TIN TỨC

Từ Kế Tường: Trang sách về những cô gái tuổi hoa

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-12-19 16:13:18
mail facebook google pos stwis
1201 lượt xem

Hà Thanh Vân

Từ Kế Tường là một nhà văn có tiếng từ trước năm 1975 ở miền Nam với những tác phẩm chủ yếu dành cho tuổi mới lớn. Sau năm 1975, tác phẩm của ông được tái bản lại nhiều lần và gần đây nhất là xuất hiện với diện mạo mới qua tủ sách Tuổi Ngọc của Hanoibooks và NXB Văn học.

 

Nhà thơ, nhà báo Từ Kế Tường

 

TỪ TUỔI HOA ĐẾN TUỔI NGỌC

 

Tủ sách Tuổi Ngọc của Hanoibooks và NXB Văn học có thể được xem là sự nối tiếp hành trình của một số tủ sách, đã từng ghi dấu ấn trong lịch sử văn học miền Nam thời hiện đại. Ở miền Nam trong giai đoạn 1954 – 1975, có tủ sách Tuổi Hoa xuất bản những tác phẩm văn học dành cho các bạn nhỏ ở tuổi thiếu niên, nhi đồng, tuổi mới lớn. Tủ sách Tuổi Hoa chia làm ba loại: Hoa Đỏ, Hoa Xanh và Hoa Tím. Hoa Đỏ là loại sách trinh thám, phiêu lưu, mạo hiểm. Hoa Xanh là những tác phẩm tình cảm nhẹ nhàng, có ý nghĩa giáo dục về tình bạn, tình thầy trò, tình cảm gia đình. thuộc loại tình cảm nhẹ nhàng. Hoa Tím dành cho các bạn ở tuổi mới lớn, từ khoảng 16 đến 18 tuổi, với những tình cảm nam nữ trong sáng. Nhiều nhà văn có tên tuổi ở miền Nam thời đó tham gia viết cho tủ sách này, và cũng nhiều tác giả trẻ nổi lên từ tủ sách này. Đó là Nguyễn Trường Sơn, Minh Quân, Kim Hài, Thùy An, Nguyễn Thái Hải… Nhà văn Nguyễn Trường Sơn chính là người đã có sáng kiến thành lập và điều hành tủ sách Tuổi Hoa. Nhiều nhà văn khi viết cho tủ sách này đã bỏ lại sau lưng phong cách văn chương vốn đầy “nhức nhối” của họ, để chuyển sang giọng văn trong veo, mơ mộng, tình cảm. Cùng với tủ sách Tuổi Hoa là sự thành công của bán nguyệt san Tuổi Hoa và tờ báo Ngàn Thông. Tòa soạn Tuổi Hoa nằm ở số 38 đường Kỳ Đồng, Sài Gòn, trong Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế.

 

Cùng gần với thời điểm tủ sách Tuổi Hoa ra đời là sự xuất hiện của tờ tuần báo Tuổi Ngọc và NXB Tuổi Ngọc với những tên tuổi gây dựng ban đầu là Từ Kế Tường, Duyên Anh, Đinh Tiến Luyện… NXB Tuổi Ngọc khi đó tập trung in tác phẩm của những tác giả này, chủ yếu dành cho hai đối tượng là thiếu nhi và tuổi mới lớn. Từ Kế Tường khi đó cũng là một trong những tác giả viết nhiều cho tuổi mới lớn. Ông có tên thật là Võ Tấn Tước, sinh ngày 2 tháng 3 năm 1946; quê quán tại xã Phú Vang, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Ông viết văn làm báo từ rất sớm, ngay ở thập niên 60 của thế kỷ XX khi từ Bến Tre lên sinh sống tại Sài Gòn. Ông là Thư ký tòa soạn tuần báo Tuổi Ngọc khi mới 19 tuổi, một trong những tờ báo dành cho lứa tuổi mới lớn rất thu hút độc giả trẻ tuổi thời đó. Sau đó ông làm chủ bút tuần báo Mây Hồng, cũng là một tờ báo tương tự như tờ Tuổi Ngọc. Song song với việc làm báo, Từ Kế Tường còn viết văn, làm thơ. Từ Kế Tường đã xuất bản nhiều tác phẩm thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, trong đó có nhiều sách viết cho lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng và tuổi mới lớn. Từ Kế Tường đã ghi dấu trong văn học miền Nam thời đó như là một cây bút viết nhiều cho tuổi trẻ với nhiều tác phẩm ăn khách, đáng kể nhất là phải nói đến tác phẩm “Huyền xưa”, tác phẩm đăng dài kỳ trên báo và khi xuất bản lần đầu năm 1969 đã có số lượng in lên đến 150.000 bản.

 

Sau năm 1975, Từ Kế Tường tiếp tục làm báo và sáng tác văn chương. Ông làm Thư ký tòa soạn báo Công an TPHCM trong một thời gian dài, từ năm 1986 đến năm 2003, rồi làm việc tại tuần báo Văn nghệ TPHCM và cộng tác với nhiều tờ báo khác. Cho đến nay số lượng tác phẩm đã xuất bản của ông đã lên đến con số trên 200 với nhiều thể loại như tập thơ, tập truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim... Tiểu thuyết và truyện ngắn của ông cũng có nội dung rất đa dạng, từ tâm lý xã hội đến hình sự, song khi nhắc đến Từ Kế Tường, thường độc giả hay nghĩ về ông như là một nhà văn của tuổi mới lớn, bên cạnh một người cầm bút sau ông một chút và cũng rất thành danh là nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Những tác phẩm nổi tiếng của ông từ trước năm 1975 là “Đường phượng bay” (sau năm 1975 đổi tên là “Bờ vai nghiêng nắng”), “Huyền xưa”, “Như mưa ngọt ngào”, “Áo vàng qua ngõ”, “Hoa lưu ly không về”, “Mùa áo vàng”, “Một mình tôi bước đi” v.v… Sau năm 1975, Từ Kế Tường được độc giả nhỏ tuổi biết đến qua bộ sách gồm 10 tập “Bầu trời màu trứng sáo” 10 tập do NXB Kim Đồng đặt hàng.

 

Sau năm 1975, Từ Kế Tường cũng thuộc lớp nhà văn đầu tiên được in lại hàng loạt những tác phẩm viết trước đó và được tái bản nhiều lần. Ngoài những tác phẩm đã nhắc đến ở trên, còn có thể kể đến những tác phẩm như “Bài hát thần tiên”, “Suối mây hồng”, “Mối tình như sương khói”, “Áo tím qua đường”, “Còn những bóng mưa tan”, “Mùa thu mưa bay”… Hiện nay, tủ sách Tuổi Ngọc với những tác phẩm của nhà văn Từ Kế Tường đã quay trở lại với các độc giả một lần nữa trong một hình hài mới, do Hanoibooks và NXB Văn học chung tay ấn hành.

 

NHÀ VĂN CÓ TÁC PHẨM ĐƯỢC ĐƯA VÀO TỪ ĐIỂN

 

Không chỉ ghi dấu ấn trong lòng độc giả bằng những tác phẩm được tái bản nhiều lần trước và sau năm 1975, vị trí của Từ Kế Tường trong dòng văn học dành cho thiếu niên nhi đồng và tuổi mới lớn đã được giới nghiên cứu, lý luận phê bình thừa nhận và đánh giá cao. “Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam” là bộ sách gồm ba tập, do Viện Văn học biên soạn, quy tụ người viết là những giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu văn học có chuyên môn cao nhằm mục đích giới thiệu những áng văn xuôi quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến những tác phẩm văn xuôi đương đại cuối thế kỷ XX. Bộ Từ điển này nhằm mục đích giúp độc giả yêu văn chương có thể tra cứu, tìm hiểu tác phẩm, tác giả, đồng thời qua đó có cái nhìn tổng quát về diện mạo và tiến trình phát triển của văn xuôi Việt Nam thời hiện đại, cũng như những thế hệ nhà văn đã có công đóng góp vào tiến trình đó. Việc được đưa vào bộ Từ điển là sự vinh danh không chỉ dành cho tác phẩm, mà còn là sự nhìn nhận công tâm vai trò, vị trí của tác giả.

 

Hai tác phẩm của nhà văn Từ Kế Tường là “Huyền xưa” và “Mùa áo vàng” đã được chọn lựa đưa vào tập 2 của bộ “Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam”, mang tên “Tác phẩm văn xuôi Việt Nam 1945-1975”, NXB Giáo dục, 2006. Trong đó “Huyền xưa” là một tác phẩm không chỉ được xem là một trong những tác phẩm thành công nhất của Từ Kế Tường mà còn mang đầy đủ đặc trưng phong cách nghệ thuật của ông. Tác phẩm “Huyền xưa” vừa được ra mắt độc giả trong một diện mạo mới, đầy chất thơ và được chăm chút từ trang bìa đến bản in, do Hanoibooks và NXB Văn học ấn hành và ra mắt vào tháng 9.2023

 

“Huyền xưa” mở ra khung cảnh một thị trấn nhỏ bé, xinh xắn mặt hướng ra phía biển, lưng dựa vào núi và rừng với những con đường dịu mát bóng cây, một ngôi trường thơ mộng với những nữ sinh tỉnh nhỏ duyên dáng. Khung cảnh ấy dễ làm say lòng những người khách lạ lần đầu đặt chân đến thị trấn. Lũy cũng không là ngoại lệ. Chị gái của Lũy theo chồng đến nơi này sinh sống. Nhân dịp sinh nhật lần thứ mười hai của bé Hạnh, con gái của chị Thục, Lũy đã tạm rời bỏ Sài Gòn phồn hoa đô hội đến đây để thăm người chị và người cháu rất mực yêu thương.

 

Tại đây Lũy đã có dịp làm gặp gỡ và làm quen với hai cô nữ sinh duyên dáng là Cúc Huyền và Tiểu My. Cúc Huyền ở gần nhà chị Thục, được chị Thục và bé Hạnh xem như người trong gia đình. Cúc Huyền khả ái, dịu dàng nên có nhiều chàng nam sinh theo đuổi. Nhưng Lũy là một con người thật đặc biệt trong mắt Cúc Huyền: một “người lớn”, lại từ ở nơi xa đến. Còn Lũy cũng không khỏi xao xuyến trước vẻ đẹp thánh thiện, ngây thơ của Cúc Huyền. Trong mấy ngày Lũy đến thị trấn, giữa hai người đã chớm nở một tình cảm lãng đãng như mây, nhẹ mờ như sương khói, với những câu đối đáp vu vơ, những lời giận hờn kín đáo. Mấy ngày nghỉ của Lũy cũng qua đi, Lũy phải quay về Sài Gòn mà không chào từ biệt Cúc Huyền vì không muốn phải đối mặt với cảnh chia ly. Cúc Huyền tiếp tục những ngày đến trường, để tâm tưởng trôi theo niềm nhớ. Nhưng cuộc đời của một người con gái đẹp thường có những trắc trở, những bất hạnh không đoán trước được. Và rồi câu chuyện tiếp tục phát triển trên mạch văn trữ tình, thấm đậm yêu thương ấy.

 

“Huyền xưa” là một truyện dài lãng mạn, đượm chút bâng khuâng thương nhớ và đau xót về một mối tình giữa một chàng thanh niên và một cô bé tuổi hoa. Vì thế, toàn bộ nội dung truyện toát lên một nỗi u buồn bàng bạc. Những nhân vật trong truyện của Từ Kế Tường dường như không phải là những nhân vật theo đúng nghĩa của nó, mà chỉ là những biểu tượng cho những tình cảm, những tâm tư của con người, phản ánh tâm trạng của những con người mới chớm bước chân vào ngưỡng cửa tình yêu, còn e lệ, rụt rè, với những giận hờn vu vơ, những vui buồn vô cớ. Dù tác phẩm này được viết cho lứa tuổi hoa niên và không ngoài mục đích giải trí nhẹ nhàng, nhưng hình như ngòi bút của Từ Kế Tường còn có chút ngụ ý sâu xa rằng cái đẹp thì mong manh và dễ tan vỡ và do vậy, từng khoảnh khắc sống trên đời này của cái đẹp đều cần phải được nâng niu, tôn trọng.

 

NHÀ VĂN CỦA NHỮNG CÔ GÁI TUỔI HOA MỌI THỜI

 

“Những cô gái tuổi hoa” là tên một cuốn sách trong bộ trường thiên tiểu thuyết “Đi tìm thời gian đã mất” của nhà văn Pháp nổi tiếng Marcel Proust. Marcel Proust nổi tiếng với lối viết dòng ý thức tinh tế, miên man trong những ký ức quá vãng về tuổi thanh xuân. Khi đọc tác phẩm của nhà văn Từ Kế Tường, có thể thấy đậm nét bóng dáng của những cô gái tuổi hoa, lứa tuổi đẹp nhất của đời người.

 

Từng có những ý kiến so sánh hai nhà văn chuyên viết cho tuổi mới lớn với những rung động đầu đời là Từ Kế Tường và Nguyễn Nhật Ánh. Nhưng với cảm quan của tôi, một độc giả yêu mến cả hai nhà văn, thì khi nói đến tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh, độc giả hay nhớ đến những nhân vật nam chính và ngòi bút văn chương của Nguyễn Nhật Ánh thường lấy điểm nhìn, điểm kể chuyện từ nhân vật nam. Còn Từ Kế Tường thì ngược lại. Các nhân vật nữ trong những tác phẩm của nhà văn được xây dựng nổi bật, không chỉ từ nội dung của truyện, mà ngay từ nhan đề thơ mộng của nhiều tác phẩm đã cho thấy điều đó. Ngòi bút của nhà văn Từ Kế Tường luôn ưu ái các nhân vật nữ. Các cô gái tuổi hoa qua các trang văn của Từ Kế Tường luôn trong sáng, hồn nhiên, thánh thiện. Họ không chỉ đơn thuần là nhân vật, họ là biểu trưng cho vẻ đẹp nữ tính, cho những cảm xúc rung động đầu đời.

 

Một điều khiến cho tác phẩm của Từ Kế Tường hấp dẫn độc giả không chỉ ở nội dung hay là những nhân vật đẹp như hoa, mà còn ở một giọng văn rất riêng biệt. Xuất thân ở Bến Tre, miền Tây Nam Bộ, khác với khá nhiều nhà văn Nam Bộ, giọng văn của Từ Kế Tường không mộc mạc, chân chất, mà ngược lại, có sự tinh tế, bay bổng, lãng mạn ngay ở những câu chữ đơn giản nhất. Nhà văn rất chú trọng việc tả cảnh thiên nhiên trong sự hòa quyện với tâm trạng nhân vật như Nguyễn Du từng viết trong “Truyện Kiều”: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Từ Kế Tường cũng rất chú ý trau chuốt câu chữ, cho dù có thể còn chỗ nọ chỗ kia ông không dụng công nhiều, nhưng rõ ràng ông là người trân trọng nghề văn và nghiêm túc với nghề. Có những giọng văn thu hút độc giả vì là giọng văn hay, còn nhà văn Từ Kế Tường thu hút độc giả bởi giọng văn đẹp.

 

Những tác phẩm viết cho tuổi mới lớn của Từ Kế Tường là những tác phẩm không phải chỉ của một thời. Bởi lẽ nhà văn viết về những điều thường hằng trong đời sống con người, viết về những điều mà bất cứ ai cũng từng trải qua trong cuộc đời. Đó là tình bạn, tình yêu của tuổi thanh xuân mới chớm nở; đó là không khí học đường với thầy cô, trường lớp; đó là những niềm vui, nỗi buồn của những người đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời; đó là tình cảm gia đình, người thân… Độc giả của Từ Kế Tường do vậy là độc giả của nhiều thế hệ. Họ là những độc giả nhỏ tuổi cùng thời với Từ Kế Tường khi nhà văn mới bắt đầu sáng tác, nay đã lên tuổi ông bà. Họ là những người đã đọc tác phẩm Từ Kế Tường qua những lần tái bản sau năm 1975, nay đã ở tuổi phụ huynh. Và cùng với sự ra mắt của tủ sách Tuổi Ngọc, tái bản lại những tác phẩm của nhà văn, thì Từ Kế Tường lại tiếp tục có những độc giả trẻ trung thuộc thế hệ mới. Những độc giả ngày xưa của Từ Kế Tường nay đã thuộc lứa tuổi cao niên, trung niên sẽ có không ít người muốn tìm đọc lại tác phẩm của nhà văn như để nhớ về một thời thanh xuân xa xưa đầy kỷ niệm. Những cũng sẽ có những độc giả trẻ tuổi tìm đọc tác phẩm Từ Kế Tường không chỉ vì tò mò, mà còn vì biết rằng ông bà, cha mẹ mình đã từng đọc và yêu mến tác phẩm của nhà văn và bản thân họ cũng rất muốn biết ngày xưa, thời ông bà cha mẹ mình đi học là như thế nào.

 

Và như thế, mong rằng nhà văn Từ Kế Tường lại thêm một lần mang những tác phẩm quay lại văn đàn với những thành công mới trong sự đón nhận của nhiều độc giả thế hệ mới và cũ.

H.T.V

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm