TIN TỨC

“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-04-08 18:59:58
mail facebook google pos stwis
67 lượt xem

Sự ra đi đột ngột của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu khiến nhiều bạn đọc bàng hoàng, như vừa khép lại một giọng thơ đi qua chiến tranh mà vẫn giữ được độ ấm của tình người. Từ những năm tháng trận mạc đến đời sống hậu chiến, thơ ông luôn bền bỉ “gieo hạt” vào lòng người đọc. Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ ấy – giản dị mà sâu, lặng mà bền.
 

ĐẶNG BÁ TIẾN
(Nhân đọc “Nguyễn Đức Mậu tuyển tập thơ”
& “Nguyễn Đức Mậu tuyển tập trường ca” NXB.Hội Nhà văn, 12/2023)

Những năm 1969,1970, tôi đã được đọc thơ của Nguyễn Đức Mậu trong mục “Thơ Bộ đội” của báo Nhân Dân, nhờ ông chú làm bưu tá xã. Trước khi đưa báo phát cho các tổ chức, đoàn thể trong xã, ông thường cho tôi tranh thủ đọc trước. Ngay từ ngày ấy, tôi đã yêu mến thơ Nguyễn Đức Mậu, bởi hình ảnh chiến trường với cuộc sống gian khổ, hiểm nguy nhưng đầy lòng quả cảm của những người lính khi đối mặt với kẻ thù, được anh thể hiện bằng những câu thơ giản dị, nhưng đầy cảm xúc, khiến người đọc xúc động: “Người binh nhất ngồi trong hố cá nhân/ Mồm nhai lương khô/ Mắt dần khép lại/ Anh vừa ăn vừa ngủ”; hay “Người nằm nghiêng súng cũng nằm nghiêng/ Người ngủ ngồi súng ôm ghì trước ngực”.

Đến năm 1971, được đọc bài thơ “Nấm mộ và cây trầm” của anh in trên Tạp chí Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam, thì lòng cảm mến trong tôi đối với thơ Nguyễn Đức Mậu đã chuyển thành cảm phục, cảm phục trước một tầm vóc thơ, cao về nồng độ cảm xúc, sâu về nghệ thuật và tư tưởng. Bài thơ viết về một lần anh cùng đồng đội khiêng xác một người bạn (hy sinh trong trận đánh ở chiến trường Lào) đi mai táng. Nỗi bi thương lớn đã cho anh một cảm xúc lớn và một tứ thơ độc đáo, nhờ đó mà “Nấm mộ và cây trầm” sống mãi với thời gian: “Đất đắp mộ Hùng bom trộn lẫn/ Cây trầm cháy dở thay nén nhang/ Cây trầm cháy rồi hương cứ thơm/... /Đất Hùng nằm bom đạn đào trơ/ Ngày hoa nở đêm ngời sao tỏ/ Tấm biển gỗ trên mộ người chiến sĩ/ Thành bàn tay chỉ hướng quân thù”. Chính từ bài thơ này và chùm thơ đoạt giải nhất báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) năm 1972 - 1973, anh được giới phê bình văn học bắt đầu chú ý. Từ đó, thơ anh càng có tầm lan tỏa lớn và trở thành một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ thời kỳ chống Mỹ cứu nước (cùng với Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hoàng Nhuận Cầm, Vương Trọng, Phạm Ngọc Cảnh...).

Sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (1975) Nguyễn Đức Mậu tiếp tục cho ra đời một loạt tập thơ, trường ca, như Áo trận (1976), Mưa trong rừng cháy (1976), Trường ca Sư đoàn (1980), Bão và sau bão (1994), Cánh rừng nhiều đom đóm bay (1998), Mở bàn tay gặp núi (2008), Thơ trong lòng cuộc chiến (2010)... Lấy hiện thực chiến trường và cuộc sống xã hội làm bối cảnh, nhen nhóm và bùng nổ cảm xúc từ những gì bản thân đã trải nghiệm qua nhiều chiến trường khốc liệt, qua nhiều cảnh ngộ của xã hội mà anh đã suy nghĩ sâu sắc và sống hết mình với nó; với lối viết đặc tả cảnh huống thật, hình ảnh thơ sắc nét, Nguyễn Đức Mậu đã cho ra đời “hàng ngàn câu thơ trận mạc” (ý kiến của nhà thơ Nguyễn Hữu Quý) và hàng trăm bài thơ thế sự, trữ tình khiến người đọc xúc động đến nhói lòng, hoặc xót xa đến khó ngủ. Đó cũng là phong cách thơ bền bỉ của Nguyễn Đức Mậu. Một phong cách thơ được tôi luyện bởi rất nhiều mồ hôi, nước mắt, máu xương trên những dặm dài chiến trận và được vun đắp nuôi dưỡng qua rất nhiều buồn vui ấm lạnh của cuộc đời.

Anh viết về người chiến sĩ chết khát trong cánh rừng mùa khô: “Chiếc bi đông nằm im lìm mặt đá/ Nằm im lìm bên dòng suối cạn khô/ Tôi tìm thấy tên người chết khát/ Con chữ thân yêu vết khắc chưa mờ”. Anh viết về tình cảnh chiến sĩ bị đói trong rừng già: “Tổ ba người chung một căn hầm/ Chung cái đói trũng sâu quầng mắt/ Đêm giá lạnh núi gầy, trăng nhạt/ Cái dạ dày không để chúng tôi yên”. Anh viết về sự khốc liệt, tình huống éo le của những trận chiến: “Bầy chuột đêm tìm ăn/ Vô tư theo kiểu chuột/ Tiếng rúc rích lại gần/ Vỏ ống bơ, đồ hộp/ Chúng gặm cả mũi giày/ Năm mươi ngày ngập nước/ Chúng gặm vai áo rách/ Năm mươi ngày dầm mưa/ Chúng gặm lên thịt da/ Có vết thương mưng mủ/ Người lính nằm đợi thù/...bên xác người đã khuất/... Họ lật xác thù/ Tìm nước uống, lương khô”. Những câu thơ tự sự, tả thực, giản dị nhưng nó dựng lên hiển hiện trước mắt người đọc một cảnh tượng khốc liệt, gian khổ đến tột cùng của bộ đội ta. Đọc những dòng thơ này con cháu chúng ta sẽ không bao giờ quên được sự hy sinh gian khổ của cha ông trong kháng chiến chống quân xâm lược, giành độc lập, tự do cho đất nước, nhân dân.

Sau giải phóng miền Nam, đất nước thống nhất, nhưng xã hội còn bao điều ngổn ngang, bức bối. Thực tế đó dội vào lòng Nguyễn Đức Mậu, khiến có lúc câu thơ của ông buộc ta phải suy ngẫm, băn khoăn: “Xa quê biền biệt tháng ngày/ Ngủ rừng, ngủ phố, đêm nay ngủ nhà/ Mọt kêu rờn rợn thịt da/ Tiếng vô tri cũng khiến ta chạnh lòng”. Hay anh mượn tâm sự của một vị tướng về hưu để nói hộ lòng mình và bao người lính khi trở về đời thường: “Huân chương xếp vào góc tủ/ Nay hàm tướng tá làm chi/ Tuổi già công danh xem nhẹ/Cuộc đời như nước trôi đi”. Nhưng vút lên bay bổng trong anh vẫn là giọng thơ chủ đạo tràn đầy niềm tin về về sự phát triển của đất nước, về một xã hội tốt đẹp, thanh bình. Đọc bài thơ Đàn bò vàng trên đồng cỏ hoàng hôn: “Tiếng mõ rơi, tiếng mõ rơi đều/ cả đồng cỏ lút vào khoảng tối/ như vẫn còn rung nhịp mõ kêu/ Có một kẻ đi sau người chăn bò mê mải/ túi áo gói đầy hương cỏ thơm/ trái tim đựng đầy tiếng sáo và tiếng mõ/ Đôi mắt đong đầy giàn giụa suối trăng non”, ta không chỉ thấy được bức tranh đẹp, thanh bình của một vùng quê mà còn thấy được một tâm hồn khoáng đạt, tươi đẹp, trong trẻo của anh - một người thơ bền bỉ, giàu cảm xúc, đẫm văn hóa Việt, hồn Việt, rất gần gũi với người đọc.

Cho đến cuối năm 2023, anh đã cho xuất bản 16 tập thơ và trường ca, 5 tập văn xuôi (bao gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, phê bình tiểu luận). Hai cuốn tuyển tập lần này có độ dày gần 500 trang mỗi cuốn, đủ nói lên gia tài văn chương giàu có của anh.

Bằng tài năng và sự đóng góp to lớn cho thơ ca nước nhà, anh đã nhận được nhiều giải thưởng văn chương danh giá trong nước và ngoài nước: Giải nhất Báo Văn Nghệ (1972-1973), ba giải thưởng của Hội Nhà văn (1993,1996, 1999), ba giải thưởng của Bộ Quốc phòng (1989, 1994, 2004), giải A của Liên hiệp VHNT Việt Nam (2004), giải thưởng ASEAN (2001), giải thưởng Nhà nước về VHNT (2001)...

Dù nay đã U80, nhưng nhà thơ vẫn sống nhiệt huyết và tiếp tục “gieo những con chữ” mang niềm vui đến cho người đời như một bài thơ ông viết: “Những con chữ mẩy vàng hạt giống/ Gieo tơ non trên trang giấy cánh đồng/.../ Những con chữ như bầy ong xao động/ Chúng bay đi tìm đến trái tim người”.

Nguồn: FB Đặng Bá Tiến.



Bài viết liên quan

Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm