TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • 5 sắc thái của một giọng thơ lạ trong “Ru say muợn tỉnh – Ru tình mượn nhau”

5 sắc thái của một giọng thơ lạ trong “Ru say muợn tỉnh – Ru tình mượn nhau”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-26 06:17:24
mail facebook google pos stwis
1254 lượt xem

Ru say mượn tỉnh – Ru tình mượn nhau" của Diễm Thuyên – ví như "năm tầng mùi trong một loại rượu thơ rất riêng". Từ cái "tưng tửng" đầy nội tâm đến sự "đàn bà" nhưng không ủy mị, từ trạng thái "tỉnh mà vẫn say" đến chất "lạ mà không lập dị", và cuối cùng là thơ như "nơi tha thứ cuối cùng" – bài viết của Lương Cẩm Quyên sẽ đưa bạn đọc khám phá một hồn thơ đầy bản lĩnh, dám giễu đời, thương đời và đủ tỉnh táo để tha thứ cuộc đời bằng thơ. Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin giới thiệu bài viết này, mời quý độc giả cùng đọc và đồng cảm!


Các nhà thơ Lương Cẩm Quyên (trái) và Đoàn Thị Diễm Thuyên


LƯƠNG CẨM QUYÊN
(Viết về tập thơ “Ru say muợn tỉnh – Ru tình mượn nhau” của Đoàn Thị Diễm Thuyên)

Trong rất nhiều giọng thơ nữ đương đại, Diễm Thuyên là một trường hợp “khó xếp loại”. Không dịu dàng kiểu lục bát mướt mát, cũng chẳng trào phúng theo kiểu “thơ tếu” xu thời. Chị đi một lối riêng – một kiểu đàn bà biết đau, biết giễu, biết yêu, nhưng nhất định không làm khổ thơ vì nước mắt.

Thơ Diễm Thuyên ngắn, dứt gọn – nhưng thường để lại một vết khía thầm. Một nụ cười bật ra ở khổ đầu, chưa dứt đã thấy cay xè ở cuối bài. Một ngón tay khều nhẹ ở câu một, nhưng đến câu ba thì đã nhói tim rồi.

Dưới đây là 5 sắc thái đặc trưng, như năm tầng mùi trong một loại rượu thơ rất riêng – Ru say muợn tình:

1. Tưng tửng – nhưng không hề nhảm

Cái “tửng” của Diễm Thuyên không phải để mua vui. Nó là cách tự vệ, là áo khoác cho những mảnh run run phía trong thân thể.

Ru anh hoa sứ đưa hương

Còn em – “quỷ sứ” ẩm ương lắm trò

Anh ngủ đi, mình hẹn hò

Em leo vào mộng, em bò vào mơ

(Ru anh 9)

Nghe thì tưởng đùa. Nhưng đằng sau dáng bò, dáng mơ ấy là cả một nội tâm xáo động. Cái “quỷ sứ” của chị – vừa nghịch, vừa thương.

2. Đàn bà – nhưng không ủy mị

Thơ chị đàn bà đến tận chân tóc, nhưng chưa từng van vỉ một tình yêu nào. Đàn bà trong thơ Diễm Thuyên biết mình cô đơn, và biết mình vẫn đáng yêu trong chính cô đơn ấy.

Đàn bà xuân chẳng còn son

Đàn ông hạ úa sao còn chê nhau?

(Ru anh 5)

Một câu lục bát dằn lòng – nhưng không bi lụy. Là giọng nói thẳng, không hờn dỗi, không nhún nhường. Là tiếng đàn bà dám đối thoại sòng phẳng với tình yêu – kể cả khi nó trễ.

3. Tỉnh – mà vẫn say

Tập thơ tên “Ru say muợn tỉnh – Ru tình mượn nhau”, nhưng người viết không hề mụ mị. Trái lại, càng say – lại càng tỉnh. Tỉnh để nhận ra những giới hạn, những ngã ba của đời sống tình cảm.

Ru anh lời của trăng rằm

Của đêm ta lạc chỗ nằm gần nhau

Chỉ là thoang thoảng hương cau

Mộng xưa vườn cũ bạc đầu còn vương

(Ru anh 6)

Cái say của Diễm Thuyên là một cách đắm mình để soi lại bản thể. Là khi đàn bà dám bước qua những dở dang, với đôi mắt vẫn mở.

4. Lạ – mà không lập dị

Sự “lạ” trong thơ Diễm Thuyên không đến từ hình thức, không đến từ những chơi chữ cực đoan. Nó đến từ cách cảm. Một kiểu cảm rất riêng, vừa bản năng, vừa tinh tế – và tuyệt nhiên không vô nghĩa.

Ru anh gió chướng luồn đêm

Đôi ta ngược mộng, buồn chêm giấc gầy

...

Ru anh xuân mộng rập rình

Mộng xuôi, ta ngược bóng mình vào yêu…

(Ru anh 32)

Những liên tưởng như “bóng mình vào yêu” không chỉ là một hình ảnh – mà là một trạng thái. Trạng thái yêu không cần logic, chỉ cần rung động.

5. Thơ – là nơi tha thứ cuối cùng

Diễm Thuyên không oán trách đời. Không buộc tội ai trong thơ. Chị chỉ viết – như một cách tha thứ. Tha thứ cho mình. Tha thứ cho người. Tha thứ cho những vụn vỡ không hình hài.

Ru anh trả bóng cho hình

Trả cũ cho mới trả mình cho ta

Ru anh tiễn ánh trăng tà

Tiễn đêm cạn giấc. Ngày ra cạn lời…

(Ru anh 14)

Lời ru – như lời tiễn biệt. Không níu kéo, không đay nghiến. Mềm. Nhẹ. Nhưng vẫn chạm được vào những nơi sâu kín nhất trong lòng người đọc.

Thơ Diễm Thuyên giống như một ly rượu ủ lâu – mở ra nghe thơm, uống rồi mới tê. Tê vì những điều tưởng là đã quên. Tê vì một nụ cười dịu dàng – mà khiến ta tái buốt vì lạnh.

“Ru say muợn tỉnh – Ru tình mượn nhau” không phải là một tập thơ để đọc cho vui, mà là để đọc khi buồn. Đọc để thấy: có một người đàn bà từng đau giống mình – mà vẫn viết ra được những câu thơ mỏng nhẹ như khói, nhưng lắng lại rất lâu sau đó.

Và điều đáng quý nhất là: chị không cố làm thơ để được khen là lạ. Thơ Diễm Thuyên lạ – vì chị là một người đàn bà lạ. Lạ ở chỗ: đủ thông minh để giễu đời, đủ sâu để thương đời, và đủ tỉnh táo để tha thứ nó bằng thơ.

Yêu thương và chúc em với những đứa con tinh thần tương lai ngày càng độc lạ sâu sắc lên một tầm cao hơn nữa nhé.

L.C.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm