TIN TỨC

Từ Kế Tường: Trang sách về những cô gái tuổi hoa

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-12-19 16:13:18
mail facebook google pos stwis
1293 lượt xem

Hà Thanh Vân

Từ Kế Tường là một nhà văn có tiếng từ trước năm 1975 ở miền Nam với những tác phẩm chủ yếu dành cho tuổi mới lớn. Sau năm 1975, tác phẩm của ông được tái bản lại nhiều lần và gần đây nhất là xuất hiện với diện mạo mới qua tủ sách Tuổi Ngọc của Hanoibooks và NXB Văn học.

 

Nhà thơ, nhà báo Từ Kế Tường

 

TỪ TUỔI HOA ĐẾN TUỔI NGỌC

 

Tủ sách Tuổi Ngọc của Hanoibooks và NXB Văn học có thể được xem là sự nối tiếp hành trình của một số tủ sách, đã từng ghi dấu ấn trong lịch sử văn học miền Nam thời hiện đại. Ở miền Nam trong giai đoạn 1954 – 1975, có tủ sách Tuổi Hoa xuất bản những tác phẩm văn học dành cho các bạn nhỏ ở tuổi thiếu niên, nhi đồng, tuổi mới lớn. Tủ sách Tuổi Hoa chia làm ba loại: Hoa Đỏ, Hoa Xanh và Hoa Tím. Hoa Đỏ là loại sách trinh thám, phiêu lưu, mạo hiểm. Hoa Xanh là những tác phẩm tình cảm nhẹ nhàng, có ý nghĩa giáo dục về tình bạn, tình thầy trò, tình cảm gia đình. thuộc loại tình cảm nhẹ nhàng. Hoa Tím dành cho các bạn ở tuổi mới lớn, từ khoảng 16 đến 18 tuổi, với những tình cảm nam nữ trong sáng. Nhiều nhà văn có tên tuổi ở miền Nam thời đó tham gia viết cho tủ sách này, và cũng nhiều tác giả trẻ nổi lên từ tủ sách này. Đó là Nguyễn Trường Sơn, Minh Quân, Kim Hài, Thùy An, Nguyễn Thái Hải… Nhà văn Nguyễn Trường Sơn chính là người đã có sáng kiến thành lập và điều hành tủ sách Tuổi Hoa. Nhiều nhà văn khi viết cho tủ sách này đã bỏ lại sau lưng phong cách văn chương vốn đầy “nhức nhối” của họ, để chuyển sang giọng văn trong veo, mơ mộng, tình cảm. Cùng với tủ sách Tuổi Hoa là sự thành công của bán nguyệt san Tuổi Hoa và tờ báo Ngàn Thông. Tòa soạn Tuổi Hoa nằm ở số 38 đường Kỳ Đồng, Sài Gòn, trong Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế.

 

Cùng gần với thời điểm tủ sách Tuổi Hoa ra đời là sự xuất hiện của tờ tuần báo Tuổi Ngọc và NXB Tuổi Ngọc với những tên tuổi gây dựng ban đầu là Từ Kế Tường, Duyên Anh, Đinh Tiến Luyện… NXB Tuổi Ngọc khi đó tập trung in tác phẩm của những tác giả này, chủ yếu dành cho hai đối tượng là thiếu nhi và tuổi mới lớn. Từ Kế Tường khi đó cũng là một trong những tác giả viết nhiều cho tuổi mới lớn. Ông có tên thật là Võ Tấn Tước, sinh ngày 2 tháng 3 năm 1946; quê quán tại xã Phú Vang, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Ông viết văn làm báo từ rất sớm, ngay ở thập niên 60 của thế kỷ XX khi từ Bến Tre lên sinh sống tại Sài Gòn. Ông là Thư ký tòa soạn tuần báo Tuổi Ngọc khi mới 19 tuổi, một trong những tờ báo dành cho lứa tuổi mới lớn rất thu hút độc giả trẻ tuổi thời đó. Sau đó ông làm chủ bút tuần báo Mây Hồng, cũng là một tờ báo tương tự như tờ Tuổi Ngọc. Song song với việc làm báo, Từ Kế Tường còn viết văn, làm thơ. Từ Kế Tường đã xuất bản nhiều tác phẩm thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, trong đó có nhiều sách viết cho lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng và tuổi mới lớn. Từ Kế Tường đã ghi dấu trong văn học miền Nam thời đó như là một cây bút viết nhiều cho tuổi trẻ với nhiều tác phẩm ăn khách, đáng kể nhất là phải nói đến tác phẩm “Huyền xưa”, tác phẩm đăng dài kỳ trên báo và khi xuất bản lần đầu năm 1969 đã có số lượng in lên đến 150.000 bản.

 

Sau năm 1975, Từ Kế Tường tiếp tục làm báo và sáng tác văn chương. Ông làm Thư ký tòa soạn báo Công an TPHCM trong một thời gian dài, từ năm 1986 đến năm 2003, rồi làm việc tại tuần báo Văn nghệ TPHCM và cộng tác với nhiều tờ báo khác. Cho đến nay số lượng tác phẩm đã xuất bản của ông đã lên đến con số trên 200 với nhiều thể loại như tập thơ, tập truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim... Tiểu thuyết và truyện ngắn của ông cũng có nội dung rất đa dạng, từ tâm lý xã hội đến hình sự, song khi nhắc đến Từ Kế Tường, thường độc giả hay nghĩ về ông như là một nhà văn của tuổi mới lớn, bên cạnh một người cầm bút sau ông một chút và cũng rất thành danh là nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Những tác phẩm nổi tiếng của ông từ trước năm 1975 là “Đường phượng bay” (sau năm 1975 đổi tên là “Bờ vai nghiêng nắng”), “Huyền xưa”, “Như mưa ngọt ngào”, “Áo vàng qua ngõ”, “Hoa lưu ly không về”, “Mùa áo vàng”, “Một mình tôi bước đi” v.v… Sau năm 1975, Từ Kế Tường được độc giả nhỏ tuổi biết đến qua bộ sách gồm 10 tập “Bầu trời màu trứng sáo” 10 tập do NXB Kim Đồng đặt hàng.

 

Sau năm 1975, Từ Kế Tường cũng thuộc lớp nhà văn đầu tiên được in lại hàng loạt những tác phẩm viết trước đó và được tái bản nhiều lần. Ngoài những tác phẩm đã nhắc đến ở trên, còn có thể kể đến những tác phẩm như “Bài hát thần tiên”, “Suối mây hồng”, “Mối tình như sương khói”, “Áo tím qua đường”, “Còn những bóng mưa tan”, “Mùa thu mưa bay”… Hiện nay, tủ sách Tuổi Ngọc với những tác phẩm của nhà văn Từ Kế Tường đã quay trở lại với các độc giả một lần nữa trong một hình hài mới, do Hanoibooks và NXB Văn học chung tay ấn hành.

 

NHÀ VĂN CÓ TÁC PHẨM ĐƯỢC ĐƯA VÀO TỪ ĐIỂN

 

Không chỉ ghi dấu ấn trong lòng độc giả bằng những tác phẩm được tái bản nhiều lần trước và sau năm 1975, vị trí của Từ Kế Tường trong dòng văn học dành cho thiếu niên nhi đồng và tuổi mới lớn đã được giới nghiên cứu, lý luận phê bình thừa nhận và đánh giá cao. “Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam” là bộ sách gồm ba tập, do Viện Văn học biên soạn, quy tụ người viết là những giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu văn học có chuyên môn cao nhằm mục đích giới thiệu những áng văn xuôi quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến những tác phẩm văn xuôi đương đại cuối thế kỷ XX. Bộ Từ điển này nhằm mục đích giúp độc giả yêu văn chương có thể tra cứu, tìm hiểu tác phẩm, tác giả, đồng thời qua đó có cái nhìn tổng quát về diện mạo và tiến trình phát triển của văn xuôi Việt Nam thời hiện đại, cũng như những thế hệ nhà văn đã có công đóng góp vào tiến trình đó. Việc được đưa vào bộ Từ điển là sự vinh danh không chỉ dành cho tác phẩm, mà còn là sự nhìn nhận công tâm vai trò, vị trí của tác giả.

 

Hai tác phẩm của nhà văn Từ Kế Tường là “Huyền xưa” và “Mùa áo vàng” đã được chọn lựa đưa vào tập 2 của bộ “Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam”, mang tên “Tác phẩm văn xuôi Việt Nam 1945-1975”, NXB Giáo dục, 2006. Trong đó “Huyền xưa” là một tác phẩm không chỉ được xem là một trong những tác phẩm thành công nhất của Từ Kế Tường mà còn mang đầy đủ đặc trưng phong cách nghệ thuật của ông. Tác phẩm “Huyền xưa” vừa được ra mắt độc giả trong một diện mạo mới, đầy chất thơ và được chăm chút từ trang bìa đến bản in, do Hanoibooks và NXB Văn học ấn hành và ra mắt vào tháng 9.2023

 

“Huyền xưa” mở ra khung cảnh một thị trấn nhỏ bé, xinh xắn mặt hướng ra phía biển, lưng dựa vào núi và rừng với những con đường dịu mát bóng cây, một ngôi trường thơ mộng với những nữ sinh tỉnh nhỏ duyên dáng. Khung cảnh ấy dễ làm say lòng những người khách lạ lần đầu đặt chân đến thị trấn. Lũy cũng không là ngoại lệ. Chị gái của Lũy theo chồng đến nơi này sinh sống. Nhân dịp sinh nhật lần thứ mười hai của bé Hạnh, con gái của chị Thục, Lũy đã tạm rời bỏ Sài Gòn phồn hoa đô hội đến đây để thăm người chị và người cháu rất mực yêu thương.

 

Tại đây Lũy đã có dịp làm gặp gỡ và làm quen với hai cô nữ sinh duyên dáng là Cúc Huyền và Tiểu My. Cúc Huyền ở gần nhà chị Thục, được chị Thục và bé Hạnh xem như người trong gia đình. Cúc Huyền khả ái, dịu dàng nên có nhiều chàng nam sinh theo đuổi. Nhưng Lũy là một con người thật đặc biệt trong mắt Cúc Huyền: một “người lớn”, lại từ ở nơi xa đến. Còn Lũy cũng không khỏi xao xuyến trước vẻ đẹp thánh thiện, ngây thơ của Cúc Huyền. Trong mấy ngày Lũy đến thị trấn, giữa hai người đã chớm nở một tình cảm lãng đãng như mây, nhẹ mờ như sương khói, với những câu đối đáp vu vơ, những lời giận hờn kín đáo. Mấy ngày nghỉ của Lũy cũng qua đi, Lũy phải quay về Sài Gòn mà không chào từ biệt Cúc Huyền vì không muốn phải đối mặt với cảnh chia ly. Cúc Huyền tiếp tục những ngày đến trường, để tâm tưởng trôi theo niềm nhớ. Nhưng cuộc đời của một người con gái đẹp thường có những trắc trở, những bất hạnh không đoán trước được. Và rồi câu chuyện tiếp tục phát triển trên mạch văn trữ tình, thấm đậm yêu thương ấy.

 

“Huyền xưa” là một truyện dài lãng mạn, đượm chút bâng khuâng thương nhớ và đau xót về một mối tình giữa một chàng thanh niên và một cô bé tuổi hoa. Vì thế, toàn bộ nội dung truyện toát lên một nỗi u buồn bàng bạc. Những nhân vật trong truyện của Từ Kế Tường dường như không phải là những nhân vật theo đúng nghĩa của nó, mà chỉ là những biểu tượng cho những tình cảm, những tâm tư của con người, phản ánh tâm trạng của những con người mới chớm bước chân vào ngưỡng cửa tình yêu, còn e lệ, rụt rè, với những giận hờn vu vơ, những vui buồn vô cớ. Dù tác phẩm này được viết cho lứa tuổi hoa niên và không ngoài mục đích giải trí nhẹ nhàng, nhưng hình như ngòi bút của Từ Kế Tường còn có chút ngụ ý sâu xa rằng cái đẹp thì mong manh và dễ tan vỡ và do vậy, từng khoảnh khắc sống trên đời này của cái đẹp đều cần phải được nâng niu, tôn trọng.

 

NHÀ VĂN CỦA NHỮNG CÔ GÁI TUỔI HOA MỌI THỜI

 

“Những cô gái tuổi hoa” là tên một cuốn sách trong bộ trường thiên tiểu thuyết “Đi tìm thời gian đã mất” của nhà văn Pháp nổi tiếng Marcel Proust. Marcel Proust nổi tiếng với lối viết dòng ý thức tinh tế, miên man trong những ký ức quá vãng về tuổi thanh xuân. Khi đọc tác phẩm của nhà văn Từ Kế Tường, có thể thấy đậm nét bóng dáng của những cô gái tuổi hoa, lứa tuổi đẹp nhất của đời người.

 

Từng có những ý kiến so sánh hai nhà văn chuyên viết cho tuổi mới lớn với những rung động đầu đời là Từ Kế Tường và Nguyễn Nhật Ánh. Nhưng với cảm quan của tôi, một độc giả yêu mến cả hai nhà văn, thì khi nói đến tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh, độc giả hay nhớ đến những nhân vật nam chính và ngòi bút văn chương của Nguyễn Nhật Ánh thường lấy điểm nhìn, điểm kể chuyện từ nhân vật nam. Còn Từ Kế Tường thì ngược lại. Các nhân vật nữ trong những tác phẩm của nhà văn được xây dựng nổi bật, không chỉ từ nội dung của truyện, mà ngay từ nhan đề thơ mộng của nhiều tác phẩm đã cho thấy điều đó. Ngòi bút của nhà văn Từ Kế Tường luôn ưu ái các nhân vật nữ. Các cô gái tuổi hoa qua các trang văn của Từ Kế Tường luôn trong sáng, hồn nhiên, thánh thiện. Họ không chỉ đơn thuần là nhân vật, họ là biểu trưng cho vẻ đẹp nữ tính, cho những cảm xúc rung động đầu đời.

 

Một điều khiến cho tác phẩm của Từ Kế Tường hấp dẫn độc giả không chỉ ở nội dung hay là những nhân vật đẹp như hoa, mà còn ở một giọng văn rất riêng biệt. Xuất thân ở Bến Tre, miền Tây Nam Bộ, khác với khá nhiều nhà văn Nam Bộ, giọng văn của Từ Kế Tường không mộc mạc, chân chất, mà ngược lại, có sự tinh tế, bay bổng, lãng mạn ngay ở những câu chữ đơn giản nhất. Nhà văn rất chú trọng việc tả cảnh thiên nhiên trong sự hòa quyện với tâm trạng nhân vật như Nguyễn Du từng viết trong “Truyện Kiều”: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Từ Kế Tường cũng rất chú ý trau chuốt câu chữ, cho dù có thể còn chỗ nọ chỗ kia ông không dụng công nhiều, nhưng rõ ràng ông là người trân trọng nghề văn và nghiêm túc với nghề. Có những giọng văn thu hút độc giả vì là giọng văn hay, còn nhà văn Từ Kế Tường thu hút độc giả bởi giọng văn đẹp.

 

Những tác phẩm viết cho tuổi mới lớn của Từ Kế Tường là những tác phẩm không phải chỉ của một thời. Bởi lẽ nhà văn viết về những điều thường hằng trong đời sống con người, viết về những điều mà bất cứ ai cũng từng trải qua trong cuộc đời. Đó là tình bạn, tình yêu của tuổi thanh xuân mới chớm nở; đó là không khí học đường với thầy cô, trường lớp; đó là những niềm vui, nỗi buồn của những người đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời; đó là tình cảm gia đình, người thân… Độc giả của Từ Kế Tường do vậy là độc giả của nhiều thế hệ. Họ là những độc giả nhỏ tuổi cùng thời với Từ Kế Tường khi nhà văn mới bắt đầu sáng tác, nay đã lên tuổi ông bà. Họ là những người đã đọc tác phẩm Từ Kế Tường qua những lần tái bản sau năm 1975, nay đã ở tuổi phụ huynh. Và cùng với sự ra mắt của tủ sách Tuổi Ngọc, tái bản lại những tác phẩm của nhà văn, thì Từ Kế Tường lại tiếp tục có những độc giả trẻ trung thuộc thế hệ mới. Những độc giả ngày xưa của Từ Kế Tường nay đã thuộc lứa tuổi cao niên, trung niên sẽ có không ít người muốn tìm đọc lại tác phẩm của nhà văn như để nhớ về một thời thanh xuân xa xưa đầy kỷ niệm. Những cũng sẽ có những độc giả trẻ tuổi tìm đọc tác phẩm Từ Kế Tường không chỉ vì tò mò, mà còn vì biết rằng ông bà, cha mẹ mình đã từng đọc và yêu mến tác phẩm của nhà văn và bản thân họ cũng rất muốn biết ngày xưa, thời ông bà cha mẹ mình đi học là như thế nào.

 

Và như thế, mong rằng nhà văn Từ Kế Tường lại thêm một lần mang những tác phẩm quay lại văn đàn với những thành công mới trong sự đón nhận của nhiều độc giả thế hệ mới và cũ.

H.T.V

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm