TIN TỨC

Chạm thu - chạm ngưỡng cửa thu về

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-09-07 20:23:12
mail facebook google pos stwis
1688 lượt xem

Chạm thu – tập thơ mới của bác sĩ, nhà thơ Mai Hữu Phước mang đến những chiêm nghiệm lắng sâu về đời người và tình thơ. Bài viết của Lê Bá Duy gợi mở một hành trình thi ca giàu cảm xúc, chân thành và đầy dư âm.

LÊ BÁ DUY

(Đọc “Chạm thu” - tập thơ của Mai Hữu Phước, Nxb Hội Nhà văn - 2024)

Nếu so sánh cuộc đời mỗi người như bốn mùa trong năm thì mùa thu là mùa hội đủ nắng mưa chiêm nghiệm lẽ đời. Và như thế là thức ngộ được kiếp nhân sinh trong cõi vô thường. Con người trong một kiếp vô thường nhanh như một sát na trong một vũ trụ mênh mông vô bờ bến. Vì lẽ đó, Mai Hữu Phước muốn lấy nhan đề “Chạm thu” để gửi một thông điệp triết lý về những trải nghiệm trong kiếp nhân sinh đáng sống này?! Tập thơ hơn 170 trang chia làm 4 chủ đề: Từ “Sắc màu cuộc sống”, đến “Thương nhớ ngày xưa” rồi “Đó đây xuôi ngược” và cuối cùng là “Hoài niệm xanh tươi” Mai Hữu Phước đã lưu lại trong hành trình thơ mình những suy ngẫm, những cảm xúc để neo đậu trong tâm hồn người đọc sự đồng điệu sẻ chia quý mến và trân trọng.

25 bài thơ trong phần 1: Sắc màu cuộc sống là những chọn lọc từ những “đứa con tinh thần” của anh ấn tượng. Trước hết là “Cảm tác bên tờ lịch”: “Lấy 100 năm làm mốc/ Một đời 3 vạn 6 ngàn ngày/ Mỗi ngày là một phần đời/ Thì mỗi sáng đặt tay lên lịch/ Một phần đời bị bóc đi./ Nếu 24h sống không hữu ích/ Thêm mấy phần đời/ Lặng lẽ/ Chia ly!”. Bài thơ thể hiện rất rõ quan điểm sống là “chiến đấu” thật ý nghĩa, hữu ích cho cuộc đời này. Cuộc đời của một “Lương y như từ mẫu”; cuộc đời của một văn nghệ sĩ với đúng nghĩa nhà văn. Cuộc sống đủ sắc màu phong phú đầy thi vị. Ví như khi “Gặp bạn” nhà thơ đã chỉ ra quy luật cuộc sống con người, nhất là “số mệnh”. Nhưng làm quan thì phải là quan tốt, còn không thì làm “cu li” để “ung dung tự tại” một đời sướng hơn. Cái cách viết về người mẹ có con đi lính nằm lại giữa mênh mông biển cả rất xúc động: “Mẹ từng khóc/ vì Hoàng Sa chìm trong máu lửa 30 tháng tư/ Anh em một nhà tranh nhau lợi quyền/ Thống nhất ư?/ Giặc vẫn còn giày xéo đất cha ông/ Mẹ ngồi khóc/ Suốt đời mẹ khóc...” (Mẹ khóc). Tiếng khóc của mẹ vọng vào trái tim bao người con đất Việt, bật lên những âm thanh đồng điệu sẻ chia…

Đó là sắc màu tinh khôi ban mai ấm áp nhưng đau một cuộc tình: “Dấu chân vùi xuống âm thầm/ Ngàn con sóng nhỏ xóa dần vết đau...” (Ban mai); Đó là một nỗi buồn khôn tả về “Biển chết” sau sự cố Formosa-2016: “Một ngày biển chết/ Sóng đau thắt gào/ Cá tôm hấp hối/ Phận người lao đao”… Đó là “Một cơn đau tim của thành phố đáng sống”: “…Thịt da rừng bị băm vằm/ Ngổn ngang cây đổ/ Tan hoang và nham nhở/ Màu đất đỏ như màu máu…” “…Và môi trường đang dần tự hủy/ Thành phố đáng sống này/ Đang một cơn đau tim...”; Đó còn là nỗi buồn khi : “Làng năm ấy xác xơ mùa biển động/ Đêm âm u ngơ ngác những thân tàu/ Bờ bãi vắng giấu che điều uất nghẹn/ Biết bao giờ tàn vết những thương đau”. Hoặc là những “tâm sự khi về hưu” buồn vui tự do lên rừng xuống biển, xướng họa thi ca, lướt web chơi phây…: “Về hưu tuy chẳng còn sung sức. Nhưng đủ yêu em đến hết đời. Thiết tha tựa thể thời son trẻ. Hưu là sống trọn một đời vui…”…. Đó đều là những sắc màu thi vị đáng nhớ trong thơ anh.

Từ “Sắc màu cuộc sống” tác giả trải nghiệm đến khi “Chạm thu” thì những thương nhớ ngày xưa lại về. Về trong tâm tưởng, về như những thước phim mới như ngày nào qua ngôn ngữ thi ca của nhà thơ giàu cảm xúc. Đó là tình bạn hồn nhiên của tuổi học trò; Đó là nỗi buồn “với nhỏ khi ta biết”; Và đó cũng là nỗi nhớ rưng rức khi nhỏ đã xa ta… “Nhớ nhỏ, chiều nay nắng bớt vui/ Mây kia rưng rức cuối chân đồi/ Lòng ta cứ gọi thầm tên nhỏ/ Nhỏ hiểu lòng ta nhé nhỏ ơi!”…

Với bè bạn ngày xưa: “Đời không có bạn/ Như không mặt trời/ Một ngày thiếu bạn/ Chẳng còn gì vui…” trở thành nỗi nhớ khôn nguôi trong lòng nhà thơ: “Tình bạn mãi mãi/ Hồn nhiên học trò/ Mai này khôn lớn/ Nhớ hoài ngây thơ…”. 

Tôi thích “Trò chuyện với chiều” của nhà thơ. Thích nhất là : “Anh xin chiều cho anh vạt nắng/ Gói giấc mơ từ tiền kiếp quay về/ Gói cả tình anh cho em bối rối/ Gói ánh nhìn thao thức với sao khuya”.  Cái anh xin là “ảo” nhưng là ảo diệu bởi hình ảnh đẹp trong thơ anh gợi lên một tình yêu lung linh trong cuộc đời thực. Hoặc “Một hôm bước lạc bên trời mộng/ Ngơ ngác vàng thu đến vỡ òa/ Chao ôi, bến cũ con đò nhỏ/ Nhớ một người xa, đã rất xa…”. Hóa ra phút “chạm thu” là phút giây hạnh phúc vỡ òa thương nhớ trong anh dẫu cho đó chỉ là hiện về trong tâm tưởng…

Thơ Mai Hữu Phước không cầu kỳ làm dáng hay cố tỏ ra bắt chước khó hiểu. Anh làm thơ như dòng chảy tự nhiên vốn có. Thơ đi từ trái tim anh đến với cuộc đời và chạm vào bao trái tim yêu thơ. Do vậy thơ anh đã chiếm được tình cảm khá nhiều bạn đọc. Chẳng hạn “thì ta nghe hết”, nghe em cằn nhằn: khi ta uống rượu; khi ta lắm bạn…Ta nghe hết nhưng chỉ một điều anh mong em đừng biến anh thành kẻ ngu ngơ:

Em nói ta thế nào ta nghe hết

Hai tai ta còn tốt đến không ngờ

Nhưng đừng bảo ta làm theo ý khác

Kẻo biến ta thành một kẻ ngu ngơ.

Trái tim đa sầu đa cảm của thi nhân trải dài trên chặng đường hành trình trong cuộc đời. Mỗi nơi đi qua đều để lại dấu ấn khó phai mờ trong ký ức nhà thơ. Từ hình ảnh Huế thân thương gắn bó với nhà thơ những năm tháng sinh viên hôn nhiên mơ mộng học thành bác sĩ, đến hình ảnh mẹ cha hiện về trong ký ức thân thương:

Bỗng nhớ mẹ xưa thời lam lũ

Xuân về vai gánh nặng nề hơn

Một bầy con trẻ reo mừng Tết

Mẹ giấu vào đêm những giọt buồn.

 

Lại nhớ cha xưa thời lỡ vận

Nhọc nhằn ngày tháng hững hờ trôi

Bao nhiêu nghịch cảnh không vùi lấp

Vẫn một niềm tin hướng cuộc đời.

(Vay nụ cười xuân)

Hình ảnh quê nhà luôn khắc sâu trong tâm tưởng nhà thơ cho dù anh có đi đâu về đâu, cho dù mưa gió nhạt nhòa, thì quê hương vẫn thi thoảng nhoi nhói con tim: “Giếng cũ cạn nguồn đời cạn lối/ Nẻo về cứ hẹp giữa phong sương./ Lặng trong tâm tưởng ngày xa cũ/ Mưa gió nhạt nhòa bến cố hương…”.

Thời gian trôi thật nhanh. Cậu bé Phước ngày xưa giờ đã là bác sĩ, nhà văn đến lúc về hưu. 60 mùa xuân cuộc đời đi qua nhanh chóng. Tự vịnh về mình vừa vui vừa buồn vừa khái quát được nghề nhưng cũng vừa bộc lộ sự gắn bó với nghiệp: Thầy thuốc và thi nhân trong một con người, đi vào lòng bạn bè hoàn hảo trọn vẹn nghĩa tình:

“Chú nhóc năm nào đã sáu mươi

Ái chà Tạo hóa quá trêu ngươi!

Nghề Y tận tụy vì sinh mệnh,

Văn nghiệp đa đoan với cuộc người,

Danh phận khác gì mây gió thoảng.

Nhân tình tựa thể bọt bèo trôi.

Đời kia mấy chốc mà lo nghĩ,

Gặp bạn thì vui đến đã đời!

(Năm 60 tự vịnh)

Phần 3 là những bài thơ thuộc chủ đề “Đó đây xuôi ngược”. Nhà thơ ghi nhận cảm xúc qua trải nghiệm đó đây mà anh đã đi qua, chiêm nghiệm. Như “Về Hòa Bắc”, “Một thoáng Trà Nhiêu” để cảm nhận được “Bánh bèo đêm lạnh còn hơi ấm/ Hương vị quê làng cứ thoảng quanh”; “Đi giữa hương chè B’Lao” mới cảm nhận được “Nhấp chén trà thơm/ Thơm từ tay người rót/ Trăng sáng bên đồi/ Sáng soi trong lòng người..” Đến Hải Phòng nhà thơ tâm sự với đêm “Đêm đã lên đèn giấu mắt tôi/ Chén cay buồn cũ buốt bờ môi/ Bên chân phượng ngủ mùa xa ngái/ Bụi phố hoang đàn vương gió ơi!); Có khi anh bộc lộ cảm xúc khi đặt chân đến đất Mỹ, cảm nhận được cái lạnh xứ người: “Cũng có thể chụp hình viên cảnh sát/ Chỉ có điều không thể đứng chung/ Washington ngày âm 9 độ/ Tuyết như hoa bay ngập ngừng...” (Nhà trắng)

Có khi anh ngủ giữa đại dương: “Đêm ngủ giữa đại dương đầy gió/ Sóng nói gì, sóng vỗ triền miên/ Khuya vắng lặng đất trời tĩnh mịch/ Tàu nghiêng bên nào cũng nhớ em…” Và cảm nhận được “Mặt trời xuống chậm trên muôn sóng/ Gió vẫn ngàn năm chẳng nghỉ chân”.  Như vậy là anh đã xuôi ngược đó đây rất nhiều, kể cả trong và ngoài nước, trải nghiệm nhiều nơi nên thơ anh cơi nới biên độ và lòng anh rộng dài mênh mông như đất trời ban tặng…

Sau những cuộc đi dài ngắn trong cuộc đời, về lại nơi mình sinh sống, anh chiêm nghiệm lại những gì trải qua. Và tất cả đều trở thành hoài niệm xanh tươi trong lòng nhà thơ: “Có những khi lòng ta lại nhớ/ Một điều chi mà chẳng thành lời/ Có những khi lòng yêu biết mấy/ Rộn ràng như gió lộng xa khơi…” (Như là nỗi nhớ). Hoặc: “Cái thuở mắc bùa em sắc tím/ Nghe hồn giấy mực tím yêu thương/ Ngày đi qua nhẹ như là khói/ Nhuộm tím môi thơm đến lạ thường…” (Bùa em sắc tím)…. Và chúc mừng anh đã chạm vào thu “Chạm thu hồn ngơ ngẩn/ Bóng thu luồn qua song/ Những gì em níu giữ/ Mắt thu buồn trông mong”.  Mùa thu của cuộc đời. Hy vọng mùa thu dài hơn hai mùa mà anh đã đi qua, chậm đến mùa đông băng giá. Chỉ có chiếc cầu thi ca nối dài mùa thu đời thi nhân như mơ ước mà tuổi trẻ chưa thực hiện được.

Là một nhà giáo yêu văn chương, khoảng 15 năm trước tôi đã có dịp “làm quen” với bác sĩ Mai Hữu Phước ở chuyên mục “Thầy thuốc của bạn” trên tạp chí Tài Hoa Trẻ (đặc san của Báo Giáo dục & Thời đại). Sau đó tôi biết anh còn là một nhà thơ. Năm 1978, khi là học sinh cấp II anh từng nhận giải thưởng về thơ của Báo Thiếu Niên Tiền Phong…

Thơ Mai Hữu Phước giàu cảm xúc, cô đọng. Ngôn ngữ chắt lọc. Cảm xúc của nhà thơ rất thật từ trái tim rung động mãnh liệt, nên thơ anh viết tự nhiên, thu hút người đọc. Tập thơ của anh có nhiều bài thơ hay. Tôi chỉ lẩy ra một số câu thơ trong tập mà tôi thích. Bạn đọc có thể cảm theo ý riêng mình. Nhưng với tôi, đây là một tập thơ khá hay, đáng đọc và chia sẻ. Xin mượn bài thơ “Chút tình” của anh để khép lại bài viết về thơ anh:

Lợi danh rồi cũng phù vân cả

Chỉ có hương đời cứ mãi xanh

Mai sau tất cả phai mờ hết

Còn nhớ nhau chăng một chút tình…

L.B.D

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm