TIN TỨC

Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-22 23:19:59
mail facebook google pos stwis
547 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Sách “Đại Nam liệt truyện”, bộ sách lịch sử ghi chép về gia phả triều Nguyễn, chép về Nguyễn Công Trứ như sau: “Công Trứ là người trác lạc, có tài khí, có tài làm văn, càng giỏi về quốc âm, làm ra thi ca rất nhiều, đến nay hãy còn truyền tụng. Trứ làm quan thường bị bãi cách rồi được cất nhắc lên ngay; tỏ sức ở chiến trường nhiều lần lập được công chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức doanh điền, sửa sang, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn. Khi tuổi già về nghỉ, tức thì bỏ qua việc đời, chơi thú sơn thủy. Sau khi Trứ mất, các huyện ấp do ông lập ra đều đựng đền để thờ”.

Tổng kết cuộc đời làm quan đầy thăng trầm của mình, Nguyễn Công Trứ khái quát trong mấy câu hát nói: “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú/ Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung/ Trong triều ai ngất ngưởng như ông” (Bài ca ngất ngưởng).

Từ lúc chào đời cho đến chết vẫn cứ… ngông!

Ngày mồng một, tháng mười một, năm Mậu Tuất (1778), Nguyễn Công Trứ chào đời. Người xưa nói “trai mồng một, gái hôm rằm” (ý nói trai, gái sinh vào ngày này thường khó nuôi và bướng bỉnh) quả không sai. Giai thoại kể lại, vừa lọt lòng mẹ, cậu bé Củng (tên húy Nguyễn Công Trứ từ nhỏ) đã tỏ ngay sự ngông bướng bằng cách không thèm khóc như những đứa trẻ sơ sinh khác. Người nhà và hàng xóm đưa hết nồi đồng, mâm thau đến khua gõ liên hồi, cậu cũng mặc. Chỉ đến khi cả đám người lớn đã mỏi rã rời thì cậu mới cất tiếng khóc oang oang như tiếng chuông đồng.

Thuở trẻ, Nguyễn Công Trứ thi hỏng nhiều lần, nhưng ông tin vào tài mình. Khi vua Minh Mạng mở khoa thi, ông làm tờ “tự tiến cử” xin vào thi và nói thẳng mình “có tài kinh bang tế thế”. Thi đỗ xong, Nguyễn Công Trứ làm quan (“không ngồi bàn giấy”) và giữ nhiều chức quan trọng, khai khẩn ruộng đất, lập nên hai huyện Tiền Hải, Thái Bình và Kim Sơn, Ninh Bình trước đây. Nhờ chính sách khuyến khích “ai khai khẩn thì được cấp đất”, chỉ vài năm đã có hàng chục ngàn mẫu ruộng mới, dân nghèo có chỗ làm ăn. Vì vậy, dân gian vẫn truyền câu ca: “Công đức ông Nguyễn Công Trứ/ Mở đất Tiền Hải, Kim Sơn muôn đời”. Và một hiện tượng hiếm có trong văn hóa tâm linh người Việt, Nguyễn Công Trứ được người dân Kim Sơn và một số nơi lập đền thờ (sinh từ) ngay khi ông đang còn sống.

Khi “nhập thế” (theo Khổng giáo) lập công lưu danh, Nguyễn Công Trứ đã để lại danh ngôn mà nhiều thế hệ học trò học làm khí tiết: “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông” (Đi thi tự vịnh). Khi “xuất thế” theo Đạo giáo, thì nhìn ra “núi nọ phau phau mây trắng”,  không màng được mất “khen chê phơi phới ngọn đông phong” (Bài ca ngất ngưởng). Ngay cả khi chua chát nhìn lại đời mình, Thượng Uy Viễn vẫn là người đầy khí phách: “Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.

Năm 1858, đời vua Tự Đức năm thứ 11, thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, tấn công Đà Nẵng. Nguyễn Công Trứ khi đó đã 80 tuổi nhưng vẫn xin vua cho đi đánh giặc. Ông mất vào năm ấy. Cho tới tận khi chết, Nguyễn Công Trứ vẫn cứ ngông. Tương truyền, trước khi “tiếp tục cuộc chơi bất tuyệt ở thế giới bên kia”, Nguyễn Công Trứ đã dặn con cháu không nên bày biện tang lễ tốn kém, mà cứ để ông nằm nguyên trên chõng như khi đang ngủ, thả xuống huyệt là xong! Nhưng chắc vì lễ hiếu con cháu đã… không dám nghe theo lời.

“Tương tư - ngông” kiểu Nguyễn Công Trứ

Người mắc “bệnh tương tư” nhiều có lẽ là Nguyễn Bính, khi người ta hay nhắc đến thơ ông: “Nắng mưa là bệnh của giời/ Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. Nhưng tương tư mà trở thành bệnh “kinh niên” có thể kể là Xuân Diệu. Song ít ai biết rằng, “bệnh” này đã có từ lâu đời, trong các nhà nho xưa như Tú Xương, Tản Đà, Cao Bá Quát… Có điều các nhà nho bản lĩnh và có “cốt cách hiên ngang” (chữ Hoài Thanh) hơn các nhà Thơ mới. Nguyễn Công Trứ cũng vậy, cũng rất tương tư theo cách ngông của ông. Thử đọc lại bài này: “Tương tư không biết cái làm sao/ Muốn vẽ mà chơi, vẽ được nào/ Khi đứng khi ngồi khi nói chuyện/ Lúc say lúc tỉnh lúc chiêm bao/ Trăng soi trước mặt, ngờ chân bước/ Gió thổi bên tai, ngỡ miệng chào/ Một nước một non, người một ngả/ Tương tư không biết cái làm sao” (Tương tư). Quả thật rất “hiên ngang”, hiện đại. Hoặc trong bài “Bỡn nhân tình”, ông viết: “Tau ở nhà tau, tau nhớ mi/ Nhớ mi nên phải bước chân đi/ Không đi mi nói: răng không đến?/ Đến thì mi nói: đến làm chi…”. Đây là một cách “đùa” tình, “vờn” tình thân mật như là một thú tao nhã của các nhà nho xưa.

Nguyễn Công Trứ là người đào hoa, mê hát ả đào, ông viết nhiều bài ca trù đa tình. Nếu Xuân Diệu sau này cho là “kẻ đa tình không cần đủ thịt da”, dĩ nhiên là bằng lý thuyết. Thì Nguyễn Công Trứ đa tình thực hơn, năm 73 tuổi ông cưới vợ. Khi cô dâu hỏi tuổi, ông trả lời hài hước “năm mươi năm trước, anh hai ba” (ngũ thập niên tiền, nhị thập tam).

Ngông mà không nổi loạn: “Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”

Ngông nhưng không đả phá, không nổi loạn; ngông mà chuẩn mực, giữ cốt cách “thiện căn” (chữ Nguyễn Du) là cốt lõi tư tưởng ngông của Nguyễn Công Trứ.

Giai thoại kể, khi cụ Trứ đã về hưu nhưng vẫn được nhân dân hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn nhớ ơn khẩn điền nên lập đền thờ cụ rồi rước cụ từ quê Hà Tĩnh ra chơi. Có một viên thị vệ thấy thế, bèn bịa đặt mật tâu về Kinh là cụ Trứ đang tìm cách thu phục nhân tâm, có ý mưu đồ làm phản. Nhà vua vội vàng cho triệu cụ vào Kinh để tìm cớ trừ “hậu họa”. Tuy nhiên, khi tỉnh táo suy xét lại, triều đình cũng hiểu được rằng đó chỉ là những lời đồn xằng bậy, xấu xa.

Tương truyền, lúc cụ đã vượt hàng ngàn dặm về Kinh, vua Tự Đức mời cụ vào diện kiến để cụ giãi bày tâm sự cho rõ thực hư. Nhà vua hỏi Nguyễn Công Trứ: “Ở hạt Tiền Hải và Kim Sơn dân tình làm ăn thế nào?”. Nguyễn Công Trứ tâu rằng: “Thưa bệ hạ, dân hai huyện ấy làm ăn rất là vui vẻ, ngày thì chăm lo cày cấy, tối về đập lúa ca hát, thật đúng là cảnh “muôn dân trăm họ, thái bình âu ca”. Họ thường đặt ra những câu hát đố rất là thú vị để hát đối đáp với nhau”. Vua sốt ruột hỏi: “Như những câu gì, có thể đọc cho trẫm nghe được không?”. “Tâu bệ hạ, chẳng hạn như câu này: “Đem thân cho thế gian ngồi/ Rồi ra mang tiếng con người bất trung””. Vua hỏi là cái gì, cụ Trứ đáp họ bảo đấy là cái phản. Vua Tự Đức lại hỏi còn câu gì hay nữa không. Nguyễn Công Trứ đáp còn câu này cũng hay lắm: “Ngay lòng ở với nước nhà/ Người dù không biết trời đà biết cho”. Vua lại hỏi là cái gì. “Tâu bệ hạ, họ giảng đấy là cái máng nước”, cụ Trứ đáp.

Vua Tự Đức biết ẩn ý của cụ Trứ ám chỉ việc mình bị vu oan và trách triều đình không biết xét việc minh bạch có trước có sau, nên tìm lời an ủi rồi cho cụ Trứ trở về nguyên quán ở Hà Tĩnh an nhàn.

T.N.T

Tạp chí Giáo dục TP.HCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm