TIN TỨC

Trịnh Bích Ngân, người đi tìm ngôi đền thiêng tâm thức

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-01-22 07:34:00
mail facebook google pos stwis
1684 lượt xem

HƯƠNG THU

Không biết từ lúc nào, nhưng bắt đầu từ khi tôi được nhìn thấy những bức ảnh nhà văn Trịnh Bích Ngân chụp đăng trên face book, tôi đã nghĩ cô ấy ngoài nhà văn còn là một nhà thơ bởi từ những góc nhìn sự vật, sự việc có chiều sâu và mang tính nghệ thuật cao đã cho tôi cái cảm giác ấy.

Không nằm ngoài suy nghĩ của tôi, không lâu sau đó, tôi đã đọc được những dòng thơ đầu tiên của Trịnh Bích Ngân trên trang cá nhân của cô ấy. Những dòng thơ đã để lại trong tôi một ấn tượng mạnh mẽ bởi tính triết luận sâu sắc, và khi tập thơ đầu tiên của nhà văn Trịnh Bích Ngân “Nghiêng về phía nỗi đau” được ra mắt bạn bè và độc giả yêu thơ tôi không hề ngạc nhiên, vì đó là một điều tất yếu.

Dấn thân vào thế giới thơ, một thế giới vừa lung linh, rực rỡ vừa khắc khoải suy tư, Trịnh Bích Ngân đã chọn cho mình một lối đi riêng biệt của dòng thơ hiện thực. Vẫn biết, thơ hiện thực là một trong những dòng chảy của nền thi ca hiện đại. Song. điều khác biệt ở Trịnh Bích Ngân chính là tác giả đã không khai thác cái bên ngoài quen thuộc và luôn phô bày như một thực thể của cuộc sống. Điều nhà thơ hướng tới và luôn khao khát kiếm tìm chính là những điều ẩn khuất, sâu thẳm đầy những ưu tư, trăn trở của thế giới nội tâm. Cái hiện thực được nhà thơ Trịnh Bích Ngân phô bày trên trang giấy, rõ ràng và cụ thể, tưởng chừng như một với một bằng hai, chẳng qua chỉ là phương tiện để giúp nhà thơ gởi đi những mật hàm đầy ý nghĩa nhân văn.

Cuộc sống vốn luôn không hoàn hảo, bên cạnh những điều “sạch sẽ” vẫn luôn có những vết ố, lem luốc hiện diện như một thách thức, và người đàn bà thơ Trịnh Bích Ngân đã thức giấc lúc hai giờ sáng để “chiến đấu” với những vết bẩn làm xấu đi không gian sống, đó là “Những vết bẩn/ tướt đi giấc ngủ/ tướt đi bình yên…”. “Những vết bẩn không thể tẩy rửa bằng hóa chất/ Những vết bẩn ô uế cả những thứ/ Tưởng không thể nào ô uế”, những vết bẩn “Cứ lừng lững nghênh ngang/ Như nhà không chủ, như phố không người” (Người đàn bà tẩy rửa bếp lúc 2g sáng). Đọc thơ Trịnh Bích Ngân và nhận ra nhà thơ luôn dụng lối “Tá hoa trước y”, mượn thực tại để diễn ngôn cho tư tưởng sâu sắc ẩn chứa. Đó là hành trình của người đi tìm “ngôi đền thiêng tâm thức” và chỉ ngộ ra khi đã vượt qua những rào chắn của một dãy sự kiện. Người đọc như khách lữ hành cứ lần lượt vượt qua những hữu hạn của ngôn ngữ và cuối cùng chạm đến cái vô hạn của tư tưởng ngời sáng.

Thơ Trịnh Bích Ngân vì vậy vừa hiện thực giản đơn, vừa sâu sắc ý niệm, vừa gần gũi cuộc sống, vừa cao vời cảm xúc. Đó là những đúc kết từ những trải nghiệm của cuộc sống thường hằng, nó tự nhiên như hơi thở, nó gần gũi như chính mỗi chúng ta đều là người trong cuộc. Nó vừa thực, vừa ảo, tùy vào góc nhìn và cự ly xa gần của mỗi người khi đối diện với thực thể và cho đi một tầng suất cảm xúc như thế nào “Tôi chờ từng giọt cà phê/ nhỏ xuống lòng chiếc ly sứ/ trong tiếng nhạc của trăm năm trước/ trong nỗi đau của ngàn năm trước/ đặc sánh như giọt đắng tôi uống/ mỗi ngày/ Mỗi ngày/ trong tầm nhìn của tôi/ dường như tất cả vẹn nguyên/ mỗi sáng của những ngày đã qua/ mất còn của năm tháng đã lùi xa/ tất cả vẫn vẹn nguyên…” (Ở cự ly gần)

Có một điều tôi dường như đã bắt gặp chính mình trong thơ của Trịnh Bích Ngân, đó là nỗi cô đơn khi đối diện với đêm. Bóng tối soi rọi ý thức, níu gần khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại, những suy tưởng miên man khi đắm chìm trong khoảng tối của đêm thật dịu dàng như một dòng sông êm đềm tĩnh lặng cứ mãi miết trôi đi, âm thầm và lặng lẽ: “Đêm/ dòng sông quá đỗi dịu dàng…”, nhưng, cũng có lúc “Đêm dềnh dàng như bóng ma thiên cổ”, chiếm ngự và ghì siết cả cõi tâm linh của tầng ý thức, Một “Đêm Cửu Long” khác với một “Đêm Thủ Đức” càng không giống với một “Đêm Sài Gòn”.

“Nghiêng về phía nỗi đau” Trịnh Bích Ngân đã đến gần hơn với nỗi đau của tha nhân, trái tim người thơ run lên theo từng cung bậc cảm xúc “Biết người khác đau/ và mình cũng cảm thấy đau/ bên kia bến, bên này bờ/ những nhịp cầu chênh vênh/ trên dòng sông/ chảy xiết…” (Khoảng cách đôi bờ). Hình ảnh nhịp cầu chênh vênh, dòng sông, con nước chảy xiết… cho người đọc một liên tưởng đến nỗi đau của sự chia cắt, của phận người nhỏ bé mong manh trước những bạo liệt của cuộc sống. Ở đó có cả “Nỗi đau của lẽ tử sinh”. Trịnh Bích Ngân đã quán chiếu bằng những ý niệm sâu sắc để làm nhẹ bớt, hoặc giả để xoa dịu bớt những nỗi đau, có thể làm người ta gục ngã “Sự sống không khởi đầu/ cũng không kết thúc/ chỉ là một hành trình/ mỗi bước chân cũng là đến đích/ những bước chân trên lối đi chưa ai đi…/ Cái chết không kết thúc/ cũng không khởi đầu…” (Ánh sáng của sự lịm tắt).  

Xuyên suốt cả tập thơ, Trịnh Bích Ngân chỉ sử dụng một lối thơ duy nhất. Không hề có bóng dáng niêm luật vần điệu của các thể thơ truyền thống. Tác giả chọn thể thơ tự do và sáng tạo với lối ngắt câu không theo “nghĩa” mà theo “cảm” để làm rõ hơn, mạnh hơn thông điệp muốn truyền đạt. ví dụ “Những nỗi đau/ cuồn cuộn/ khói đen/ Tôi ngồi đây/ Hít thở ban mai/ Mà thấy mình/ Có tội” (Lối thoát nào cho nỗi đau). Một lối viết không cho phép người đọc dừng lại nửa chừng, cứ cuốn miết, cuốn miết, nó thôi thúc người đọc cứ phải rảo bước, đi cho hết con đường khi chưa tìm ra được thứ ánh sáng của ý niệm, và cứ như thế, thơ Trịnh Bích Ngân như một dòng chảy khi nhẹ nhàng, khi thúc bách, khi cuồn cuộn chảy siết, khi thư thả thong dong và cuối cùng ánh sáng chân lý bừng lên cho người đọc một cảm giác thỏa mãn sự tò mò và tìm kiếm, và luôn để lại một nỗi băn khoăn, một niềm trăn trở hay một sự cảm thông, ray rứt nơi người đọc, và tôi nghĩ Trịnh Bích Ngân đã thành công. 

Là nhà văn nên Trịnh Bích Ngân biết cách chọn lựa, sử dụng ngôn ngữ sao cho đơn giản, dễ hiểu nhất, nhưng phải truyền tải được những triết luận sâu sắc. Chính những điều đó đã tạo nên những giá trị cho tập thơ “Nghiêng về phía nỗi đau”.

Là Ủy viên Thường vụ Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, nhà văn Trịnh Bích Ngân đã rất thành công qua nhiều tác phẩm về truyện ngắn, Ttiểu thuyết, kịch bản sân khấu, truyện hài hước… đặc biệt tiểu thuyết “Thế giới xô lệch” đã được tái bản đến sáu lần, và tôi nghĩ hiện tại, cũng như ở một tương lai rất gần ngoài chức danh nhà văn, chúng ta sẽ có thêm một nhà thơ Trịnh Bích Ngân với nhiều tác phẩm thơ được người đọc yêu thích.

 

THƠ BÍCH NGÂN

Trích từ tập thơ “Nghiêng về phía nỗi đau”

 

Nghiêng về phía nỗi đau

 

Vũ trụ bao la

chỉ có trái đất cưu mang sự sống

chỉ có trái đất trĩu nặng

hạnh phúc và nỗi đau.

 

Hạnh phúc

một thoáng nhẹ tênh

vùn vụt thời gian

ngắn ngủi

đời người.

 

Nỗi đau

luồn sâu huyết quản

đôi khi chẳng khác dòng nham thạch

phun trào

 

Nước mắt

không thể cân đo đong đếm

trái đất bồng bềnh

nghiêng về phía nỗi đau

 

Trái đất cưu mang

trái đất khước từ

trái đất kéo căng

trái đất xô lệch

và mong manh

như quả trứng

trong sấp ngửa bàn tay

 

Anh và em

có kịp yêu thương

có kịp tha thứ

có kịp nắm tay nhau

cho đến khi

tóc không còn bạc hơn được nữa.

 

 

Ở cự ly gần

 

Tôi chờ từng giọt cà phê

Nhỏ xuống lòng chiếc ly sứ

Trong tiếng nhạc của trăm năm trước

Trong nỗi đau của ngàn năm trước

Đặc sánh như giọt đắng tôi uống mỗi ngày

 

Mỗi ngày trong tầm nhìn của tôi

Dường như tất cả vẹn nguyên

Mỗi sáng của những ngày đã qua

Mất còn của năm tháng đã lùi xa

Tất cả vẫn vẹn nguyên

 

Tượng Phật bạn tôi thỉnh từ một ngôi chùa

Nằm bên bờ sông Hằng văng vẳng tiếng kinh cầu

Vẫn trước mặt tôi

Mỗi sáng nhìn dáng tọa thiền

Thấy lòng chùng xuống, chùng xuống

Tận đáy sâu

 

Tượng nữ thần tự do nhỏ bé

Bạn tôi mang về từ đảo Liberty

Nơi nữ thần mãi giơ cao ngọn đuốc

Dù trăm năm qua hay ngàn năm tới

Vẫn đứng chôn chân một chỗ

Trước bão tố bủa vây

 

Ở cự ly gần

Tôi ngắm dáng lưng Đức Phật

Hơi ngã về sau

Nơi chúng sinh khát giọt cam lồ

 

Ở cự ly gần

Tôi nhận ra bàn tay nữ thần thiếu ngón

Ngọn lửa như ngọn giáo

Những phiên bản tự do có mặt khắp nơi

Những phiên bản khác xa bản gốc

Dù cánh tay vẫn vươn về

Phía trời xanh

 

Phía trời xanh

Mây đang trôi

Thời gian đang trôi

Phật tọa thiền

Phiên bản nữ thần tự do giơ cao ngọn giáo

Tách cà phê không còn bốc khói

Ngụm cà phê nguội và đắng

Thấm dần

Trong một ban mai.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm