TIN TỨC

Chữ Tâm trong thơ Hoàng Thạch

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-08-13 18:43:42
mail facebook google pos stwis
1258 lượt xem

LÊ ĐÌNH HÒA

Macxim Gorky đã có một định nghĩa khái quát nhất về văn học: "Văn học là nhân học". Bởi lẽ đó con người luôn là trung tâm của văn học. Xưa nay chữ tâm đều được đặt lên hàng đầu trong xây dựng tính cách nhân vật.

Nhưng không phải dễ hình thành cốt cách của từng nhà văn, nhà thơ. Đọc hết gần 500 trang thơ của Hoàng Thạch, nổi lên cái đau đáu về chữ tâm. Nếu như Nguyễn Du tuyên bố "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" thì Hoàng Thạch là "chữ tâm bất biến sơn hà mênh mông". Anh trăn trở: "Bầu trời vẫn như xưa/ Mặt trăng không gian dối/ Ta sợ nơi thay đổi/ Là trái tim con người".


Tiến sĩ, bác sĩ, nhà thơ Hoàng Thạch

"Thay đổi" ở đây đó là sự tráo trở của đạo lý làm người. Ở con người đầy nội tâm như Hoàng Thạch, thơ anh giàu trí tưởng tượng. Chất lãng mạn, trữ tình luôn trong anh tạo nên dòng cảm xúc có lúc mãnh liệt nhưng lại nhẹ nhàng, nhỏ nhẹ trong thể hiện:  "Ta lăn lóc chìm nổi bến bờ/ Vượt qua vùng mộng ảo/ Đêm thao thức đêm dài vô tận/ Tình em gõ trái tim buồn". Chữ tâm trong anh. Đó là đạo làm người. Trong thơ ca mỗi người có một cách đi riêng. Ở Hoàng Thạch xuất phát từ đồng quê rồi lăn lộn chiến trường, rồi học hành thành đạt trở thành bác sỹ, tiến sĩ. Nếu về xã hội cuộc sống đã ở bậc trung lưu, vậy mà khi về thăm quê thắp nén nhang cho mẹ, anh nhớ: "Chỗ này mẹ ngồi vá áo/ Con kê ghế nhổ tóc sâu/ Tháng ba làm con nhớ lại/Ngâm hoa cho mẹ gội đầu" (Hoa bưởi).

Giữa hai trận đánh anh vẫn cưa cưa dũa dũa cái vỏ đạn làm cái cối giã trầu, cất đáy ba-lô để ngày chiến thắng về tặng mẹ: "Cối trầu mòn vẹt ai thay/ Con xin tặng cối trầu này mẹ ơi". Anh nặng nợ với làng quê: "Ta lặn lội bốn phương trời mưa nắng/ Bao vui buồn trĩu nặng quê ơi!... Bình yên rồi sau bao giông nổi/ Mà trái tim vẫn một lối đi về" (Vết thời gian).   Đến cái cổng làng xưa, ngày trở về như gặp lại người bạn: "Cổng làng tôi năm tháng cứ già thêm" (Xưa nay chưa thấy cảm xúc với cái cổng làng như vậy). Trở lại quê sau cái gì cũng làm cho anh rạo rực vui, buồn khó tả. Trên đường “lai hương” bao ký ức cứ ùa về: “Không biết bây giờ còn như ngày xưa/ Ấm nước chè xanh râm ran cả xóm/ Chuyện hến giắt chợ Cầu/ Chuyện mật đường chợ Trổ…” (Khe khẽ đông về). Rồi cái trăn trở nữa trong anh là chiến tranh đã cướp đi tuổi xuân của bao cô gái làng "suốt cái thời đàn bà đi đánh giặc: “…Bây giờ về cái xóm “không chồng”/Đọc từ những đôi mắt/ Tôi hiểu điều khát khao làm mẹ/ Mà vời vợi xa xôi (Sóng thức). Hoàng Thạch sung sướng, tâm đắc với làng quê anh nay đã có một ngôi trường khang trang mang tên một nhà văn - Đại tá Nguyễn Xuân Thiều (người con của làng anh). Tình đồng đội trong Hoàng Thạch rất sâu nặng. Bốn tập thơ anh viết từ năm 2005 đến 2014 đều có dấu ấn người lính. Trước hết vì anh đã là người lính, bác sỹ quân y từng tham gia trận mạc. Có trên chục bài thơ được anh gửi gắm đến những dấu chân người lính. Người đang trở về, người đã đi xa, sâu đậm nội tâm. Một bài thơ tự bạch của tác giả làm nhiệm vụ trong "Hầm mổ đêm giao thừa": "Cuộc phẫu thuật giữa hầm sâu/Đêm ba mươi tết/ Đạn cối xé ngang chân mày nát mất rồi!/ Nhưng trái tim còn đập/ Cuộc phẫu thuật diễn ra cấp tập/ Tao thắt lòng cắt cụt ... một chân Hưng" (Sóng thức).

Ngày hòa bình sống trong mọi niềm vui, anh tự nhủ: "Người ra đi đừng đi vào dĩ vãng/ Người ở lại xin đừng quên lãng/ Một thời trai trẻ chiến binh" (Vết thời gian).  Anh lại bỏ túi mấy đồng lương, cùng vợ ba-lô lên đường đi tìm mộ bạn. Rừng dày, suối thẳm. Đá dựng cheo leo. Chống gậy leo đèo vào trận địa cũ. Suốt mấy ngày có lúc mười giờ đêm chưa ra khỏi bìa rừng. Một đoạn thơ thật xúc động trong "Tiếng gọi giữa rừng" chuyến đi tìm mộ bác sĩ Nguyễn Ngọc Giới. Ta nghe như lời kêu van, như tiếng nấc thảm thiết khi mất mát người thân: "Tôi gào lên với cây/ Ta thét lên với suối/ Giới ơi! Anh đâu rồi?/ Anh đâu rồi! Giới ơi?" (Miền hoa dại và tôi).

Hòa bình nhưng vẫn còn tiếng súng. Kẻ cướp nước còn quanh quẩn đâu đây. Đất nước vẫn chưa trọn vẹn khi biển Đông còn sóng dữ. Hoàng Thạch viết: "Trái tim đau/ Khi nhắc đến Hoàng Sa/ Khi nhắc đến Trường Sa/ Khi nhắc đến Gạc-Ma"... (Sóng thức).

Mảng đề tình yêu với Hoàng Thạch cũng nặng nợ. Song ở cái tuổi đã làm ông nội, ông ngoại tình yêu chỉ là những hồi ức. Có người nói anh là người đa tình nhưng tôi bảo anh là người đa cảm. Cái tâm của anh trong tình yêu xuất phát từ đó. Tình yêu trong anh tế nhị, kín đáo, sâu nặng tâm tư: "Chưa một lần cầm tay/ Một nụ hôn chưa dám...". Thế mà: "Nét mực xưa vàng ố/ Dấu vào góc nho nhỏ/ Trong trái tim mỗi đứa còn nhau..." và: “Có mối tình nào trong veo chưa lời kết/ Để lỡ chuyện tình/ Bến cũ đò xưa!" (Sóng thức) Để bây giờ:  "Những đêm dài khó ngủ/ Bâng khuâng nhớ buổi đào hoa" (Miền hoa dại và tôi).

Hoàng Thạch thích làm thơ từ thời sinh viên. Nhưng chỉ hoàn thành bốn tác phẩm trọn vẹn từ ngày được từ giã đơn vị Quân y Bộ Tổng tư lệnh.  Đọc thơ anh ta thấy rõ từ "Khe khẽ đông về", tập thơ đầu tay rồi "Vết thời gian", "Miền hoa dại và tôi" đến tập thứ tư "Sóng thức", độ chín trong thơ anh càng sắc nét về ngôn từ và sâu sắc về tứ thơ. Mong anh từ chữ tâm mà tạo nguồn thẩm mỹ mới. Ngọc càng mài càng sáng. Thơ anh sẽ được lòng bạn đọc.



Nhà thơ HOÀNG THẠCH

Bút danh: Hoàng Thạch, Đá Vàng

Quê quán: Hà Tĩnh. Hiện sống tại TP. HCM.

Nghề nghiệp: Tiến sỹ, Bác sỹ.

Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh.

Chủ nhiệm CLB Thơ Ca Hội Cựu Giáo chức TP. HCM

ĐT: 0908 467 769, Mail: drhoang2009@gmail.com

Tác phẩm đã xuất bản:

  • Khe khẽ đông về (thơ, NXB Văn nghệ, 2007)
  • Vết thời gian (thơ, NXB Văn nghệ, 2010)
  • Miền Hoa dại và Tôi (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2012)
  • Sóng thức (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2014)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm