TIN TỨC

Bi kịch của nhân vật Hoạn Thư trong ‘Truyện Kiều’

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-06-05 02:16:39
mail facebook google pos stwis
25638 lượt xem

“Truyện Kiều” là tác phẩm lớn, là sản phẩm sáng tạo tuyệt vời của Đại Thi hào Nguyễn Du. Không chỉ nội dung ý nghĩa của tác phẩm không ngừng thay đổi theo thời gian mà nhiều nhân vật trong tác phẩm cũng được nhìn nhận, đánh giá theo những quan điểm khác nhau.

Nhân vật Hoạn Thư là một trong những nhân vật bị lên án nhiều nhất. Không ít người xếp chị vào thế giới nhân vật phản diện… Cái ghen của Hoạn Thư đã trở thành điển hình cho sự cay nghiệt của đàn bà khi ghen tuông. Nhưng gần đây quan điểm trên ít được sự đồng thuận, không ít bài viết bênh vực cho Hoạn Thư, thậm chí họ cho Hoạn Thư là “nhân vật bản lĩnh nhất trong Truyện Kiều” [6] và gọi cái ghen của chị là “cái ghen nhân từ” [5].

Theo chúng tôi, hai quan niệm trên đều có phần cực đoan. Hoạn Thư là nhân vật không thể phân định một cách rạch ròi thuộc loại chính diện hay phản diện mà đó là nhân vật bi kịch.


Theo các nhà nghiên cứu, Hoạn Thư chính là một nhân vật đa diện, đời thường nhất bởi chứa đựng các tính cách của một con người.

Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi trình bày ba bi kịch chính trong cuộc đời Hoạn Thư.

1. Bi kịch về hôn nhân không môn đăng hộ đối

Hoạn Thư là tiểu thư khuê các, xuất thân trong một gia đình đại quý tộc, cha cô làm đến chức Thư thương Lại bộ:

Vốn dòng họ Hoạn danh gia,
Con quan Lại bộ tên là Hoạn Thư.

Nguyễn Du giới thiệu rất trân trọng bằng những từ ngữ Hán Việt: “danh gia”, “quan Lại bộ”, “tiểu thư”,… Mặc dù quan Lại bộ Thượng thư không xuất hiện (có thể đã mất), chỉ có quan bà và quan cô lộ diện mà quyền lực vẫn nghiêng một góc trời. Không kể cái cơ ngơi tòa rộng dãy dài, lộng lẫy, nguy nga, bà quan thì ngồi trên giường thất bảo, ban ngày vẫn thắp sáp sáng trưng:

Ngước trông tòa rộng dãy dài,
Thiên quan trủng tể có bài treo trên.
Ban ngày sáp thắp hai bên,
Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà.

Đối với gia đình Hoạn Thư, chính quyền không được động đến, nhà chùa cũng phải sợ, nhà buôn cũng phải nể. Họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn, kể cả đốt nhà, bắt người về hành hạ mà không sợ gì pháp luật. Nhưng Hoạn Thư phải kết duyên với Thúc Sinh, một thư sinh xuất thân trong một gia đình thương gia:

Vốn người huyện Tích, châu Thương,
Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Tri.

Tác giả không giới thiệu tường tận về gia thế nhà họ Thúc nhưng qua cách tiêu tiền như nước của chàng, người đọc có thể đoán định được việc kinh doanh, buôn bán của cha con

Thúc Sinh rất phát đạt:

Thúc Sinh quen thói bốc rời,
Trăm nghìn đổ một trận cười như không.

Không chỉ thế, Thúc Sinh còn bỏ ra rất nhiều vàng bạc (phải nhiều hơn số tiền “vàng ngoài bốn trăm” mà Tú Bà – Mã Giám Sinh đã bỏ ra mua Kiều) để chuộc Kiều khỏi lầu xanh:

Mượn điều trúc viện thừa lương,
Rước về hãy tạm giấu nàng một nơi.
Chiến hòa sắp sẵn hai bài,
Cậy tay thầy thợ mượn người dò la.
Bắn tin đến mặt Tú Bà,
Thua cơ mụ cũng cầu hòa dám sao.
Rõ ràng của dẫn tay trao,
Hoàn lương một thiếp, thân vào cửa công.

Dù gia đình Thúc Sinh rất giàu có nhưng xã hội phong kiến coi trọng “danh gia vọng tộc” hơn “đại gia”. Trong xã hội phong kiến Việt Nam tầng lớp thương gia không được coi trọng. Về địa vị xã hội, họ bị xếp ở thang bậc cuối cùng: “Sỹ-nông-công-thương”. Nhiều câu châm ngôn dân gian đã lên án lái buôn: “Mồm cá chép, mép lái buôn”; “Thật thà cũng thể lái trâu” hoặc “Lái buôn nói ngay, bằng thợ cày nói dối”…

Từ thế kỷ XVI, Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ mạn lục đã lên án bọn thương gia giàu có dùng tiền bạc, mánh khóe xảo quyệt phá hoại hạnh phúc những gia đình lương thiện. Điển hình là thương gia Đỗ Tam (Truyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu) đã dùng mưu gian, kế hiểm bắt Trọng Quỳ phải gán vợ trên chiếu bạc.

Ngay trong Truyện Kiều, Mã Giám Sinh đã phải mạo danh là sinh viên Quốc tử giám khi đi mua Kiều: “Hỏi tên, rằng: Mã Giám Sinh”. Dù hắn rất kiệm lời và ăn mặc, trang điểm rất kỹ: “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” nhưng hành động vô học, không biết lễ nghĩa: “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng” và bộ mặt con buôn bị lật tẩy:

Đắn đo cân sắc cân tài,
Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ.

Cò kè bớt một thêm hai
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm.

Bản chất con buôn của hắn tiếp tục bị tác giả vạch mặt khi hắn tính toán chi li trước nàng Kiều thanh tân, xinh đẹp (vừa muốn được thỏa mãn, vừa sợ Tú Bà trừng trị) và cuối cùng chấp nhận “mất một buổi quỳ” để “nước trước bẻ hoa”.

Mặt khác, sau vài ngày tiếp xúc, khi lờ mờ nhận ra bản chất con buôn của Mã Giám Sinh, Kiều vừa căm tức vừa sợ hãi. Nàng đau đớn thổ lộ với cha mẹ:

Xem gương trong bấy nhiêu ngày,
Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già.
Khi về bỏ vắng trong nhà,
Khi vào dúng dắng, khi ra vội vàng.
Khi ăn khi nói lỡ làng,
Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh.
Khác màu kẻ quí người thanh,
Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn.

Như vậy, trong xã hội phong kiến tầng lớp thương gia không phải là tầng lớp có địa vị xã hội cao sang và không được trọng vọng như tầng lớp quý tộc, quan lại. Cuộc hôn nhân không “môn đăng hộ đối” này chính là bi kịch đầu tiên và là nguyên nhân sâu xa gây ra những bi kịch tiếp theo trong cuộc đời Hoạn Thư.

2. Bi kịch về hạnh phúc gia đình

Hoạn Thư đã phải hạ mình kết hôn cùng Thúc Sinh. Hôn nhân của họ có hôn ước theo đúng lễ giáo phong kiến. Nhưng quan hệ vợ chồng Thúc Sinh – Hoạn Thư không hề bình thường bởi nó bị mối quan hệ mang tính đẳng cấp chi phối. Thúc Sinh chưa bao giờ là một người chồng theo đúng nghĩa. Người vợ quá thông minh, xuất thân trong gia đình danh gia vọng tộc khiến Thúc Sinh trở thành một anh chàng lép vế. Đây cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho Hoạn Thư không chiếm giữ được trái tim chồng. Đương nhiên còn một sự đối lập nữa đó là tính cách của cặp đôi này, nếu Thúc “tự do lãng tử”, thì Hoạn Thư lại “ở ăn thì nết cùng hay”, nếu Thúc “bay bổng phóng đãng” thì Hoạn Thư lại là người “lý trí khuôn phép”. Sự đối lập tương phản về tính cách giữa vợ chồng Thúc – Hoạn là nguyên nhân dẫn đến bi kịch cay đắng của Hoạn Thư, đó là nỗi đau của người đàn bà danh giá chẳng những không được chồng yêu mà còn bị phụ bạc.

Cái đau nhất của Hoạn Thư là một tiểu thư con quan Lại bộ đầy quyền thế đã phải hạ mình lấy chàng thư sinh con nhà thương nhân không môn đăng hộ đối mà còn bị chồng phản bội bí mật lấy vợ bé, lại được bố chồng đồng thuận, sống với nhau cả năm trời mà không nói với chị một lời. Chẳng những thế, bên tai chị luôn nghe rì rầm nhỏ to tiếng ong, tiếng ve rằng chồng chị mê vợ bé khiến chị càng thêm căm uất, hờn giận:

Từ nghe vườn mới thêm hoa,
Miệng người đã lắm tin nhà thì không.
Lửa tâm càng dập càng nồng,
Giận người đen bạc ra lòng trăng hoa.

Chị càng đau đớn hơn khi biết chồng phản bội mà vẫn phải âm thầm chịu đựng. Dù “lửa tâm càng dập càng nồng” song Hoạn Thư vẫn âm thầm nuốt nỗi đau đớn xót xa, nỗi uất hận vào lòng để suy tính thật cặn kẽ, chu đáo nhằm bảo vệ uy tín cho gia đình mình, cho chồng và nhà chồng. Chị nghĩ: “Dại chi chẳng giữ lấy nền/ Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình” và thầm trách Thúc Sinh: “Ví bằng thú thật cùng ta/ Cũng dong kẻ dưới mới là người trên”.

Một mặt, chị bỏ ngoài tai những dư luận về sự phản bội của chồng:

Nỗi lòng kín chẳng ai hay,
Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.

Buồng đào khuya sớm thảnh thơi,
Ra vào một mực nói cười như không.
Mặt khác, chị trừng trị những kẻ mách lẻo tâng công:
Tuần sau bỗng thấy hai người,
Mách tin ý cũng liệu bài tâng công.
Tiểu thư nổi trận đùng đùng,
Gớm tay thêu dệt, ra lòng trêu ngươi.
Chồng tao nào phải như ai,
Điều này hẳn miệng những người thị phi.
Vội vàng xuống lệnh ra uy,
Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng.

Bề ngoài, Hoạn Thư vẫn “Ra vào một mực nói cười như không” và phủ nhận những tin đồn: “Chồng tao nào phải như ai/ Điều này hẳn miệng những người thị phi” nhưng trong lòng chị đau như cắt: “Đêm ngày lòng những giận lòng”. Chị đã bộc bạch tất cả nỗi đau bấy lâu phải chịu đựng cho mẹ mình:

Thưa nhà huyên hết mọi tình,
Nỗi chàng ở bạc, nỗi mình chịu đen.
Nghĩ rằng ngứa ghẻ hờn ghen,
Xấu chàng mà có ai khen cho mình.
Vậy nên ngoảnh mặt làm thinh,
Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày.

Sinh ra trong gia đình quyền quý, danh gia, được giáo dục lễ nghĩa phong kiến từ nhỏ, Hoạn Thư hiểu rất rõ các mối quan hệ và các chuẩn mực của lễ giáo phong kiến như: “Tam cương ngũ thường, Tam tòng tứ đức”. Những phẩm chất hàng đầu của người quân tử là “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”, của người phụ nữ phong kiến là “công, dung, ngôn, hạnh” và của người vợ là “xuất giá tòng phu”. Ngay khi biết chồng phản bội, Hoạn Thư dù rất căm giận: “Lửa tâm càng dập càng nồng/ Giận người đen bạc ra lòng trăng hoa” nhưng chị vẫn không muốn làm to chuyện mà chấp nhận cho chồng “đèo bồng”:

Ví bằng thú thật cùng ta,
Cũng dong kẻ dưới mới là lượng trên.
Dại chi chẳng giữ lấy nền,
Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình.
Nhưng Thúc Sinh là kẻ nhát gan, sợ vợ, lại nghĩ:
Nghĩ đà bưng kín miệng bình,
Nào ai có khảo mà mình lại xưng?
Những là e ấp dùng dằng,
Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi.

Thậm chí kể cả khi Hoạn Thư gợi ý, nói gần nói xa, Thúc Sinh vẫn cố tình lảng tránh, không thú thật với chị:

Rằng trong ngọc đá vàng thau,
Mười phần ta đã tin nhau cả mười.
Khen cho những miệng dông dài,
Bướm ong lại đặt những lời nọ kia.
Thiếp dù bụng chẳng hay suy,
Đã dơ bụng nghĩ, lại bia miệng cười.

Vì thế, Hoạn Thư buộc phải dùng thủ đoạn đê tiện, bỉ ổi là bắt cóc Kiều, đày đọa Kiều nhằm trả thù Thúc Sinh. Chị đã “lao tâm khổ tứ” hoạch định mưu lược trả thù:

Làm cho nhìn chẳng được nhau,
Làm cho đày đọa cất đầu chẳng lên.
Làm cho trông thấy nhãn tiền,
Cho người thăm ván bán thuyền biết tay.

Tiếp đó, chị nhờ mẹ sai bọn Khuyển, Ưng sang Lâm Tri đốt nhà, bắt Kiều đưa về nhà Hoạn bà. Kiều bị đánh đập, bị ép làm con hầu, đổi tên thành“Hoa nô”, ghép vào hàng tôi tớ trong nhà.

Sau đó, Hoạn Thư bắt Kiều phải hầu rượu, hầu đàn, tạo nên cảnh đối lập giữa vợ chồng Hoạn Thư (chủ nhà) và Thúy Kiều (đứa ở):

Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng trực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay.

Đòn ghen của Hoạn Thư không ồn ào mà hiệu quả, không đánh vào thể xác mà đánh sâu vào tâm hồn làm cho Kiều vô cùng nhục nhã, đau đớn ê chề. Sau màn hạ nhục đó, cả đêm trường Kiều thổn thức: “Một mình âm ỷ đêm chầy/ Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy, năm canh”, để mặc cảm về địa vị. Hoạn thư khéo léo phá vỡ dây tơ giữa Thúy Kiều với Thúc sinh, buộc Kiều tự nguyện ra đi:

Xót vì cầm đã bén dây,
Chẳng trăm năm cũng một ngày, duyên ta.
Liệu bài mở cửa cho ra,
Ấy là tình nặng, ấy là ân sâu!

Thúc Sinh cũng “tự nguyện” cắt đứt tình cảm, rũ sạch trách nhiệm làm chồng với Kiều:

Sinh rằng riêng tưởng bấy lâu,
Lòng người nham hiểm biết đâu mà lường?
Nữa khi giông tố phũ phàng,
Thiệt riêng đấy, cũng lại càng cực đây.
Liệu mà cao chạy xa bay,
Ái ân ta có ngần này mà thôi!

Cách trả thù này này rất ghê gớm, rất hiệu quả nhưng đó không phải là chủ tâm từ đầu của Hoạn Thư. Chị bất đắc dĩ phải làm điều mình không muốn và không tương xứng với phẩm hạnh, danh giá của tiểu thư khuê các, thuộc dòng họ Hoạn danh gia.

3. Bi kịch về sự sỉ nhục khi cúi đầu xin tha mạng

Từ một tiểu thư khuê các, con quan Lại bộ Thương thư quyền hành nghiêng một góc trời, phút chốc Hoạn Thư trở thành tội phạm, bị quân Từ Hải bắt về hỏi tra. Hơn thế, người ngồi trên ghế quan tòa để luận tội Hoạn thư lúc này lại chính là người cách đây không lâu đã bị chị sai Khuyển, Ưng bắt về làm nô tì (Hoa nô) và bị đày đọa đủ điều.

Hoạn Thư không những bị xếp vào “các tích phạm đồ” để tra hỏi, trừng trị (cùng hạng với Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hạnh, Bạc bà, Khuyển, Ưng) mà còn bị coi là “chính danh thủ phạm”, tra hỏi đầu tiên:

Dưới cờ gươm tuốt nắp ra,
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.

Thoạt đầu, Kiều thực hiện chiến thuật “mèo vờn chuột” để thị uy, khủng bố tinh thần làm cho Hoạn thư “hồn lạc phách xiêu”:

Thoắt trông nàng đã chào thưa,
Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?

Tiếp đó, Kiều đã đanh thép luận tội Hoạn Thư tàn nhẫn, độc ác, cay nghiệt có một không hai, gây nên biết bao nỗi oan trái, tủi nhục cho nàng:

Đàn bà dễ có mấy tay?
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan?
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều!

Để cứu mạng sống, Hoạn Thư buộc phải “khấu đầu dưới trướng” nhận lỗi lầm “gây việc chông gai” và xin kẻ đã từng bị mình “Bắt khoan bắt nhặt đến lời/ Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay” khoan dung tha mạng:

Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca.
Rằng tôi chút phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng, riêng những kính yêu,
Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.
Trót đà gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.

Dù được Thúy Kiều tha bổng: Truyền quân lệnh, xuống trướng tiền tha ngay nhưng sự tổn thương về tinh thần, về tâm hồn và lòng tự trọng luôn âm ỉ, nhức nhối, quặn đau trong lòng Hoạn Thư. Ký ức về nỗi sỉ nhục phải cúi đầu, tâng bốc kẻ bị mình coi là nô tỳ, mở rộng lượng hải hà thương xót luôn ùa về, gặm nhấm, dày vò, ám ảnh tâm hồn chị.

Thế giới nhân vật trong Truyện Kiều luôn có nhiều cách đánh giá khác nhau. Thúy Kiều, Thúy Vân, Thúc Sinh, Từ Hải, Hoạn Thư… luôn nhận được những sự đánh giá trái chiều. Nhân vật Hoạn Thư là một trong những nhân vật rất phức tạp, không thể phân định một cách rạch ròi thuộc loại chính diện hay phản diện và cũng là nhân vật thể hiện thái độ phân vân của thi nhân khi miêu tả, đánh giá. Từ trong thai nghén, khi chưa “chào đời” đến nay nhân vật này luôn nhận được những đánh giá trái chiều, có khi rất gay gắt, cực đoan.

Theo chúng tôi, Hoạn Thư của Nguyễn Du trong Truyện Kiều là nhân vật có những mặt cần phê phán, có những mặt cần được thông cảm. Chị là người chịu nhiều đau khổ về mặt tinh thần. Ba bi kịch đau đớn, tủi nhục, xót xa trong cuộc đời chị là: bi kịch về hôn nhân không môn đăng hộ đối, bi kịch về hạnh phúc gia đình khi bị chồng phản bội và bi kịch về sự sỉ nhục phải “cúi đầu dưới trướng” xin kẻ từng bị mình coi là nô tì tha mạng. Mặc dù, trong hoàn cảnh nào chị cũng chiến thắng (dành lại được chồng trong tay Kiều, chối tội thành công để được tha bổng) nhưng Hoạn thư luôn bị tổn thất về tinh thần.

Từ một con người đạo lí, một nhân vật hành động trong tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân, Nguyễn Du đã lột xác Hoạn Thư thành một nhân vật tâm trạng với đời sống nội tâm phong phú, đa dạng, luôn dằn vặt, ám ảnh với nỗi đau tinh thần.

Nguyễn Công Thanh – Nguyễn Thị Huyền Linh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Lê Như Bình (2012), “Vẻ đẹp của nhân vật Hoạn Thư”, Kỷ yếu Hội thảo về Nguyễn Du và Truyện Kiều, Đại học Hồng Đức, Thanh Hóa.
[2] Nguyễn Du (1978), Truyện Kiều, Nxb Văn học, Hà Nội.
[3] Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[4] Đinh Gia Khánh (Chủ biên)-Bùi Duy Tân-Mai Cao Chương (2001), Văn học Việt Nam (Thế kỷ X-nửa đầu thế kỷ XVIII), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[5] Tạ Quang Khôi (2001), “Cái ghen nhân từ của Hoạn thư”,http://www.asia-religion.com.
[6] Đường Mạnh Hùng (2011), “Hoạn thư là nhân vật bản lĩnh nhất trong Truyện Kiều”, http://www.blogtiengviet.hungmanhduong.com.
[7] Nguyễn Đăng Na (Chủ biên)-Đinh Thị Khang-Trần Quang Minh-Nguyễn Phong Nam-Lã Nhâm Thìn (2005), Văn học trung đại Việt Nam, Tập 2, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
[8] Trần Đình Sử (2004), Thi pháp Truyện Kiều, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[9] Phạm Tuấn Vũ (2014), “Nghĩ về nhân vật Hoạn thư”, Tạp chí Đất Quảng số 3.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm