TIN TỨC

Về trên dặm trường thiên lý “Miền Ô châu”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-08-20 16:31:12
mail facebook google pos stwis
2054 lượt xem

BẢO TRUNG

Tiếp theo các cuốn tản văn Sông vẫn chảy đời sông (NXB Thanh Niên 2023), Bốn mùa thương nhớ (NXB Thanh Niên 2024), nhà văn Nguyễn Linh Giang vừa ra mắt cuốn tản văn mới: “Miền Ô Châu” (NXB Phụ Nữ Việt Nam, 2025). Cuốn sách đã tái hiện những cảm xúc tinh khôi, mới về miền đất Ô Châu xưa - Quảng Trị sau này với con người, cảnh vật, lịch sử, văn hóa của một vùng đất; qua đó ta có thể nhận diện rõ thêm dòng biến thiên của lịch sử Việt và những hành trình đầu tiên của tiền nhân đi mở cõi ở phương Nam, từ “Ô Châu ác địa” đến… Ô Châu linh thiêng.

Nhà văn-nhà báo Nguyễn Linh Giang -  Bìa sách tản văn Miền Ô Châu

1. Vẫn nằm trong mạch chủ lưu hướng vọng về cố xứ, đong đầy kỉ niệm trong tâm cảm “thiên lý tương tư” của người viết. Cuốn tản văn “Miền Ô Châu” của nhà văn-nhà báo Nguyễn Linh Giang, Nhà xuất bản Phụ Nữ Việt Nam vừa ấn hành mang lại cho người đọc những cảm xúc mới mẻ về một miền phong thổ còn dung chứa biết bao trầm tích lịch sử, ở đó, các giá trị lịch sử, văn hóa đã được khai mở, quảng diễn qua nhiều tác phẩm biên khảo, thi ca, tiểu thuyết…

Tinh thần ấy có nhiều điểm chung với tiến sĩ Dương Văn An (1514-1591) khi ông viết: “Người giở sách đọc xem có thể gợi lên nhiều nếp nghĩ, tiếp xúc nhiều loại mà trưởng thành hơn. Thấy vẻ đẹp của núi sông mới biết rằng địa linh nhân kiệt, xem sản vật tốt tươi, mới rõ vật tốt hay người hay…” (Ô Châu cận lục - Dương Văn An).

Tản văn của Nguyễn Linh Giang đưa người đọc tới những miền quê, cảnh cũ, người xưa và nếp sinh hoạt thường nhật của người dân Quảng Trị, quê hương của tác giả. Như một cuộc viễn thám ngược dòng thời gian, nơi mà nhiều giá trị lộng lẫy nguyên sơ bị phôi phai qua bao bể dâu thế cuộc. Điều đáng nói, khi ta chạm tay vào bến thời gian, hồ như tiếng xưa còn âm vọng, người xưa vẫn đồng hành cùng ta trong thì hiện tại. Thậm chí có những điều tưởng như chúng ta đã biết tường tận, nhưng qua từng con chữ kỳ khu, rị mọ, khám phá đầy dụng công của tác giả, người đọc hết sức ngạc nhiên khi được khám phá thêm nhiều vẻ đẹp lấp lánh khuất lấp đâu đó được gọi về.

Những câu ca dao, tục ngữ, phong dao… ở miền quê ấy, cùng với bao câu chuyện kể lại bằng huyển sử… là “mật mã của quá khứ” được tác giả khai mở, khiến người đọc vô cùng thú vị, cuốn hút.

Tản văn “Nỗi lòng Huyền Trân” hệt như một vết thương lòng còn bỏng buốt, một dấu lặng trên trang sử Việt. Xóm Chùa, làng Kim Đâu, xã Cam An, huyện Cam Lộ (Quảng Trị) nơi có miếu thờ công chúa Huyền Trân, nằm lặng lẽ, khiêm nhường. “Trời chiều cuối năm, mưa lây phây, gió lạnh. Tôi vào miếu thắp hương vọng tưởng công chúa Huyền Trân, rồi ra đứng ở bậc thềm bên Bàu Đá và tự hỏi: Một ngày mùa hạ cách đây 710 năm, lúc dừng lại ở đây, trước khi về nhà chồng, chắc Huyền Trân công chúa cũng đã có những buổi chiều đứng lặng bên dòng nước này?... Trong sương chiều bảng lãng mặt nước Bàu Đá, tôi như nghe thổn thức điệu Nam bình: “Nước non ngàn dặm ra đi/Cái tình chi?/Mượn màu son phấn/ Đền nợ Ô, Ly/Đắng cay vì/Đương độ xuân thì/Số lao đao hay là nợ duyên gì?”. (Nỗi lòng Huyền Trân, trang 79).

Cái khéo léo, uyển chuyển của tác giả là biết sắp xếp, xâu chuỗi các tiểu tiết thành một mạch liên kết nội cảm, đồng hiện hóa những thứ tưởng chừng như vô tri trở thành ngôn ngữ để cùng đối thoại, tri cảm. Chất văn, sử liệu quyện hòa trong các tản văn hòa kết với những tín hiệu thẩm mỹ từ cảnh vật, di tích, con người, tập quán của mỗi miền quê. Người đọc có thể nhận diện, định vị rõ hơn bản vị, “bản lai diện mục” của từng vệt phù sa lịch sử từng chảy qua, xuôi trôi về dặm trường thiên lý vô nam của các bậc tiền nhân đi mở cõi.

2. Viết về quê hương của chính mình- nơi dường như mọi thứ đều trở nên quen thuộc- tưởng như là điều dễ dàng, nhưng thực tế cho thấy, để chạm tới những tầng vỉa trầm tích văn hóa nơi đây là một điều hết sức khó khăn. Với tấm lòng nặng trĩu nhớ thương quê hương, bằng kinh nghiệm của người làm báo, nhà văn Nguyễn Linh Giang đã hết sức tỉ mẩn, thận trọng khi sử dụng các ngữ liệu lịch sử, phong dao, tục ngữ.

 Bút pháp thể hiện để chuyển tải các thông điệp được anh dụng công một cách diệu dụng, để từ những chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng tự thân tạo nên một “cấu trúc vẫy gọi”, để người đọc được hóa thân vào, sẽ chia và đồng cảm. Điều đáng nói là mỗi tản văn là một biên khảo lịch sử cô đọng, mang màu sắc hấp dẫn uyên áo của văn chương. Đó là các tản văn nặng trĩu ưu hoài, trân quý những giá trị của lịch sử như: “Đất có thổ công, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đi kinh lý, Đất thiêng hội tụ, Làm quan Hà Trung, Đất học Câu Nhi…” Thiết nghĩ, đó cũng là một tâm nguyện đạt thành của tác giả -khi cho ra đời đứa con tinh thần này.

Tản văn |Miền Ô Châu|, với tôi là một nhịp cầu tri âm, một tấm vé thông hành của tâm tư dẫn lối chúng ta ngược về lịch sử, tìm lại những bến bờ dĩ vãng của một thời, một thưở. Vẫn còn đó vẹn nguyên một miền thương nhớ vẫn luôn đi về trong ký ức.

Hải nội tồn tri kỷ, thiên nhai nhược tỉ lân” (Vẫn còn tri kỉ trên đời, cách xa góc bể chân trời sá chi). Đọc tản văn của Nguyễn Linh Giang cũng là cách để mỗi bản thể tự tri nhận rằng, ra đi cũng là một cách để trở về đúng nghĩa…



Nhà văn-nhà báo NGUYỄN LINH GIANG

Tên khai sinh: Nguyễn Văn Khôi.

Quê quán: Làng An Bình, xã Cam Thanh, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

Hiện cư ngụ tại Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Email: nguyenvankhoi.lg@gmail.com

Hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh.

Tác phẩm đã xuất bản:

  • Theo dấu chân những người tìm vàng (Phóng sự - NXB Thanh Niên, 2015).
  • Đi và Viết (Ký sự/ Phỏng vấn - NXB Thanh Niên, 2022).
  • Sông vẫn chảy đời sông (Tản văn - NXB Thanh Niên, 2023).
  • Bốn mùa thương nhớ (Tản văn - NXB Thanh Niên, 2024). 
  • Miền Ô CHÂU (Tản văn - NXB Phụ Nữ Việt Nam, 2025).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm