TIN TỨC

Julio Cortázar và tập truyện ngắn bị “bỏ quên”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-29 19:42:58
mail facebook google pos stwis
254 lượt xem

Mới đây, A Certain Lucas đã tái xuất sau nhiều thập kỉ, mở ra cánh cửa khám phá nhà văn vĩ đại người Argentina Julio Cortázar cũng như ảnh hưởng vượt khỏi châu Mĩ của cây bút này.

Trong bất kì bài viết nào về Julio Cortázar, có hai yếu tố không thể bỏ qua: ông là một trong những tên tuổi quan trọng nhất khi văn chương Mĩ Latinh bùng nổ vào thập niên 1960, và tiểu thuyết Hopscotch chính là kiệt tác của ông. Theo cách nghĩ đó, tập truyện A Certain Lucas có nhiều khả năng không mấy nổi bật: sáng tác vào cuối sự nghiệp, được dàn dựng lỏng lẻo, thiên về giải trí thay vì cho thấy tầm quan trọng trong việc khai thác lịch sử, tiểu sử và cả văn nghiệp của nhà văn này. Nhưng ở khía cạnh nào đó, nó lại cho thấy một mặt rất khác về di sản của ông mà không nhiều người biết.

 

Bậc thầy Argentina Julio Cortázar.

 

Trước hết, mặc dù không thể phủ nhận Cortázar là yếu nhân của thời kì bùng nổ văn học Mĩ Latinh (có lẽ chỉ sau Gabriel García Márquez trong việc đưa độc giả Anh ngữ đến với nền văn chương vốn xa lạ này), nhưng ông cũng có nhiều sự khác biệt so với các đồng nghiệp đương thời. Khi trả lời một cuộc phỏng vấn vào năm 1974, ông chia sẻ: "Tôi mang tính quốc tế sâu sắc" – điều đó có nghĩa tác phẩm của ông trải dài khắp thế giới về cả chủ đề lẫn tầm ảnh hưởng, giống như chính bản thân ông mà rồi ta biết ngày nay khi có độ lùi thời gian

Sinh tại Bỉ vào năm 1914, có cha mẹ là người Argentina, Cortázar đã thông thạo nhiều thứ tiếng từ năm 4 tuổi khi gia đình chuyển về thủ đô Buenos Aires. Ông sống ở đó đến năm 30 tuổi trước khi trở lại châu Âu cho đến cuối đời. Thuở nhỏ, ông yêu thích Jules Verne (Hai vạn dặm dưới đáy biển...) và muốn trở thành một người thủy thủ chu du khắp thế giới như nhiều nhân vật của tác giả này, nhưng bệnh hen suyễn đã giữ ông lại và đưa ông đến với cuộc phiêu lưu sách vở. Có thể nói ông chịu ơn rất nhiều từ những nhà văn đồng hương: từ Jorge Luis Borges, ông học được sự nghiêm khắc về mặt trí tuệ và nghệ thuật, trong khi từ Robert Arlt, ông lại tìm thấy sự gợi cảm và hoang dã. Bằng việc kết hợp những xung lực tương phản này, Cortázar đã tạo dựng nên nét đặc sắc nhất của riêng bản thân.

Tuy vậy nói thế là chưa đầy đủ, bởi ông cũng chịu ảnh hưởng từ các cây viết quốc tế, mà đặc biệt nhất là Edgar Allan Poe - người có những truyện ngắn chặt chẽ, kì ảo và đầy sức ảnh hưởng. Cây viết người Mĩ đã cho Cortázar biết ông nên viết một truyện ngắn theo motif nào. Từ khởi đầu này, như nhiều người đồng ý, những truyện ngắn trải dài từ hiện thực đến kì ảo khó tin chính là thành tựu văn học xuất sắc nhất của ông.

 

A Certain Lucas chứa đựng những gì là Cotarzar nhất

 

Khi xuất bản tiểu thuyết đầu tay The Winners vào năm 1960, ông đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của các trào lưu văn học châu Âu thời bấy giờ, đặc biệt là chủ nghĩa siêu thực. Cuốn sách là câu chuyện ngụ ngôn sắc sảo về chuyến du ngoạn của những kẻ ngốc rời khỏi Buenos Aires. Ảnh hưởng nói trên còn rõ nét hơn (nếu không nói nhất) trong tác phẩm tiếp theo mà Cronopios and Famas (1962), một tập hợp các tác phẩm văn xuôi phi lí hoàn toàn khác biệt với The Winners, là một điển hình.

Chỉ một năm sau, một sự đổi mới về phong cách lại được nhìn thấy ở Hopscotch - cuốn tiểu thuyết tâm lí đồ sộ đã giúp ông nổi tiếng khắp thế giới. Giống như trò chơi cùng tên, cuốn sách là sự chuyển đổi qua lại giữa các địa điểm mà trong trường hợp này là Argentina và châu Âu. Hình thức của tác phẩm cũng phản ánh sự chuyển động này, với việc người đọc có thể lựa chọn đọc theo bất cứ trình tự thời gian nào, từ đó đưa ra những cách đọc riêng, có thể không giống vời trình tự các chương đặt ra ở phần đầu truyện.

Nếu là một nhà văn khác, Cortázar có thể đã nối tiếp thành công của Hopscotch bằng một cuốn sách đồ sộ, hấp dẫn, nhưng ông luôn quan tâm đến tự do nghệ thuật hơn thành công đại chúng. Nhà văn Argentina này yêu nhạc jazz vì nó ngẫu hứng chứ không “cố định”, và Thiền tông vì nó vui tươi chứ không trang nghiêm. Là một người viết, ông biến hóa không ngừng trong những thập kỉ tiếp theo: Từ một tác phẩm Gothic ấn tượng mang tính thử nghiệm (62: A Model Kit, 1968), tiểu thuyết chính trị hiện thực (A Manual for Manuel, 1973) đến vô số tuyển tập, một số pha trộn nhiều thể loại đến mức các nhà phê bình đã xếp chúng vào loại “hỗn tạp”. Cortázar, người thích đặt tên cho mọi thứ, gọi chúng là “bọt biển”.

Nằm giữa một miếng bọt biển ấy là một tập truyện ngắn mang tên A Certain Lucas xuất bản vào năm 1979. Năm 1984, nó được dịch sang tiếng Anh bởi dịch giả Gregory Rabassa. Trong đó chứa đựng những giai thoại cá nhân, những câu chuyện châm biếm, những bài giảng giả tạo, những tiểu phẩm phi lí hài hước… xoay quanh nhân vật chính chính là Lucas. Điều đặc biệt là không có cốt truyện chính nào ở đây cả.

Chẳng hạn, cuốn sách có một bài thơ feuilleton châm biếm về sinh thái học xuất hiện bên cạnh một truyện ngắn kiểu Poe về ngành vận chuyển xác chết ở Argentina những năm 1930. Không dừng ở đó, nó còn một câu chuyện về một nghệ sĩ piano có 26 ngón tay, tài năng đến mức thính giả phải đeo thêm tai để nghe anh ta chơi, trong khi một chương là một câu đố vỏn vẹn bốn dòng. Cũng không thể không thấy một bài châm biếm kiểu Swift [Jonathan Swift, tác giả của Gulliver du kí - ND] về một nhà hàng sang trọng ở Paris và một đề xuất theo chủ nghĩa Dada [1] về việc đổi mới môn bơi lội Olympic bằng cách thay nước bằng bột yến mạch.

Cortázar từng tuyên bố: "Một cuốn sách không gì hơn là khoảnh khắc mà tác giả hoàn thành một tập truyện, tập hợp chúng lại và gửi đi in". Với tác phẩm này, người ta có cảm giác cuốn sách chỉ là hình thức giữ chúng lại với nhau, trong khi điều thực chất nhất lại là tuổi tác cũng như quan điểm. Điều đó có thể chứng minh trong câu đầu tiên mở ra cuốn sách: "Giờ thì Lucas đã già cả rồi". Nó nghe như một nốt trầm buồn bao trùm lên mọi thứ theo sau. Khi xuất bản A Certain Lucas, Cortázar 65 tuổi và sẽ qua đời 5 năm sau đó vì bệnh bạch cầu.

Ở một trong những câu chuyện dài nhất và đẹp nhất, Lucas phải để vợ mình ở lại bệnh viện giữa đêm để tìm cho bà một chiếc váy ngủ. Khi đang lạc lối, ông tình cờ tìm thấy tòa nhà mà bản thân đã không gặp lại trong 20 năm và đột nhiên "nhìn thấy những câu thần chú, ngửi thấy sự thật” như tiên đoán trước kết cục rồi sẽ xảy ra. Bên cạnh đó cũng có câu chuyện nhẹ nhàng về một gia đình nghệ sĩ lạc lõng, và một trang hồi tưởng về những nghệ sĩ piano vĩ đại mà Lucas yêu mến. Trong truyện cuối - câu chuyện ngụ ngôn hài hước về một con ốc sên đi khắp thị trấn để tìm người yêu nhưng không bao giờ tìm thấy, ông đã kết hợp giữa sự kì quặc và u sầu theo cách gợi nhớ đến tác phẩm Alice ở xứ sở thần tiên của Lewis Carroll. Đó cũng là một cuốn sách vui nhộn khác về tuổi già.

Từ những điều trên, A Certain Lucas khó có thể được ca ngợi là một kiệt tác của Cortázar, nhưng nó hoàn toàn xứng đáng được trao giải thưởng “giống Cortázar nhất” hay “mang đậm tinh thần của Cortázar nhất” – một tác phẩm được sáng tạo từ tinh thần tự do, và ở một khía cạnh nào đó, đây là đóng góp vĩ đại nhất của ông cho văn học thế giới bên cạnh danh xưng như “tứ trụ” bên cạnh Marquez, Llosa, Fuentes cũng như kiệt tác mang tên Hopscotch.

Dịch từ The New York Times

-------------
 

1. Chủ nghĩa Dada là một phong trào nghệ thuật và văn hóa tiên phong, ra đời ở Zurich, Thụy Sĩ vào năm 1916, trong bối cảnh Thế chiến I. Phong trào này mang tính phản kháng mạnh mẽ, bác bỏ các giá trị truyền thống của xã hội tư sản, chính trị và nghệ thuật đương thời. Đặc điểm chính của Dada là sự ngẫu nhiên, phi lý, châm biếm và có xu hướng "chống nghệ thuật".

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm