TIN TỨC

Võ Chí Nhất kể chuyện trinh thám

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-06-15 11:20:33
mail facebook google pos stwis
1650 lượt xem

Một ngày đẹp trời, Võ Chí Nhất gửi tặng tôi cuốn sách vừa ra mắt bạn đọc. Những gì tôi biết về anh, đó là một Đại úy đang công tác trong ngành Công an tuổi đời khoảng ba mươi.

Đọc xong, tôi ngay lập tức nhắn tin trao đổi. Qua câu chuyện, tôi biết anh yêu thích truyện trinh thám từ nhỏ và viết văn từ rất sớm. Năm 24 tuổi (2017) anh đã trở thành hội viên Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh.

Tính đến thời điểm hiện tại, Võ Chí Nhất đã cho ra mắt bạn đọc 5 cuốn sách. Đó là tiểu thuyết "Hoàng Cung" (NXB Văn hóa - Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2016), "Khiếu ăn mày" (NXB Văn hóa - Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2018), tập truyện "Nghệ sĩ sáng tạo và Nhà phê bình" (NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2020), tập truyện trinh thám "Muội Tro" (NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2022), tập truyện trinh thám “Án, sau vết chân” (NXB Đồng Nai - Hanoibooks, 2024).

Đặc biệt, tiểu thuyết "Hoàng Cung" được dịch và xuất bản ở Ý với tựa “II Palazzo Reale di Thang Long”, NXB Fiori d'Asia Editrice, 2024. Và anh từng nhận được Tặng thưởng của Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh năm 2022 cho tập truyện "Muội tro". Truyện ngắn trinh thám "Đóa hồng đẫm sương" được đưa vào sách giáo khoa lớp 9, bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống", tập II, NXB Giáo dục Việt Nam năm 2024.

Nhà văn Võ Chí Nhất

Trở lại với tập truyện “Án, sau vết chân”, tôi thừa nhận mình là một độc giả khắt khe. Có lẽ bởi tôi đã đọc quá nhiều những Dan Brown, Conan Doyle, Sydney Sheldon, Stefan Wolf... từ thơ ấu đến tận bây giờ. Vì thế mà ngay ở truyện đầu tiên, "Thừa một dấu chân", tôi đã rất sốt ruột với nhân vật Hà ớt, cô Đại úy Cảnh sát. Vì cô ấy lừng khừng quá, tỉ mỉ đến thừa thãi, phán xét đến rườm rà. Phải chăng, với hồ sơ những vụ án sắp mốc lên trong tàng thư thì không cần phải khẩn trương? Tác giả dụng công xây dựng nhân vật Hà ớt đậm bao nhiêu thì các sự hiện diện khác trong truyện mờ nhạt bấy nhiêu. Người đọc cứ phải cố hình dung về nạn nhân và bi kịch của nạn nhân, cho dù đối tượng cần giấu đi, làm mờ đi chính là nghi phạm.

Trong truyện "Cách mời một chuyên gia" thì cái sự rề rà đã được tiết chế. Tuy nhiên, chiếc áo ngắn có vẻ gọn gàng ấy lại bị hở sườn chí mạng. Tại sao Hà ớt không làm bài test luôn với cái gã chuyên gia về cổ vật? Để xem trình của hắn có thật sự xứng với những hao tâm tổn sức mà Hà ớt bày bố đợi hắn xuất hiện không? Thứ mà độc giả theo dõi câu chuyện và nôn nóng chờ đợi chính là ở cái cảnh còn khuyết đó.

Hai truyện sau đó, “Món quà quý giá” và "Giọt lệ sau bức tranh cổ" thì cái chất trinh thám lại chuyển hướng sang một xu thế khác. Nghĩa là không tra xét, khám phá vấn đề từ ngoài vào theo trình tự lớp lang nữa. Có một "ngữ đạo" để độc giả chui sâu vào nội tình câu chuyện, như là nội gián, sau đó bật đèn laser soi chiếu, khám phá từ trong ra. Đến lúc này, tôi đã bắt đầu khái quát được vài dòng về Võ Chí Nhất, đó là sự phân biệt sâu sắc của những cái khác, giống như một trích đoạn anh ấy đặt ở đầu cuốn sách.

"Sự khác biệt duy nhất giữa thánh nhân và tội nhân là mọi vị thánh đều có quá khứ, và mọi tội nhân đều có tương lai - Oscar Wilde". Võ Chí Nhất đang chứng minh điều này theo cái cách của riêng mình. Hai truyện này cho phép người đọc kết luận một cách lạc quan rằng: "Văn là người". Với giọng điệu ấy, tuyên bố ấy, thì cái kết truyện nó phải như thế. Nó hướng về phía tốt đẹp, như cái dây leo hướng về phía mặt trời, như cái hạt trong kẽ tường tự biết cách chui ra, xòe tán. Và đó cũng là thế mạnh của anh.

Sau "Giọt lệ sau bức tranh cổ" là "Trái táo đỏ". Đọc cái tựa truyện tôi thoáng hình dung đến những "Dải băng lốm đốm", "Chiếc nhẫn tình cờ"... trong series truyện về thám tử Sherlock Holmes của Conan Doyle. Khi mọi sự đầu tư chăm chút không còn lấn bấn, lẩn quẩn quanh cô Đại úy Hà nữa thì tác giả tập trung vào những nhân vật trong tấn thảm kịch gia đình.

Đại úy Hà giống như một "thám tử tư vấn" được một thành viên bí ẩn trong gia đình cậy nhờ, tin tưởng. Nhiệm vụ của cô là điều tra, vạch trần, chống lại một âm mưu đen tối của những kẻ vốn là thân tình máu mủ của nhau. Và Hà đã rất thành công ngăn chặn một tội ác tày trời chuẩn bị diễn ra. Không những thế, cô còn góp phần thức tỉnh lương tri con người. Có thể nói đây là một truyện rất hay và cuốn hút theo một mô típ điển hình mà Võ Chí Nhất theo đuổi.

Tác phẩm mới của nhà văn Võ Chí Nhất

"Và rồi ta cũng tự do" nối tiếp mạch thành công của "Quả táo đỏ" là một truyện trinh thám chứa đầy bi kịch con người. Đôi vợ chồng ấy, đứa trẻ ấy và cả anh chồng cũ, họ bám riết nhau, nghi kị nhau, theo dõi nhau sát sao, kỳ thực là sắp mất nhau đến nơi rồi. Bởi giữa họ là một lối đào thoát bí mật hằng đêm của người vợ "chết rồi mà chưa được chôn". Giữa họ là một căn nhà nhỏ yên tĩnh khác và đoạn phố đông người sẵn sàng xóa dấu vết, là cả cuốn Kinh Địa Tạng dày cộp và bao tâm tư giấu kín. Không khí truyện căng cứng như trái bom hẹn giờ. Và rồi, Hà ớt vào vai một "phù thủy" nhẹ nhàng, tinh tế, cảm thông và cũng đầy hiểu biết, dũng cảm tháo gỡ thành công quả bom ấy.

Ở truyện này, nếu như tác giả gọt bớt những câu văn hàn lâm, trường ốc đi, thì nó đời hơn, gai góc hơn. Trên bãi sỏi toàn những viên trắng muốt tròn xoe, nếu có một cái vỏ ốc xỉn màu, thì người ta sẽ tập trung nhìn vào cái vỏ ốc đó. Bởi sự nhận diện văn chương nằm trong chính cái vẻ tưởng như khiếm khuyết ấy. Nếu cố tình mài giũa cho sáng, cho nhẵn, thì cái logic về sự khác biệt lại bị chính ta phủ nhận. Chưa kể, nếu Võ Chí Nhất lẳng lặng giấu đi cái sự giải thích dài dòng, thì câu chuyện sẽ sâu hơn, kín hơn. Mà hình như, ở tất cả mọi truyện, tác giả đều bạch hóa hành trình "phá án" của mình trước mặt nghi phạm như vậy. Tôi cho đó là sự không cần thiết.

Chia sẻ về điều này, Võ Chí Nhất cho biết một nhà văn hiện đại phải có tư duy đạo diễn và là một “diễn viên điện ảnh”: “Kết cấu truyện trinh thám cũng như một cái hình tam giác có 3 cạnh, bởi những tình tiết đưa vào truyện đều phục vụ cho một mục đích nào đó. Truyện ngắn trinh thám luôn có một cái kết giải thích vì thế những cái kết truyện luôn đồ sộ, như cạnh dưới của hình tam giác. Kiểu kết này được các nhà văn trinh thám (như Agatha Christie) sử dụng từ rất lâu, và hiện tôi cũng đã tìm tòi cách thức để làm cái kết ấy bớt đồ sộ nhưng thật không đơn giản”.

Tôi nhận thấy, Võ Chí Nhất chưa sẵn sàng để thoát ly khỏi những thứ anh ấy đã đọc, đã ngấm rất sâu. Tại sao lại phải sử dụng triết lý của người khác trong hành trình sáng tạo của mình? Nếu như anh ấy để mình bị "ảnh hưởng" quá nhiều từ những bậc thầy trinh thám đó, thì độc giả còn muốn đọc anh không? Hơn nữa, những cái kết đồ sộ chỉ phù hợp với những tác phẩm có cấu trúc đồ sộ, phức tạp và thường là ở thể loại tiểu thuyết. Còn với truyện ngắn, truyện vừa, thì câu văn dài, chi tiết rườm rà hay cái kết chẻ hoe, đều không thật sự phù hợp. Thể loại này kén người viết bao nhiêu thì kén độc giả bấy nhiêu.

Tuy nhiên, tôi tin rằng, chính Võ Chí Nhất cũng chưa hề thỏa mãn với những gì mình đã viết. Anh chỉ đang bảo vệ đứa con tinh thần của mình trước sự soi xét của độc giả kỹ tính mà thôi. Thể loại trinh thám, nó là thứ văn “đánh bả” không chỉ người đọc, mà ngay cả người viết, nếu đã lún vào thì cứ việc vùng vẫy trong cái bể tư duy không ngừng tự mình tạo ra đó thôi. Tất nhiên, tác giả vùng vẫy là để vươn tới những cột mốc xa hơn, tạo ra những đột phá khiến chính mình phải sửng sốt. Anh còn bật mí, có thể trong thời gian tới anh sẽ viết vài truyện ngắn trinh thám sử để làm cho khu vườn văn chương của anh đa dạng hơn.

Tóm lại, “Án, sau vết chân” là cuốn sách đáng đọc và đáng được trân trọng. Mong Võ Chí Nhất sớm cho ra mắt bạn đọc cuốn "Cảnh sát và tội phạm" với series truyện về Hà ớt sau khi đã "tối ưu hóa" cách thể hiện mà “Án, sau vết chân” là một tiền đề ý nghĩa. Bởi đó là một miền đề tài tiềm năng, người trong lực lượng Công an như Võ Chí Nhất hoàn toàn có đủ điều kiện để thành công hơn nữa.

Tống Ngọc Hân

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm