TIN TỨC

Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-22 23:19:59
mail facebook google pos stwis
1424 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Sách “Đại Nam liệt truyện”, bộ sách lịch sử ghi chép về gia phả triều Nguyễn, chép về Nguyễn Công Trứ như sau: “Công Trứ là người trác lạc, có tài khí, có tài làm văn, càng giỏi về quốc âm, làm ra thi ca rất nhiều, đến nay hãy còn truyền tụng. Trứ làm quan thường bị bãi cách rồi được cất nhắc lên ngay; tỏ sức ở chiến trường nhiều lần lập được công chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức doanh điền, sửa sang, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn. Khi tuổi già về nghỉ, tức thì bỏ qua việc đời, chơi thú sơn thủy. Sau khi Trứ mất, các huyện ấp do ông lập ra đều đựng đền để thờ”.

Tổng kết cuộc đời làm quan đầy thăng trầm của mình, Nguyễn Công Trứ khái quát trong mấy câu hát nói: “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú/ Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung/ Trong triều ai ngất ngưởng như ông” (Bài ca ngất ngưởng).

Từ lúc chào đời cho đến chết vẫn cứ… ngông!

Ngày mồng một, tháng mười một, năm Mậu Tuất (1778), Nguyễn Công Trứ chào đời. Người xưa nói “trai mồng một, gái hôm rằm” (ý nói trai, gái sinh vào ngày này thường khó nuôi và bướng bỉnh) quả không sai. Giai thoại kể lại, vừa lọt lòng mẹ, cậu bé Củng (tên húy Nguyễn Công Trứ từ nhỏ) đã tỏ ngay sự ngông bướng bằng cách không thèm khóc như những đứa trẻ sơ sinh khác. Người nhà và hàng xóm đưa hết nồi đồng, mâm thau đến khua gõ liên hồi, cậu cũng mặc. Chỉ đến khi cả đám người lớn đã mỏi rã rời thì cậu mới cất tiếng khóc oang oang như tiếng chuông đồng.

Thuở trẻ, Nguyễn Công Trứ thi hỏng nhiều lần, nhưng ông tin vào tài mình. Khi vua Minh Mạng mở khoa thi, ông làm tờ “tự tiến cử” xin vào thi và nói thẳng mình “có tài kinh bang tế thế”. Thi đỗ xong, Nguyễn Công Trứ làm quan (“không ngồi bàn giấy”) và giữ nhiều chức quan trọng, khai khẩn ruộng đất, lập nên hai huyện Tiền Hải, Thái Bình và Kim Sơn, Ninh Bình trước đây. Nhờ chính sách khuyến khích “ai khai khẩn thì được cấp đất”, chỉ vài năm đã có hàng chục ngàn mẫu ruộng mới, dân nghèo có chỗ làm ăn. Vì vậy, dân gian vẫn truyền câu ca: “Công đức ông Nguyễn Công Trứ/ Mở đất Tiền Hải, Kim Sơn muôn đời”. Và một hiện tượng hiếm có trong văn hóa tâm linh người Việt, Nguyễn Công Trứ được người dân Kim Sơn và một số nơi lập đền thờ (sinh từ) ngay khi ông đang còn sống.

Khi “nhập thế” (theo Khổng giáo) lập công lưu danh, Nguyễn Công Trứ đã để lại danh ngôn mà nhiều thế hệ học trò học làm khí tiết: “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông” (Đi thi tự vịnh). Khi “xuất thế” theo Đạo giáo, thì nhìn ra “núi nọ phau phau mây trắng”,  không màng được mất “khen chê phơi phới ngọn đông phong” (Bài ca ngất ngưởng). Ngay cả khi chua chát nhìn lại đời mình, Thượng Uy Viễn vẫn là người đầy khí phách: “Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.

Năm 1858, đời vua Tự Đức năm thứ 11, thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, tấn công Đà Nẵng. Nguyễn Công Trứ khi đó đã 80 tuổi nhưng vẫn xin vua cho đi đánh giặc. Ông mất vào năm ấy. Cho tới tận khi chết, Nguyễn Công Trứ vẫn cứ ngông. Tương truyền, trước khi “tiếp tục cuộc chơi bất tuyệt ở thế giới bên kia”, Nguyễn Công Trứ đã dặn con cháu không nên bày biện tang lễ tốn kém, mà cứ để ông nằm nguyên trên chõng như khi đang ngủ, thả xuống huyệt là xong! Nhưng chắc vì lễ hiếu con cháu đã… không dám nghe theo lời.

“Tương tư - ngông” kiểu Nguyễn Công Trứ

Người mắc “bệnh tương tư” nhiều có lẽ là Nguyễn Bính, khi người ta hay nhắc đến thơ ông: “Nắng mưa là bệnh của giời/ Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. Nhưng tương tư mà trở thành bệnh “kinh niên” có thể kể là Xuân Diệu. Song ít ai biết rằng, “bệnh” này đã có từ lâu đời, trong các nhà nho xưa như Tú Xương, Tản Đà, Cao Bá Quát… Có điều các nhà nho bản lĩnh và có “cốt cách hiên ngang” (chữ Hoài Thanh) hơn các nhà Thơ mới. Nguyễn Công Trứ cũng vậy, cũng rất tương tư theo cách ngông của ông. Thử đọc lại bài này: “Tương tư không biết cái làm sao/ Muốn vẽ mà chơi, vẽ được nào/ Khi đứng khi ngồi khi nói chuyện/ Lúc say lúc tỉnh lúc chiêm bao/ Trăng soi trước mặt, ngờ chân bước/ Gió thổi bên tai, ngỡ miệng chào/ Một nước một non, người một ngả/ Tương tư không biết cái làm sao” (Tương tư). Quả thật rất “hiên ngang”, hiện đại. Hoặc trong bài “Bỡn nhân tình”, ông viết: “Tau ở nhà tau, tau nhớ mi/ Nhớ mi nên phải bước chân đi/ Không đi mi nói: răng không đến?/ Đến thì mi nói: đến làm chi…”. Đây là một cách “đùa” tình, “vờn” tình thân mật như là một thú tao nhã của các nhà nho xưa.

Nguyễn Công Trứ là người đào hoa, mê hát ả đào, ông viết nhiều bài ca trù đa tình. Nếu Xuân Diệu sau này cho là “kẻ đa tình không cần đủ thịt da”, dĩ nhiên là bằng lý thuyết. Thì Nguyễn Công Trứ đa tình thực hơn, năm 73 tuổi ông cưới vợ. Khi cô dâu hỏi tuổi, ông trả lời hài hước “năm mươi năm trước, anh hai ba” (ngũ thập niên tiền, nhị thập tam).

Ngông mà không nổi loạn: “Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”

Ngông nhưng không đả phá, không nổi loạn; ngông mà chuẩn mực, giữ cốt cách “thiện căn” (chữ Nguyễn Du) là cốt lõi tư tưởng ngông của Nguyễn Công Trứ.

Giai thoại kể, khi cụ Trứ đã về hưu nhưng vẫn được nhân dân hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn nhớ ơn khẩn điền nên lập đền thờ cụ rồi rước cụ từ quê Hà Tĩnh ra chơi. Có một viên thị vệ thấy thế, bèn bịa đặt mật tâu về Kinh là cụ Trứ đang tìm cách thu phục nhân tâm, có ý mưu đồ làm phản. Nhà vua vội vàng cho triệu cụ vào Kinh để tìm cớ trừ “hậu họa”. Tuy nhiên, khi tỉnh táo suy xét lại, triều đình cũng hiểu được rằng đó chỉ là những lời đồn xằng bậy, xấu xa.

Tương truyền, lúc cụ đã vượt hàng ngàn dặm về Kinh, vua Tự Đức mời cụ vào diện kiến để cụ giãi bày tâm sự cho rõ thực hư. Nhà vua hỏi Nguyễn Công Trứ: “Ở hạt Tiền Hải và Kim Sơn dân tình làm ăn thế nào?”. Nguyễn Công Trứ tâu rằng: “Thưa bệ hạ, dân hai huyện ấy làm ăn rất là vui vẻ, ngày thì chăm lo cày cấy, tối về đập lúa ca hát, thật đúng là cảnh “muôn dân trăm họ, thái bình âu ca”. Họ thường đặt ra những câu hát đố rất là thú vị để hát đối đáp với nhau”. Vua sốt ruột hỏi: “Như những câu gì, có thể đọc cho trẫm nghe được không?”. “Tâu bệ hạ, chẳng hạn như câu này: “Đem thân cho thế gian ngồi/ Rồi ra mang tiếng con người bất trung””. Vua hỏi là cái gì, cụ Trứ đáp họ bảo đấy là cái phản. Vua Tự Đức lại hỏi còn câu gì hay nữa không. Nguyễn Công Trứ đáp còn câu này cũng hay lắm: “Ngay lòng ở với nước nhà/ Người dù không biết trời đà biết cho”. Vua lại hỏi là cái gì. “Tâu bệ hạ, họ giảng đấy là cái máng nước”, cụ Trứ đáp.

Vua Tự Đức biết ẩn ý của cụ Trứ ám chỉ việc mình bị vu oan và trách triều đình không biết xét việc minh bạch có trước có sau, nên tìm lời an ủi rồi cho cụ Trứ trở về nguyên quán ở Hà Tĩnh an nhàn.

T.N.T

Tạp chí Giáo dục TP.HCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm