TIN TỨC

Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-22 23:19:59
mail facebook google pos stwis
883 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Sách “Đại Nam liệt truyện”, bộ sách lịch sử ghi chép về gia phả triều Nguyễn, chép về Nguyễn Công Trứ như sau: “Công Trứ là người trác lạc, có tài khí, có tài làm văn, càng giỏi về quốc âm, làm ra thi ca rất nhiều, đến nay hãy còn truyền tụng. Trứ làm quan thường bị bãi cách rồi được cất nhắc lên ngay; tỏ sức ở chiến trường nhiều lần lập được công chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức doanh điền, sửa sang, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn. Khi tuổi già về nghỉ, tức thì bỏ qua việc đời, chơi thú sơn thủy. Sau khi Trứ mất, các huyện ấp do ông lập ra đều đựng đền để thờ”.

Tổng kết cuộc đời làm quan đầy thăng trầm của mình, Nguyễn Công Trứ khái quát trong mấy câu hát nói: “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú/ Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung/ Trong triều ai ngất ngưởng như ông” (Bài ca ngất ngưởng).

Từ lúc chào đời cho đến chết vẫn cứ… ngông!

Ngày mồng một, tháng mười một, năm Mậu Tuất (1778), Nguyễn Công Trứ chào đời. Người xưa nói “trai mồng một, gái hôm rằm” (ý nói trai, gái sinh vào ngày này thường khó nuôi và bướng bỉnh) quả không sai. Giai thoại kể lại, vừa lọt lòng mẹ, cậu bé Củng (tên húy Nguyễn Công Trứ từ nhỏ) đã tỏ ngay sự ngông bướng bằng cách không thèm khóc như những đứa trẻ sơ sinh khác. Người nhà và hàng xóm đưa hết nồi đồng, mâm thau đến khua gõ liên hồi, cậu cũng mặc. Chỉ đến khi cả đám người lớn đã mỏi rã rời thì cậu mới cất tiếng khóc oang oang như tiếng chuông đồng.

Thuở trẻ, Nguyễn Công Trứ thi hỏng nhiều lần, nhưng ông tin vào tài mình. Khi vua Minh Mạng mở khoa thi, ông làm tờ “tự tiến cử” xin vào thi và nói thẳng mình “có tài kinh bang tế thế”. Thi đỗ xong, Nguyễn Công Trứ làm quan (“không ngồi bàn giấy”) và giữ nhiều chức quan trọng, khai khẩn ruộng đất, lập nên hai huyện Tiền Hải, Thái Bình và Kim Sơn, Ninh Bình trước đây. Nhờ chính sách khuyến khích “ai khai khẩn thì được cấp đất”, chỉ vài năm đã có hàng chục ngàn mẫu ruộng mới, dân nghèo có chỗ làm ăn. Vì vậy, dân gian vẫn truyền câu ca: “Công đức ông Nguyễn Công Trứ/ Mở đất Tiền Hải, Kim Sơn muôn đời”. Và một hiện tượng hiếm có trong văn hóa tâm linh người Việt, Nguyễn Công Trứ được người dân Kim Sơn và một số nơi lập đền thờ (sinh từ) ngay khi ông đang còn sống.

Khi “nhập thế” (theo Khổng giáo) lập công lưu danh, Nguyễn Công Trứ đã để lại danh ngôn mà nhiều thế hệ học trò học làm khí tiết: “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông” (Đi thi tự vịnh). Khi “xuất thế” theo Đạo giáo, thì nhìn ra “núi nọ phau phau mây trắng”,  không màng được mất “khen chê phơi phới ngọn đông phong” (Bài ca ngất ngưởng). Ngay cả khi chua chát nhìn lại đời mình, Thượng Uy Viễn vẫn là người đầy khí phách: “Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.

Năm 1858, đời vua Tự Đức năm thứ 11, thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, tấn công Đà Nẵng. Nguyễn Công Trứ khi đó đã 80 tuổi nhưng vẫn xin vua cho đi đánh giặc. Ông mất vào năm ấy. Cho tới tận khi chết, Nguyễn Công Trứ vẫn cứ ngông. Tương truyền, trước khi “tiếp tục cuộc chơi bất tuyệt ở thế giới bên kia”, Nguyễn Công Trứ đã dặn con cháu không nên bày biện tang lễ tốn kém, mà cứ để ông nằm nguyên trên chõng như khi đang ngủ, thả xuống huyệt là xong! Nhưng chắc vì lễ hiếu con cháu đã… không dám nghe theo lời.

“Tương tư - ngông” kiểu Nguyễn Công Trứ

Người mắc “bệnh tương tư” nhiều có lẽ là Nguyễn Bính, khi người ta hay nhắc đến thơ ông: “Nắng mưa là bệnh của giời/ Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. Nhưng tương tư mà trở thành bệnh “kinh niên” có thể kể là Xuân Diệu. Song ít ai biết rằng, “bệnh” này đã có từ lâu đời, trong các nhà nho xưa như Tú Xương, Tản Đà, Cao Bá Quát… Có điều các nhà nho bản lĩnh và có “cốt cách hiên ngang” (chữ Hoài Thanh) hơn các nhà Thơ mới. Nguyễn Công Trứ cũng vậy, cũng rất tương tư theo cách ngông của ông. Thử đọc lại bài này: “Tương tư không biết cái làm sao/ Muốn vẽ mà chơi, vẽ được nào/ Khi đứng khi ngồi khi nói chuyện/ Lúc say lúc tỉnh lúc chiêm bao/ Trăng soi trước mặt, ngờ chân bước/ Gió thổi bên tai, ngỡ miệng chào/ Một nước một non, người một ngả/ Tương tư không biết cái làm sao” (Tương tư). Quả thật rất “hiên ngang”, hiện đại. Hoặc trong bài “Bỡn nhân tình”, ông viết: “Tau ở nhà tau, tau nhớ mi/ Nhớ mi nên phải bước chân đi/ Không đi mi nói: răng không đến?/ Đến thì mi nói: đến làm chi…”. Đây là một cách “đùa” tình, “vờn” tình thân mật như là một thú tao nhã của các nhà nho xưa.

Nguyễn Công Trứ là người đào hoa, mê hát ả đào, ông viết nhiều bài ca trù đa tình. Nếu Xuân Diệu sau này cho là “kẻ đa tình không cần đủ thịt da”, dĩ nhiên là bằng lý thuyết. Thì Nguyễn Công Trứ đa tình thực hơn, năm 73 tuổi ông cưới vợ. Khi cô dâu hỏi tuổi, ông trả lời hài hước “năm mươi năm trước, anh hai ba” (ngũ thập niên tiền, nhị thập tam).

Ngông mà không nổi loạn: “Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”

Ngông nhưng không đả phá, không nổi loạn; ngông mà chuẩn mực, giữ cốt cách “thiện căn” (chữ Nguyễn Du) là cốt lõi tư tưởng ngông của Nguyễn Công Trứ.

Giai thoại kể, khi cụ Trứ đã về hưu nhưng vẫn được nhân dân hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn nhớ ơn khẩn điền nên lập đền thờ cụ rồi rước cụ từ quê Hà Tĩnh ra chơi. Có một viên thị vệ thấy thế, bèn bịa đặt mật tâu về Kinh là cụ Trứ đang tìm cách thu phục nhân tâm, có ý mưu đồ làm phản. Nhà vua vội vàng cho triệu cụ vào Kinh để tìm cớ trừ “hậu họa”. Tuy nhiên, khi tỉnh táo suy xét lại, triều đình cũng hiểu được rằng đó chỉ là những lời đồn xằng bậy, xấu xa.

Tương truyền, lúc cụ đã vượt hàng ngàn dặm về Kinh, vua Tự Đức mời cụ vào diện kiến để cụ giãi bày tâm sự cho rõ thực hư. Nhà vua hỏi Nguyễn Công Trứ: “Ở hạt Tiền Hải và Kim Sơn dân tình làm ăn thế nào?”. Nguyễn Công Trứ tâu rằng: “Thưa bệ hạ, dân hai huyện ấy làm ăn rất là vui vẻ, ngày thì chăm lo cày cấy, tối về đập lúa ca hát, thật đúng là cảnh “muôn dân trăm họ, thái bình âu ca”. Họ thường đặt ra những câu hát đố rất là thú vị để hát đối đáp với nhau”. Vua sốt ruột hỏi: “Như những câu gì, có thể đọc cho trẫm nghe được không?”. “Tâu bệ hạ, chẳng hạn như câu này: “Đem thân cho thế gian ngồi/ Rồi ra mang tiếng con người bất trung””. Vua hỏi là cái gì, cụ Trứ đáp họ bảo đấy là cái phản. Vua Tự Đức lại hỏi còn câu gì hay nữa không. Nguyễn Công Trứ đáp còn câu này cũng hay lắm: “Ngay lòng ở với nước nhà/ Người dù không biết trời đà biết cho”. Vua lại hỏi là cái gì. “Tâu bệ hạ, họ giảng đấy là cái máng nước”, cụ Trứ đáp.

Vua Tự Đức biết ẩn ý của cụ Trứ ám chỉ việc mình bị vu oan và trách triều đình không biết xét việc minh bạch có trước có sau, nên tìm lời an ủi rồi cho cụ Trứ trở về nguyên quán ở Hà Tĩnh an nhàn.

T.N.T

Tạp chí Giáo dục TP.HCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm