TIN TỨC

Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-17 08:32:43
mail facebook google pos stwis
1577 lượt xem

Trần Hà Yên

“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.

Nếu đọc chậm và nghĩ suy, người đọc sẽ thấy đằng sau mỗi bài thơ là một tâm hồn vừa nhạy cảm, vừa kiên định, một thi sĩ luôn tìm kiếm bản thể của mình giữa muôn nẻo nhân sinh. Những bài thơ như “Mở cửa đi em”, “Sân khấu”, “Buông gió”, “Thằng Bờm” và “Lạc vào mùa đông”…là những mảnh gương soi rọi diện mạo tâm hồn ấy: Vừa trữ tình, vừa triết lý, vừa mong manh mà kiêu hãnh.

Bài thơ “Mở cửa đi em” (Trang 54), như một khúc gọi của ánh sáng và tự do. Bằng một giọng nói dịu dàng, thủ thỉ nhưng chất chứa trong đó là một triết lý sống sâu sắc, nhà thơ viết:

“Nếu hôm nay phiền muộn/ em hãy chạy ra cánh đồng/ lang thang bên những mảng xanh vừa nhú/ hát tình ca cùng gió/ gối đầu lên cỏ vu vơ.”

Nhịp thơ ở đây nhẹ, tự nhiên như hơi thở, nhưng chính sự giản dị ấy lại chứa đựng năng lượng chữa lành. Nhà thơ không khuyên “em” trốn chạy nỗi buồn, mà mời “em” trở về với thiên nhiên, với tự do, nơi có “gió hát tình ca”, nơi “mảng xanh vừa nhú” tượng trưng cho sức sống và niềm hy vọng. Ở đây, “em” không chỉ là một người cụ thể, mà có thể là phần trong sáng, mảnh hồn non nớt trong mỗi con người đã và đang bị cuộc đời xô dạt.

Đoạn thơ sau đó đã mở ra tầng sâu của khát vọng sáng tạo: “Và lần giở những trang thơ/ nơi hẹn hò tuyệt bích/ nơi những cánh buồm xa khơi về đích.”

Thơ được ví như gió: Vô hình - tự do - không biên giới. Những “trang thơ” lăn cùng gió không chỉ là sự giải thoát của ngôn ngữ mà còn là cách thi nhân tìm lại chính mình. Câu kết “Em bắt đầu ngày mới / là mở rộng trái tim yêu thương” như một lời thức tỉnh: Chỉ khi mở lòng ra với đời, con người mới chạm tới niềm hạnh phúc. Nhà thơ đã kết hợp tài tình giữa cảm xúc và chiêm nghiệm, khiến bài thơ không chỉ là lời nhắn gửi dịu dàng mà còn là một triết lý nhân sinh ẩn trong giọng thơ lãng mạn.

Nếu “Mở cửa đi em” là bài thơ của ánh sáng và tự do, thì bài “Sân khấu” (Trang 66) lại như một vở kịch của nhân sinh và định mệnh. Nhà thơ mở đầu bài thơ bằng hình ảnh huyền nhiệm:

“Chủ tế rắc rượu vào tro/ ngọn lửa xanh thoi thóp/ linh hồn lượm lặt ngũ cốc rơi vãi/ các vị thần trầm mặc phán truyền.”

Chỉ trong vài câu, Nguyên Bình đã dựng lên một không gian nghi lễ, nơi con người và thần linh cùng chứng kiến cuộc tái sinh của linh hồn. Hình ảnh “ngọn lửa xanh thoi thóp” là ẩn dụ tuyệt đẹp cho sự sống mong manh của kiếp người; còn“rượu vào tro” là biểu tượng cho sự hòa trộn giữa thiêng liêng và phàm tục. Ở đây, thơ không chỉ là lời, mà còn là nghi lễ, và mỗi câu thơ như một nén hương dâng lên số phận.

“Ta rót mật vào thơ/ trăng non quay mặt/ không ai nếm thứ ngôn từ mê hoặc/ mùa thu ra đi.”

“Rót mật vào thơ”: Một hình ảnh đắt giá, vừa ngọt ngào vừa cay đắng. Người làm thơ dốc cả tinh túy tâm hồn mình, nhưng “trăng non quay mặt”: Thế gian vẫn lạnh lùng, thờ ơ. Giữa hành trình ấy, thi sĩ cô đơn như người hành lễ trong đêm. Nhà thơ tự nhận lấy nỗi đau ấy, khắc nó vào “da thịt”, để rồi chiêm nghiệm:

“Bài luân vũ trần gian/ màn chưa kéo lên/ màn vừa hạ xuống/ ta xem gì với chiếc lá khô.”

Kết thúc bài thơ là một câu thơ mang tính triết lí: “ta xem gì với chiếc lá khô”. Câu thơ như một câu hỏi không chờ và không cần lời đáp. Câu thơ tưởng như đơn giản nhưng lại chạm vào tận cùng cảm giác trống rỗng của kiếp người. Sau bao nhiêu huyên náo, phù hoa, con người còn lại gì? Nguyên Bình đã biến “Sân khấu” thành một ẩn dụ cho toàn bộ kiếp nhân sinh: Nơi mọi vai diễn đều ngắn ngủi, và điều tồn tại lâu nhất chính là ý thức về sự hữu hạn của con người.

Nếu “Sân khấu” là vở kịch của thế giới bên ngoài, thì “Buông gió” (Trang 121) lại là vở độc thoại bên trong tâm hồn nhà thơ. Ta có thể xem đây là màn độc thoại của cô đơn và nỗi nhớ. Mở đầu bài thơ, nhà thơ khẽ hỏi: “Ai đem mùa mưa đến/ trời chở nắng đi đâu/ áo trắng phai tơ tóc/ tà khép dài đêm thâu.”

Chỉ với bốn câu thôi, thi sĩ đã dựng lên một không gian vừa mơ hồ vừa cụ thể. “Áo trắng”, “tơ tóc”, “tà khép” là những chi tiết nhỏ nhưng lại chất chứa nỗi hoài niệm lớn. Cái “Buông gió” ấy là nơi trú ngụ của ký ức, của tình yêu đã qua, của giấc mơ đã mất.

“Cây thở sương đêm lạnh/ lay động một đóa quỳnh/ ta níu trăng hiu quạnh/sưởi ấm trái tim mình.”

Nguyên Bình nhân hóa cảnh vật một cách tự nhiên: “cây thở”, “đóa quỳnh lay động”… Tất cả đều thấm đẫm linh hồn con người. Đặc biệt, câu thơ “ta níu trăng hiu quạnh / sưởi ấm trái tim mình” có những hình ảnh đắt giá. Trăng vốn là ánh sáng lạnh, vô tri, nhưng trong bàn tay thi sĩ, nó trở thành nguồn sưởi ấm tinh thần. Đó chính là sức mạnh của thơ, biến cái cô đơn thành một vẻ đẹp, biến cái mất mát thành một sự hồi sinh.

“Hạt mưa gieo bất trắc/ phơi tình cũ chưa khô.” là hai câu thơ ngắn nhưng sâu như một vết cứa, vừa hiện thực, vừa tượng trưng.“Hạt mưa” là biến cố, là thời gian.“tình cũ chưa khô” là ký ức vẫn còn mới, là kỉ niệm tình yêu vẫn chưa thể nào quên. Có thể nói, “Buông gió” là khúc độc tấu của những hoài niệm. Nỗi buồn ở đây không ồn ào mà thấm dần, khiến người đọc phải lặng im sau mỗi câu chữ.

Nguyên Bình không ngại tự ví mình với hình tượng dân gian: Thằng Bờm. Bài thơ “Thằng Bờm” (Trang 83) được xem là bức tranh tự họa của thi sĩ và thể hiện triết lý về thơ. Nhưng khác với sự ngây ngô trong truyện cổ tích, “Thằng Bờm” của anh là biểu tượng của một người thơ hồn nhiên mà sâu sắc, nhiệt tình và chân thật với cuộc đời.

“Nếu thơ là một dòng sông/ thì tôi xin được đục trong với người.”

Câu thơ như một lời nguyện ước giản dị mà xúc động. “Đục trong” là hai từ đối lập, gợi triết lý về bản chất của thơ. Dòng chảy của sông luôn chở những bụi bặm, rác rều của cuộc đời, và thơ cũng vậy. Bản chất của văn chương nói chung, thơ nói riêng là mang đến cái đẹp cho cuộc sống và con người. Nhưng nếu tác phẩm văn chương chỉ tô vẽ cuộc sống bằng những nét vẽ và những gam màu đẹp đẽ thì đó chưa phải là nghệ thuật chân chính. Tác phẩm văn chương thực sự có giá trị khi nó phản ánh không chỉ cái hay, cái đẹp mà còn phản ánh cả những cái chưa tốt, những mặt trái của cuộc sống và con người, làm cho người đọc nhận thức được vấn đề, thức tỉnh bản thân và làm cho người gần người hơn. Đây chính là cái “đục trong” của thơ mà tác giả đã so sánh ví von. Và chính điều ấy mới làm nên sự chân thật của thơ ca nói riêng và làm nên sức sống của tác phẩm văn chương nói chung trong thời gian.

“Nếu thơ là một chặng đời/ thì tôi xin được khóc cười thế gian.”

Câu thơ như lời tự thú của một kẻ suốt đời yêu thơ bằng cả phần nhân sinh của mình. Thơ, với Nguyên Bình, không phải là nơi để trốn tránh thực tại, mà là chốn để sống trọn vẹn cùng thực tại, để “khóc cười” giữa những điều bình thường nhất.

“Nếu thơ là để đọa đày/ xin em dứt áo tôi ngày... biệt ly.”

Đây là một tuyên ngôn đẹp đẽ và dứt khoát. Với nhà thơ, thơ không phải là thứ ngôn từ phô trương, cũng không phải vỏ bọc của sự kiêu ngạo. Thơ là sự thành thật, là tình yêu, là sự dấn thân. “Thằng Bờm” chính là chân dung của Nguyên Bình, một thi sĩ chọn lối đi chân trần trên đất, giữa bao phồn tạp của đời sống mà vẫn giữ được cái hồn nhiên, trong trẻo của người làm thơ đích thực.

Trong Mật ngữ trắng đen, có thể xem bài thơ “Lạc vào mùa đông” (Trang 95), là một trong những bài thơ tiêu biểu cho giọng điệu thơ của Nguyên Bình: Sâu lắng, nhiều tầng hình ảnh và mang hơi thở của những suy tưởng.

“Mùa đông/ chiều dài thời gian đo bằng ánh lửa/ củi cháy thành tro/ đêm bập bùng nỗi nhớ/ nhúm than hồng tàn lụi/ khuya nay.”

Cách đo thời gian bằng ánh lửa thật độc đáo. Thời gian không được đếm bằng đồng hồ, mà bằng sự hao mòn của cảm xúc, bằng ngọn lửa ký ức đang tàn dần. Hình ảnh “nhúm than hồng tàn lụi” gợi cảm giác vừa ấm vừa buốt, như tình yêu đã từng cháy bỏng, giờ chỉ còn lại kí ức mong manh tự đáy lòng.

“Khối vuông rubic/ xoay mãi chẳng cùng màu/ tôi vụng về/ khâu vá vết thương, sâu.”: Một so sánh hiện đại và đầy tính tượng trưng: Tình yêu được ví như khối rubic, và “tôi”, chủ thể trữ tình, nhà thơ, xoay mãi không tìm thấy trật tự nào cả và không có cách phá bỏ bí mật của nó. Cái “vụng về” của con người trong tình cảm là điều thật nhất, nhân bản nhất. Ở đây, nhà thơ không che giấu sự tổn thương, mà chấp nhận nó như một phần tất yếu của đời sống cảm xúc.

Và bài thơ kết lại bằng hình ảnh ám ảnh và đầy màu sắc: “Thiên sứ lạc mất nhau/ đôi giày đỏ, đồi xanh, cụm hoa thạch thảo.” Đây là cái đẹp của sự chia ly, của những điều dang dở. “Đôi giày đỏ, đồi xanh” là hai sắc màu đối nghịch. Giờ đây đã trở thành biểu tượng cho hai nửa đời không còn gặp lại nhau. Thạch thảo: Loài hoa nở cuối mùa, là dấu chỉ của ký ức, của những gì mong manh mà “tôi” đã gặp trên đường đời.

Có thể nói, qua một số bài thơ trong “Mật ngữ trắng đen”, người đọc cảm nhận rõ bức chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình, người đi tìm ánh sáng trong bóng tối. Anh là thi sĩ của suy tưởng và lòng nhân ái, thi sĩ của những nỗi cô đơn biết tỏa sáng. Với Nguyên Bình, làm thơ không phải để trốn chạy hiện thực, mà để sống sâu hơn trong nó. Nỗi đau trong thơ anh không bao giờ tuyệt vọng mà luôn ẩn chứa một ngọn lửa lặng lẽ của niềm tin.

Đọc thơ Nguyên Bình, ta nhận thấy một phong cách thơ tự do, hiện đại nhưng vẫn đằm thắm tinh thần truyền thống. Thơ anh có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những hình ảnh gần gũi và ý tưởng triết học, giữa nhạc tính dân gian và nhịp thở của đời sống đô thị, có sự dung hòa giữa cảm xúc và trí tuệ, giữa đời thường và những trải nghiệm, giữa “trắng” và “đen”, vốn là hai cực biểu tượng cho ánh sáng và bóng tối trong con người.

Ở tầng sâu nhất, “Mật ngữ trắng đen” là hành trình đi tìm ánh sáng trong bóng tối của chính mình. Chỉ khi đối diện với những mảng “đen” của đời sống, ta mới hiểu giá trị của “trắng”, của niềm tin và của lòng nhân hậu. Qua một số bài thơ tiêu biểu nói trên, chân dung tâm hồn của tác giả hiện lên như một người lữ khách của tâm hồn: Lặng lẽ, từng trải, thủy chung với thơ và với chính mình. Anh không tuyên ngôn cho những điều lớn lao, vĩ đại mà bằng từng nhịp thở của ngôn từ, mỗi bài thơ của anh là một “mật ngữ” để con người đối thoại với chính mình một cách nhẹ nhàng, sâu lắng giữa thế giới còn những bộn bề hôm nay.

T.H.Y

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm