Giang đôi bờ tựa một khúc hát quê hương, lúc trầm lúc bổng theo từng con nước. Hai bờ sông in bóng những nhịp cầu, nơi những đôi lứa hẹn hò, nơi những người con xa quê thầm gửi nỗi nhớ vào con sóng lăn tăn.

Đi thêm nữa để gặp người con gái, em nghiêng nón lá Gò Găng, bóng hình ấy như một nét chấm phá dịu dàng trên bức tranh quê. Cô gái nhỏ, nụ cười e ấp, bước chân nhẹ nhàng bên bờ sông, tựa như một dáng hình quá đỗi thân thương trong ký ức. Miền đất ấy, mãi mãi là một khúc tình ca trong tim người xa xứ.

2. Những mùa đi qua

Tháng Tư về, mang theo hơi thở nồng nàn của mùa hạ mới chớm. Những cơn gió đổi màu, những cành bằng lăng bắt đầu chấm tím lên trời. Lòng người cũng nhẹ bẫng như những vệt mây trắng lửng lơ trên nền trời trong vắt. (Tháng chạm khẽ vào cánh phượng/ Phượng chỉ mỉm cười không nói năng/ Nắng đứng trộm nhìn chim bướm lượn/ Sân trường ôm ấp bước chân quen). Tháng Tư, tháng của những cuộc chia ly, những trang lưu bút viết vội, của những năm tháng thanh xuân còn dang dở. Nắng tháng Tư mang vị ngọt của những ngày giao mùa, khi hạ vẫn còn e ấp nơi đầu ngõ, khi những cơn mưa rào chưa kịp trút xuống. Người ta bảo, tháng Tư có những vạt nắng vàng chỉ lắm – không gay gắt mà cũng chẳng nhạt nhòa, đủ để hong khô những miền ký ức còn ướt đẫm trong tim.

Rồi bâng khuâng tháng Năm ùa về, mang theo chút luyến lưu từ mùa cũ. Đâu đó, tiếng ve râm ran trong vòm lá, báo hiệu những ngày hè sắp đến. Lòng người cũng chợt bâng khuâng như chính những con đường ngập sắc phượng hồng, rực rỡ nhưng cũng chất chứa bao nỗi niềm. Hạ tím lặng lẽ trôi qua những hàng cây, để lại sắc bằng lăng buồn đến nao lòng. Đâu đó, có một mùa yêu chợt đến rồi vội đi, như những cánh hoa rơi trên vai áo ai, không kịp giữ lại một lời hẹn. (Phượng hồng xác pháo thầm thương/ Ép vào trang vở mùi hương thơm lừng/ Chia tay xa cách người dưng/ Mà sao lại nhớ quá chừng đi thôi)

Mùa thu bất chợt, như một lời hẹn không báo trước. Gió se lạnh thoảng qua vai áo mỏng, lá vàng chao nghiêng trên những con phố nhỏ. Có những ngày trời xanh đến nao lòng, có những buổi chiều nắng rót mật lên từng ô cửa sổ. Người ta thường nhớ về mùa thu bằng những điều dịu dàng nhất – một góc phố cũ, một bản tình ca xưa, một dáng người lặng lẽ bên đường… (Cánh đồng trải thảm hướng dương/ Vàng ươm lan tỏa thơm đường chân qua/ Dạ yến thảo đa sắc hoa/ Trắng, hồng, đỏ, tím ... mặn mà, thanh tao). Hoa thu tháng Tám nở âm thầm trên những lối đi. Không rực rỡ như mùa hạ, không lạnh lẽo như đông, tháng Tám trầm lặng với sắc hoa cúc vàng đón nắng, với chút heo may khẽ khàng mơn man những tâm hồn nhạy cảm.

Khúc thu vàng vang lên trong những chiều gió se lạnh, những con đường ngập lá, những hàng cây thay áo mới. Mùa thu như một bản nhạc không lời, nhẹ nhàng mà thấm sâu vào lòng người. (Lúa chín chờ đợi gặt xong/ Nắng vàng tô thắm má hồng môi tươi/ Quê em con gái duyên cười/ Đôi bờ tóc rối thơm mùi rạ rơm). Và rồi, quê em mùa lúa chín rực rỡ dưới nắng vàng. Mùi thơm lúa mới hòa vào gió, chạy dài trên những triền đê, ôm trọn lấy tuổi thơ của những đứa trẻ lớn lên từ đồng ruộng. Những cánh cò chao nghiêng giữa cánh đồng bao la, lặng lẽ chứng kiến bao mùa đi qua, bao con người trở về và rời xa. Mùa nào cũng có những sắc màu riêng, như những nốt nhạc ngân dài trên bản giao hưởng của thời gian. Và lòng người, cũng cứ thế mà đổi thay theo những mùa trôi…

3. Sẽ có một bến bờ an yên

Có những ngày, tôi đi tìm phù sa của tâm hồn mình, như dòng sông mải miết bồi đắp bến bờ ký ức. Tôi viện vào câu lục bát bên bờ La Tinh, lắng nghe những nhịp vần dịu dàng như tiếng ru của mẹ thuở nào. Lục bát – không chỉ là thơ, mà còn là miền quê lắng sâu trong tâm tưởng, là dòng nước mát lành tưới tắm những nỗi niềm. Tôi đi, tìm câu lục bát giữa mênh mang đời sống, để thấy trong từng con chữ, có cả hơi thở của cha ông, có cả bóng hình quê nhà thân thuộc. (Nguyễn Đức Quận mở lòng đón nhận mọi vui buồn nhân gian. Anh như tha thiết với cuộc đời hơn sau bao rọi soi thấu tận. Thấu tận để bao dung cho người cho mình, gạn đục khơi trong mà tìm chút nhẹ lòng – Ngô Phong)

Nhưng cũng có những ngày chẳng có gì đặc biệt – một ngày bình thường đến mức tưởng như không đáng nhớ. Vậy mà chính những ngày như thế lại làm lòng người trầm lắng, tự hỏi mình đã quên bao nhiêu giấc mơ, đã đánh mất bao nhiêu niềm vui bé nhỏ. Tôi ngồi lặng yên, nhìn sắc màu tình yêu len lỏi trong từng khoảnh khắc: một ánh mắt dịu dàng, một bàn tay khẽ siết, một chiều mưa ai đó che chung chiếc ô… Tình yêu không ồn ào, chẳng cần rực rỡ, mà cứ thế lặng lẽ nhuộm màu những ngày tưởng như vô vị. (Một ngày vừa sinh ta ra mẹ cồn cào bụng thắt/ Bát cháo khoai lấp dạ giữa đêm đông/ Cha chân trần ngập dưới bão giông/ vay lon gạo chờ mùa sau gặt tr

Biển hát lời ru bên sóng, thủ thỉ cùng nỗi nhớ. Có lúc tôi thấy mình như đứa trẻ lạc vào giấc mơ của nước, đi tìm hạ đánh rơi trong một buổi chiều lộng gió. Giữa bầu trời xanh vời vợi, trái tim hồng vẫn rạo rực nhịp đập, vẫn tin vào những điều đẹp đẽ của cuộc đời. Nhưng đâu đó, có những khoảng lặng vàng dương, có những niềm riêng không dễ gọi thành tên. (Dặn lòng gắng học chữ yêu thương/ Thương thân thương phận dẫu chưa suông/ Thương cha thương mẹ thương đồng loại/ Yêu người khốn khó yêu quê hương). Dặn lòng đừng níu giữ những gì đã xa, nhưng có ai không chênh vênh khi rơi tình? Khi tình chưa nguôi, mọi con đường đều mang dáng hình một người đã cũ. Ta cứ ngỡ mình đã quên, nhưng bất chợt một làn gió thổi qua, một bài hát cũ vang lên, và ta lại thấy lòng mình se sắt.

Dòng chảy của tâm hồn cũng như dòng sông – có lúc êm đềm, có khi cuộn trào, có những lớp phù sa lặng lẽ bồi đắp và cũng có những nhánh rẽ không thể quay về. Nhưng dù thế nào, ta vẫn đi, vẫn tìm, vẫn tin rằng phía trước, sẽ có một bến bờ an yên…

4. Những tâm tư thầm kín

Chớm thu, sắc tím len lỏi vào những buổi chiều lặng gió. Đôi khi chỉ cần một tách trà nhớ, đã đủ để lòng người chạm đông, nghe hơi lạnh len vào từng kẽ tay, từng nỗi niềm chưa kịp gọi tên. Khúc sang đông như bản nhạc chậm, lắng lại trong hương đồng, trong mưa trên phố biển rì rào những lời tự tình.(Gương trong soi bóng nắng chiều tan/ Tĩnh lặng theo dòng trôi miên man/ Sóng buồn không gợn lay theo gió/ Im ắng mặt hồ đón thu sang). Có những ngày xuân còn vương chút dư âm, lởn vởn nắng xuân trên mái phố cũ. Vạt nắng nghiêng nghiêng, chạm vào tình xuân, vào chút duyên sót lại của một đoạn đường cũ kỹ. Nhớ về những ngày phố biển bây giờ, tôi gom nhặt gió đông, vẽ ký họa cho ta những đường nét xưa cũ mà thân thương. (Nắng xuân lên ấm đôi miền/ Mưa về xuân tưới xanh duyên má hồng/ Em đi mưa nắng chờ trông/ Có người chín nhớ mười mong mỏi mòn). Ngoài kia, mênh mang tháp cổ, thời gian như một giấc mơ không lời. Bỗng dưng, tôi thấy mình lặng lẽ giữa những đoạn khúc bâng quơ, giữa vu lan nỗi nhớ vơi đầy. Biển vẫn hát, gió vẫn thì thầm, nhưng mây trắng không ngang ngõ nữa. Phải chăng có những điều khi đi rồi sẽ chẳng quay về? (Mưa trên phố biển chiều đông/ Đi qua miền nhớ mênh mông/ Ký ức chợt tràn hội ngộ/ Mơ hoang hồ thỉ tang bồng). Phố biển bây giờ lặng như một khúc hát hai sóng vỗ, chạm vào lòng người những dư âm dịu dàng. Tôi đứng giữa những mảng ký ức lấp lánh, để thấy dù mùa có đổi thay, vẫn còn đó những giấc mơ chưa kịp tàn phai…

 

III. NHẸ NHƯ MỘT TIẾNG THỞ DÀI

Có những chặng đường đi qua bao nẻo, nhưng rốt cùng vẫn quay về một bến đỗ sâu thẳm trong tâm hồn, nơi ký ức, yêu thương và những nỗi niềm gửi lại thời gian. PHẢI CHI MÂY TRẮNG KHÔNG NGANG NGÕ của Nguyễn Đức Quận tựa như một bản nhạc trầm lặng, vang lên giữa muôn trùng thương nhớ, để mỗi người đọc đều có thể soi thấy bóng mình trong đó. Thơ anh nhắc ta rằng, dù có lạc bước đến đâu, vẫn luôn có một miền yêu thương vẹn nguyên chờ đợi. Xin gửi đến thi sĩ bốn câu thơ như một lời tri ân, như một chút nắng dịu dàng đọng lại giữa trang thơ và nhẹ như một tiếng thở dài: Này dấu chân ngủ quên giữa mênh mông cúc vàng/ Lênh đênh quả tim gánh tin yêu ruổi rong tứ bể/ Dẫu bàn chân không dẫm những bước lao đao trên trần thế/ Triệu hạt tâm hồn rót đầy biển tình yêu.

V.T..N.M

Thạc sĩ văn học, giáo viên tại Tây Úc

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm