TIN TỨC

Chân dung Nguyễn Bính qua giai thoại văn học

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-09-18 11:32:38
mail facebook google pos stwis
1886 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Để đánh giá chân tài nhà thơ phải dựa vào trước tác của họ. Tuy vậy, nhiều khi căn cứ vào các cảnh huống sinh hoạt thường ngày, dựa vào những câu chuyện hoạt động văn nghệ đời thường của văn nghệ sĩ, mà người ta hay gọi là giai thoại, cũng giúp ta hiểu thêm cuộc đời và sáng tác của họ hơn. Hầu hết tác giả văn học Việt Nam đều có những giai thoại đáng nhớ, trong đó không thể không kể đến “thi sĩ chân quê” Nguyễn Bính.

Nhà thơ Nguyễn Bính

Dưới đây là một số giai thoại “vẽ” nên chân dung Nguyễn Bính.

Những “nhân vật” nữ trong thơ Nguyễn Bính

Ai đã đọc thơ Nguyễn Bính thì không thể quên bài thơ Lỡ bước sang ngang được. Và lại càng không thể quên hình tượng nhân vật người chị (lần này chị bước sang ngang) trong bài thơ này. Lý do đơn giản là, thường thì người ta đưa người yêu (em) đi lấy chồng. Còn ở đây Nguyễn Bính xưng là “chị”, lại có tên tuổi hẳn hoi trong nhiều bài thơ Nguyễn Bính đề “Tặng chị Trúc”. Vậy chị Trúc là ai? Liên quan gì đến “thiên tình sử” sang ngang lỡ bước này? Theo tìm hiểu thì chị Trúc có tên thật là Lê N. Th. (tên viết tắt theo tác giả Bùi Hạnh Cẩn, người anh bà con cô cậu và bạn thân của Nguyễn Bính). Chị Lê N. Th. là một phụ nữ đẹp, có tâm hồn thơ mộng. Chị có chồng là ông chủ một hiệu ảnh ở Hà Đông – Hà Nội. Nhưng hôn nhân này đổ vỡ. Chị đi bước nữa với nghệ sĩ Trúc Đường, là anh ruột Nguyễn Bính. Có lẽ Nguyễn Bính gọi chị Trúc là từ tên anh Trúc Đường mà ra. Hai người thuê nhà ở riêng và quyết tâm lấy nhau. Nhưng rồi duyên lại không thành, Nguyễn Bính đã viết: Rồi đêm kia lệ ròng ròng/ Tiễn đưa người ấy sang sông chị về. Tâm hồn Nguyễn Bính như thế đấy, thương chị dâu không thành duyên với anh, mà viết ra bài thơ Lỡ bước sang ngang nức nở. Bài thơ dài đúng 110 câu, bằng với số ngày (110 ngày) mà anh chị mình đã sống gắn bó trong hạnh phúc.

Bài thơ Cô lái đò (được nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc phổ nhạc) cũng là giai thoại có thật về một “bóng hồng” trong thơ Nguyễn Bính. Bài thơ này được Nguyễn Bính viết từ những năm bốn mươi của thế kỷ 20. Tác giả Chu Văn kể lại câu chuyện xúc động này như sau: Cô ta tên là Thoa, đưa đò ngang qua sông Châu thơ mộng. Cô Thoa thường chở nhà thơ qua sông mà không lấy tiền, lại còn đọc thơ của Nguyễn Bính cho khách nghe, có cả những câu thơ mang bóng dáng mình: Xuân đã đem mong nhớ trở về/ Lòng cô gái ở bến sông kia… Sau này, trong một lần qua sông, lúc này Nguyễn Bính đã mất, nhà văn Chu Văn ngậm ngùi báo tin với cô Thoa lái đò: “Bác Bính làm thơ, vẫn hằng ngày đi chợ nhờ cô đưa sang ngang, bác ấy mất rồi cô ạ”. Một tiếng nấc nghẹn, cô Thoa gục mặt trên mái chèo, tiếng lạc đi: “Cháu biết! Giá chết thay được thì cháu tự nguyện chết thay để bác ấy sống, bác ấy làm thơ”. Nói đến đây, nhà văn Chu Văn bàng hoàng “rót” một lời bình: “Chao ôi, ngay cả bạn bè anh Bính, đã mấy ai nghĩ về anh chí tình đến như vậy”.

Và rồi còn nữa, bài thơ Viếng hồn trinh nữ, với những câu thơ đau xé lòng“Có một chiếc xe màu trắng đục/ Hai con ngựa trắng xếp hàng đôi/ Đem đi một chiếc quan tài trắng/ Và những vòng hoa trắng lạnh người…” là xúc cảm mãnh liệt của “thi sĩ chân quê” với cô gái chết trẻ, đẹp nhất phố Hàng Đào, Hà Nội ngày xưa.

Thiên tuyệt bút “một lời là một vận vào khó nghe”

Nguyễn Bính không chỉ giỏi làm thơ lục bát về “hương đồng gió nội”, mà ông còn có tài dịch thơ Đường rất chuyên nghiệp. Tài dịch thơ Đường của Nguyễn Bính thể hiện ở chỗ ông chuyển những bài thơ Đường theo thể ngũ ngôn, thất ngôn sang thể thơ lục bát – vốn rất mộc mạc, khó dung tải được cái âm hưởng của Đường thi. Không những thế, Nguyễn Bính còn có tài dịch thơ Đường rất nhanh. Giai thoại kể, hôm ấy ở tòa soạn báo Tiểu thuyết thứ năm, mọi người (gồm nhà thơ, dịch giả, nhà lý luận…) bàn tán về việc dịch thơ chữ Hán. Chủ bút Lê Tràng Kiều bèn thử tài dịch thơ Đường của mọi người với bài thơ Đường: Hoàng mai thời tiết gia gia vũ/Phương thảo trì đường cứ cứ oa/Hữu ước bất lai hoa dạ bán/Nhàn soa kỳ tử lạc đăng hoa. Ai nấy đều cầm bút xóa xóa gạch gạch bài dịch của mình. Nguyễn Bính chẳng giấy bút gì cả, đọc liền một mạch bài thơ dịch của mình: Ao hồ tiếng ếch gần xa/Cỏ thơm ngào ngạt, ngoài nhà mưa rơi/Nửa đêm cái hẹn sai rồi/Quân cờ gõ nhảm làm rơi hoa đèn. Dịch thơ mà lại sáng tạo được như hai câu sau thì thật là tuyệt bút!

Trong quá trình hiện đại hóa thi ca Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện cuộc tranh luận gay gắt giữa hai quan điểm: Một bên chủ trương cách tân triệt để để làm cho thơ mới lạ. Trường phái này có các cây bút chủ chốt như Phan Khôi, Xuân Diệu, Nguyễn Vỹ… với các bài thơ như Tình già, Cây đàn muôn điệu. Và một bên chủ trương giữ lấy cốt cách, cái hồn dân tộc cho thơ, trường phái này tập hợp các nhà thơ dân dã như Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ. Nguyễn Bính cũng âm thầm góp tiếng nói tranh luận của mình, không phải đao to búa lớn, mà bằng một bài thơ lục bát nhẹ nhàng Chân quê. Lúc ấy Nguyễn Bính mới 19, 20 tuổi. Một quan điểm rõ ràng, dứt khoát: Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê… Quan điểm sáng tác này theo suốt cuộc đời thơ tác giả và giúp Nguyễn Bính định hình một phong cách sáng tác độc đáo trong phong trào Thơ mới 1932-1945.

Nguyễn Bính (tên thật là Nguyễn Trọng Bính) sinh năm 1918 và mất năm 1966. Ông giã từ nghiệp thơ ở cõi trần sau một sự kiện mà nhiều người cho là có một sự “linh ứng” giữa ông và đại thi hào Nguyễn Du – Truyện Kiều. Nhà văn Chu Văn kể lại giai thoại này: Cuối năm 1965, nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du, mọi người đều chuẩn bị bài viết cho số báo Tết năm ấy. Nguyễn Bính vốn coi cụ Nguyễn Tiên Điền như là vị tổ sư nên không thể không viết về cụ. Chỉ trong một đêm, Nguyễn Bính âm thầm, lặng lẽ viết một bài thơ theo hình thức “tập Kiều” (lấy một câu Kiều và sáng tạo một câu của mình). Khi đưa bài đến tòa soạn, mọi người khen hay nhưng đùa với Nguyễn Bính về thân phận, vì ông đã “tập Kiều” câu thơ “Một lời là một vận vào khó nghe”. Nguyễn Bính chỉ cười và cho là các bạn văn của mình mê tín. Đúng ba mươi Tết năm ấy, Nguyễn Bính ra đi vĩnh viễn.

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

Cảm kích trước chân tài, người viết bài này xin viếng tặng ông “nhà thơ chân quê” Nguyễn Bính mấy dòng thơ lục bát để tỏ lòng mến mộ:

Thôn Đoài còn nhớ thôn Đông

Cây đa bến nước còn mong người về

Cánh cò trắng mượt bờ đê

Van em nỡ phụ lời thề cỏ may

Sang ngang một chuyến đò đầy

Xót xa bát đũa tháng ngày mồ côi

Trò chơi tiền lá mồng tơi

Sánh so sao được tiền đời hỡi em

Khóc cười đất Huế mưa đêm

Trời Nam hành khúc một miền xanh mơ

…

Nếp nhà còn một vườn thơ

Hoa chanh vẫn nở giữa bờ chân quê!

Nguồn: Tạp chí Giáo dục TP.HCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm