TIN TỨC

Bi kịch của nhân vật Hoạn Thư trong ‘Truyện Kiều’

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-06-05 02:16:39
mail facebook google pos stwis
26435 lượt xem

“Truyện Kiều” là tác phẩm lớn, là sản phẩm sáng tạo tuyệt vời của Đại Thi hào Nguyễn Du. Không chỉ nội dung ý nghĩa của tác phẩm không ngừng thay đổi theo thời gian mà nhiều nhân vật trong tác phẩm cũng được nhìn nhận, đánh giá theo những quan điểm khác nhau.

Nhân vật Hoạn Thư là một trong những nhân vật bị lên án nhiều nhất. Không ít người xếp chị vào thế giới nhân vật phản diện… Cái ghen của Hoạn Thư đã trở thành điển hình cho sự cay nghiệt của đàn bà khi ghen tuông. Nhưng gần đây quan điểm trên ít được sự đồng thuận, không ít bài viết bênh vực cho Hoạn Thư, thậm chí họ cho Hoạn Thư là “nhân vật bản lĩnh nhất trong Truyện Kiều” [6] và gọi cái ghen của chị là “cái ghen nhân từ” [5].

Theo chúng tôi, hai quan niệm trên đều có phần cực đoan. Hoạn Thư là nhân vật không thể phân định một cách rạch ròi thuộc loại chính diện hay phản diện mà đó là nhân vật bi kịch.


Theo các nhà nghiên cứu, Hoạn Thư chính là một nhân vật đa diện, đời thường nhất bởi chứa đựng các tính cách của một con người.

Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi trình bày ba bi kịch chính trong cuộc đời Hoạn Thư.

1. Bi kịch về hôn nhân không môn đăng hộ đối

Hoạn Thư là tiểu thư khuê các, xuất thân trong một gia đình đại quý tộc, cha cô làm đến chức Thư thương Lại bộ:

Vốn dòng họ Hoạn danh gia,
Con quan Lại bộ tên là Hoạn Thư.

Nguyễn Du giới thiệu rất trân trọng bằng những từ ngữ Hán Việt: “danh gia”, “quan Lại bộ”, “tiểu thư”,… Mặc dù quan Lại bộ Thượng thư không xuất hiện (có thể đã mất), chỉ có quan bà và quan cô lộ diện mà quyền lực vẫn nghiêng một góc trời. Không kể cái cơ ngơi tòa rộng dãy dài, lộng lẫy, nguy nga, bà quan thì ngồi trên giường thất bảo, ban ngày vẫn thắp sáp sáng trưng:

Ngước trông tòa rộng dãy dài,
Thiên quan trủng tể có bài treo trên.
Ban ngày sáp thắp hai bên,
Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà.

Đối với gia đình Hoạn Thư, chính quyền không được động đến, nhà chùa cũng phải sợ, nhà buôn cũng phải nể. Họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn, kể cả đốt nhà, bắt người về hành hạ mà không sợ gì pháp luật. Nhưng Hoạn Thư phải kết duyên với Thúc Sinh, một thư sinh xuất thân trong một gia đình thương gia:

Vốn người huyện Tích, châu Thương,
Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Tri.

Tác giả không giới thiệu tường tận về gia thế nhà họ Thúc nhưng qua cách tiêu tiền như nước của chàng, người đọc có thể đoán định được việc kinh doanh, buôn bán của cha con

Thúc Sinh rất phát đạt:

Thúc Sinh quen thói bốc rời,
Trăm nghìn đổ một trận cười như không.

Không chỉ thế, Thúc Sinh còn bỏ ra rất nhiều vàng bạc (phải nhiều hơn số tiền “vàng ngoài bốn trăm” mà Tú Bà – Mã Giám Sinh đã bỏ ra mua Kiều) để chuộc Kiều khỏi lầu xanh:

Mượn điều trúc viện thừa lương,
Rước về hãy tạm giấu nàng một nơi.
Chiến hòa sắp sẵn hai bài,
Cậy tay thầy thợ mượn người dò la.
Bắn tin đến mặt Tú Bà,
Thua cơ mụ cũng cầu hòa dám sao.
Rõ ràng của dẫn tay trao,
Hoàn lương một thiếp, thân vào cửa công.

Dù gia đình Thúc Sinh rất giàu có nhưng xã hội phong kiến coi trọng “danh gia vọng tộc” hơn “đại gia”. Trong xã hội phong kiến Việt Nam tầng lớp thương gia không được coi trọng. Về địa vị xã hội, họ bị xếp ở thang bậc cuối cùng: “Sỹ-nông-công-thương”. Nhiều câu châm ngôn dân gian đã lên án lái buôn: “Mồm cá chép, mép lái buôn”; “Thật thà cũng thể lái trâu” hoặc “Lái buôn nói ngay, bằng thợ cày nói dối”…

Từ thế kỷ XVI, Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ mạn lục đã lên án bọn thương gia giàu có dùng tiền bạc, mánh khóe xảo quyệt phá hoại hạnh phúc những gia đình lương thiện. Điển hình là thương gia Đỗ Tam (Truyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu) đã dùng mưu gian, kế hiểm bắt Trọng Quỳ phải gán vợ trên chiếu bạc.

Ngay trong Truyện Kiều, Mã Giám Sinh đã phải mạo danh là sinh viên Quốc tử giám khi đi mua Kiều: “Hỏi tên, rằng: Mã Giám Sinh”. Dù hắn rất kiệm lời và ăn mặc, trang điểm rất kỹ: “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” nhưng hành động vô học, không biết lễ nghĩa: “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng” và bộ mặt con buôn bị lật tẩy:

Đắn đo cân sắc cân tài,
Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ.

Cò kè bớt một thêm hai
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm.

Bản chất con buôn của hắn tiếp tục bị tác giả vạch mặt khi hắn tính toán chi li trước nàng Kiều thanh tân, xinh đẹp (vừa muốn được thỏa mãn, vừa sợ Tú Bà trừng trị) và cuối cùng chấp nhận “mất một buổi quỳ” để “nước trước bẻ hoa”.

Mặt khác, sau vài ngày tiếp xúc, khi lờ mờ nhận ra bản chất con buôn của Mã Giám Sinh, Kiều vừa căm tức vừa sợ hãi. Nàng đau đớn thổ lộ với cha mẹ:

Xem gương trong bấy nhiêu ngày,
Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già.
Khi về bỏ vắng trong nhà,
Khi vào dúng dắng, khi ra vội vàng.
Khi ăn khi nói lỡ làng,
Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh.
Khác màu kẻ quí người thanh,
Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn.

Như vậy, trong xã hội phong kiến tầng lớp thương gia không phải là tầng lớp có địa vị xã hội cao sang và không được trọng vọng như tầng lớp quý tộc, quan lại. Cuộc hôn nhân không “môn đăng hộ đối” này chính là bi kịch đầu tiên và là nguyên nhân sâu xa gây ra những bi kịch tiếp theo trong cuộc đời Hoạn Thư.

2. Bi kịch về hạnh phúc gia đình

Hoạn Thư đã phải hạ mình kết hôn cùng Thúc Sinh. Hôn nhân của họ có hôn ước theo đúng lễ giáo phong kiến. Nhưng quan hệ vợ chồng Thúc Sinh – Hoạn Thư không hề bình thường bởi nó bị mối quan hệ mang tính đẳng cấp chi phối. Thúc Sinh chưa bao giờ là một người chồng theo đúng nghĩa. Người vợ quá thông minh, xuất thân trong gia đình danh gia vọng tộc khiến Thúc Sinh trở thành một anh chàng lép vế. Đây cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho Hoạn Thư không chiếm giữ được trái tim chồng. Đương nhiên còn một sự đối lập nữa đó là tính cách của cặp đôi này, nếu Thúc “tự do lãng tử”, thì Hoạn Thư lại “ở ăn thì nết cùng hay”, nếu Thúc “bay bổng phóng đãng” thì Hoạn Thư lại là người “lý trí khuôn phép”. Sự đối lập tương phản về tính cách giữa vợ chồng Thúc – Hoạn là nguyên nhân dẫn đến bi kịch cay đắng của Hoạn Thư, đó là nỗi đau của người đàn bà danh giá chẳng những không được chồng yêu mà còn bị phụ bạc.

Cái đau nhất của Hoạn Thư là một tiểu thư con quan Lại bộ đầy quyền thế đã phải hạ mình lấy chàng thư sinh con nhà thương nhân không môn đăng hộ đối mà còn bị chồng phản bội bí mật lấy vợ bé, lại được bố chồng đồng thuận, sống với nhau cả năm trời mà không nói với chị một lời. Chẳng những thế, bên tai chị luôn nghe rì rầm nhỏ to tiếng ong, tiếng ve rằng chồng chị mê vợ bé khiến chị càng thêm căm uất, hờn giận:

Từ nghe vườn mới thêm hoa,
Miệng người đã lắm tin nhà thì không.
Lửa tâm càng dập càng nồng,
Giận người đen bạc ra lòng trăng hoa.

Chị càng đau đớn hơn khi biết chồng phản bội mà vẫn phải âm thầm chịu đựng. Dù “lửa tâm càng dập càng nồng” song Hoạn Thư vẫn âm thầm nuốt nỗi đau đớn xót xa, nỗi uất hận vào lòng để suy tính thật cặn kẽ, chu đáo nhằm bảo vệ uy tín cho gia đình mình, cho chồng và nhà chồng. Chị nghĩ: “Dại chi chẳng giữ lấy nền/ Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình” và thầm trách Thúc Sinh: “Ví bằng thú thật cùng ta/ Cũng dong kẻ dưới mới là người trên”.

Một mặt, chị bỏ ngoài tai những dư luận về sự phản bội của chồng:

Nỗi lòng kín chẳng ai hay,
Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.

Buồng đào khuya sớm thảnh thơi,
Ra vào một mực nói cười như không.
Mặt khác, chị trừng trị những kẻ mách lẻo tâng công:
Tuần sau bỗng thấy hai người,
Mách tin ý cũng liệu bài tâng công.
Tiểu thư nổi trận đùng đùng,
Gớm tay thêu dệt, ra lòng trêu ngươi.
Chồng tao nào phải như ai,
Điều này hẳn miệng những người thị phi.
Vội vàng xuống lệnh ra uy,
Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng.

Bề ngoài, Hoạn Thư vẫn “Ra vào một mực nói cười như không” và phủ nhận những tin đồn: “Chồng tao nào phải như ai/ Điều này hẳn miệng những người thị phi” nhưng trong lòng chị đau như cắt: “Đêm ngày lòng những giận lòng”. Chị đã bộc bạch tất cả nỗi đau bấy lâu phải chịu đựng cho mẹ mình:

Thưa nhà huyên hết mọi tình,
Nỗi chàng ở bạc, nỗi mình chịu đen.
Nghĩ rằng ngứa ghẻ hờn ghen,
Xấu chàng mà có ai khen cho mình.
Vậy nên ngoảnh mặt làm thinh,
Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày.

Sinh ra trong gia đình quyền quý, danh gia, được giáo dục lễ nghĩa phong kiến từ nhỏ, Hoạn Thư hiểu rất rõ các mối quan hệ và các chuẩn mực của lễ giáo phong kiến như: “Tam cương ngũ thường, Tam tòng tứ đức”. Những phẩm chất hàng đầu của người quân tử là “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”, của người phụ nữ phong kiến là “công, dung, ngôn, hạnh” và của người vợ là “xuất giá tòng phu”. Ngay khi biết chồng phản bội, Hoạn Thư dù rất căm giận: “Lửa tâm càng dập càng nồng/ Giận người đen bạc ra lòng trăng hoa” nhưng chị vẫn không muốn làm to chuyện mà chấp nhận cho chồng “đèo bồng”:

Ví bằng thú thật cùng ta,
Cũng dong kẻ dưới mới là lượng trên.
Dại chi chẳng giữ lấy nền,
Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình.
Nhưng Thúc Sinh là kẻ nhát gan, sợ vợ, lại nghĩ:
Nghĩ đà bưng kín miệng bình,
Nào ai có khảo mà mình lại xưng?
Những là e ấp dùng dằng,
Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi.

Thậm chí kể cả khi Hoạn Thư gợi ý, nói gần nói xa, Thúc Sinh vẫn cố tình lảng tránh, không thú thật với chị:

Rằng trong ngọc đá vàng thau,
Mười phần ta đã tin nhau cả mười.
Khen cho những miệng dông dài,
Bướm ong lại đặt những lời nọ kia.
Thiếp dù bụng chẳng hay suy,
Đã dơ bụng nghĩ, lại bia miệng cười.

Vì thế, Hoạn Thư buộc phải dùng thủ đoạn đê tiện, bỉ ổi là bắt cóc Kiều, đày đọa Kiều nhằm trả thù Thúc Sinh. Chị đã “lao tâm khổ tứ” hoạch định mưu lược trả thù:

Làm cho nhìn chẳng được nhau,
Làm cho đày đọa cất đầu chẳng lên.
Làm cho trông thấy nhãn tiền,
Cho người thăm ván bán thuyền biết tay.

Tiếp đó, chị nhờ mẹ sai bọn Khuyển, Ưng sang Lâm Tri đốt nhà, bắt Kiều đưa về nhà Hoạn bà. Kiều bị đánh đập, bị ép làm con hầu, đổi tên thành“Hoa nô”, ghép vào hàng tôi tớ trong nhà.

Sau đó, Hoạn Thư bắt Kiều phải hầu rượu, hầu đàn, tạo nên cảnh đối lập giữa vợ chồng Hoạn Thư (chủ nhà) và Thúy Kiều (đứa ở):

Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng trực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay.

Đòn ghen của Hoạn Thư không ồn ào mà hiệu quả, không đánh vào thể xác mà đánh sâu vào tâm hồn làm cho Kiều vô cùng nhục nhã, đau đớn ê chề. Sau màn hạ nhục đó, cả đêm trường Kiều thổn thức: “Một mình âm ỷ đêm chầy/ Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy, năm canh”, để mặc cảm về địa vị. Hoạn thư khéo léo phá vỡ dây tơ giữa Thúy Kiều với Thúc sinh, buộc Kiều tự nguyện ra đi:

Xót vì cầm đã bén dây,
Chẳng trăm năm cũng một ngày, duyên ta.
Liệu bài mở cửa cho ra,
Ấy là tình nặng, ấy là ân sâu!

Thúc Sinh cũng “tự nguyện” cắt đứt tình cảm, rũ sạch trách nhiệm làm chồng với Kiều:

Sinh rằng riêng tưởng bấy lâu,
Lòng người nham hiểm biết đâu mà lường?
Nữa khi giông tố phũ phàng,
Thiệt riêng đấy, cũng lại càng cực đây.
Liệu mà cao chạy xa bay,
Ái ân ta có ngần này mà thôi!

Cách trả thù này này rất ghê gớm, rất hiệu quả nhưng đó không phải là chủ tâm từ đầu của Hoạn Thư. Chị bất đắc dĩ phải làm điều mình không muốn và không tương xứng với phẩm hạnh, danh giá của tiểu thư khuê các, thuộc dòng họ Hoạn danh gia.

3. Bi kịch về sự sỉ nhục khi cúi đầu xin tha mạng

Từ một tiểu thư khuê các, con quan Lại bộ Thương thư quyền hành nghiêng một góc trời, phút chốc Hoạn Thư trở thành tội phạm, bị quân Từ Hải bắt về hỏi tra. Hơn thế, người ngồi trên ghế quan tòa để luận tội Hoạn thư lúc này lại chính là người cách đây không lâu đã bị chị sai Khuyển, Ưng bắt về làm nô tì (Hoa nô) và bị đày đọa đủ điều.

Hoạn Thư không những bị xếp vào “các tích phạm đồ” để tra hỏi, trừng trị (cùng hạng với Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hạnh, Bạc bà, Khuyển, Ưng) mà còn bị coi là “chính danh thủ phạm”, tra hỏi đầu tiên:

Dưới cờ gươm tuốt nắp ra,
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.

Thoạt đầu, Kiều thực hiện chiến thuật “mèo vờn chuột” để thị uy, khủng bố tinh thần làm cho Hoạn thư “hồn lạc phách xiêu”:

Thoắt trông nàng đã chào thưa,
Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?

Tiếp đó, Kiều đã đanh thép luận tội Hoạn Thư tàn nhẫn, độc ác, cay nghiệt có một không hai, gây nên biết bao nỗi oan trái, tủi nhục cho nàng:

Đàn bà dễ có mấy tay?
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan?
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều!

Để cứu mạng sống, Hoạn Thư buộc phải “khấu đầu dưới trướng” nhận lỗi lầm “gây việc chông gai” và xin kẻ đã từng bị mình “Bắt khoan bắt nhặt đến lời/ Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay” khoan dung tha mạng:

Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca.
Rằng tôi chút phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng, riêng những kính yêu,
Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.
Trót đà gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.

Dù được Thúy Kiều tha bổng: Truyền quân lệnh, xuống trướng tiền tha ngay nhưng sự tổn thương về tinh thần, về tâm hồn và lòng tự trọng luôn âm ỉ, nhức nhối, quặn đau trong lòng Hoạn Thư. Ký ức về nỗi sỉ nhục phải cúi đầu, tâng bốc kẻ bị mình coi là nô tỳ, mở rộng lượng hải hà thương xót luôn ùa về, gặm nhấm, dày vò, ám ảnh tâm hồn chị.

Thế giới nhân vật trong Truyện Kiều luôn có nhiều cách đánh giá khác nhau. Thúy Kiều, Thúy Vân, Thúc Sinh, Từ Hải, Hoạn Thư… luôn nhận được những sự đánh giá trái chiều. Nhân vật Hoạn Thư là một trong những nhân vật rất phức tạp, không thể phân định một cách rạch ròi thuộc loại chính diện hay phản diện và cũng là nhân vật thể hiện thái độ phân vân của thi nhân khi miêu tả, đánh giá. Từ trong thai nghén, khi chưa “chào đời” đến nay nhân vật này luôn nhận được những đánh giá trái chiều, có khi rất gay gắt, cực đoan.

Theo chúng tôi, Hoạn Thư của Nguyễn Du trong Truyện Kiều là nhân vật có những mặt cần phê phán, có những mặt cần được thông cảm. Chị là người chịu nhiều đau khổ về mặt tinh thần. Ba bi kịch đau đớn, tủi nhục, xót xa trong cuộc đời chị là: bi kịch về hôn nhân không môn đăng hộ đối, bi kịch về hạnh phúc gia đình khi bị chồng phản bội và bi kịch về sự sỉ nhục phải “cúi đầu dưới trướng” xin kẻ từng bị mình coi là nô tì tha mạng. Mặc dù, trong hoàn cảnh nào chị cũng chiến thắng (dành lại được chồng trong tay Kiều, chối tội thành công để được tha bổng) nhưng Hoạn thư luôn bị tổn thất về tinh thần.

Từ một con người đạo lí, một nhân vật hành động trong tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân, Nguyễn Du đã lột xác Hoạn Thư thành một nhân vật tâm trạng với đời sống nội tâm phong phú, đa dạng, luôn dằn vặt, ám ảnh với nỗi đau tinh thần.

Nguyễn Công Thanh – Nguyễn Thị Huyền Linh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Lê Như Bình (2012), “Vẻ đẹp của nhân vật Hoạn Thư”, Kỷ yếu Hội thảo về Nguyễn Du và Truyện Kiều, Đại học Hồng Đức, Thanh Hóa.
[2] Nguyễn Du (1978), Truyện Kiều, Nxb Văn học, Hà Nội.
[3] Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[4] Đinh Gia Khánh (Chủ biên)-Bùi Duy Tân-Mai Cao Chương (2001), Văn học Việt Nam (Thế kỷ X-nửa đầu thế kỷ XVIII), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[5] Tạ Quang Khôi (2001), “Cái ghen nhân từ của Hoạn thư”,http://www.asia-religion.com.
[6] Đường Mạnh Hùng (2011), “Hoạn thư là nhân vật bản lĩnh nhất trong Truyện Kiều”, http://www.blogtiengviet.hungmanhduong.com.
[7] Nguyễn Đăng Na (Chủ biên)-Đinh Thị Khang-Trần Quang Minh-Nguyễn Phong Nam-Lã Nhâm Thìn (2005), Văn học trung đại Việt Nam, Tập 2, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
[8] Trần Đình Sử (2004), Thi pháp Truyện Kiều, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[9] Phạm Tuấn Vũ (2014), “Nghĩ về nhân vật Hoạn thư”, Tạp chí Đất Quảng số 3.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm