TIN TỨC

Chữ Tâm trong thơ Hoàng Thạch

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-08-13 18:43:42
mail facebook google pos stwis
1674 lượt xem

LÊ ĐÌNH HÒA

Macxim Gorky đã có một định nghĩa khái quát nhất về văn học: "Văn học là nhân học". Bởi lẽ đó con người luôn là trung tâm của văn học. Xưa nay chữ tâm đều được đặt lên hàng đầu trong xây dựng tính cách nhân vật.

Nhưng không phải dễ hình thành cốt cách của từng nhà văn, nhà thơ. Đọc hết gần 500 trang thơ của Hoàng Thạch, nổi lên cái đau đáu về chữ tâm. Nếu như Nguyễn Du tuyên bố "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" thì Hoàng Thạch là "chữ tâm bất biến sơn hà mênh mông". Anh trăn trở: "Bầu trời vẫn như xưa/ Mặt trăng không gian dối/ Ta sợ nơi thay đổi/ Là trái tim con người".


Tiến sĩ, bác sĩ, nhà thơ Hoàng Thạch

"Thay đổi" ở đây đó là sự tráo trở của đạo lý làm người. Ở con người đầy nội tâm như Hoàng Thạch, thơ anh giàu trí tưởng tượng. Chất lãng mạn, trữ tình luôn trong anh tạo nên dòng cảm xúc có lúc mãnh liệt nhưng lại nhẹ nhàng, nhỏ nhẹ trong thể hiện:  "Ta lăn lóc chìm nổi bến bờ/ Vượt qua vùng mộng ảo/ Đêm thao thức đêm dài vô tận/ Tình em gõ trái tim buồn". Chữ tâm trong anh. Đó là đạo làm người. Trong thơ ca mỗi người có một cách đi riêng. Ở Hoàng Thạch xuất phát từ đồng quê rồi lăn lộn chiến trường, rồi học hành thành đạt trở thành bác sỹ, tiến sĩ. Nếu về xã hội cuộc sống đã ở bậc trung lưu, vậy mà khi về thăm quê thắp nén nhang cho mẹ, anh nhớ: "Chỗ này mẹ ngồi vá áo/ Con kê ghế nhổ tóc sâu/ Tháng ba làm con nhớ lại/Ngâm hoa cho mẹ gội đầu" (Hoa bưởi).

Giữa hai trận đánh anh vẫn cưa cưa dũa dũa cái vỏ đạn làm cái cối giã trầu, cất đáy ba-lô để ngày chiến thắng về tặng mẹ: "Cối trầu mòn vẹt ai thay/ Con xin tặng cối trầu này mẹ ơi". Anh nặng nợ với làng quê: "Ta lặn lội bốn phương trời mưa nắng/ Bao vui buồn trĩu nặng quê ơi!... Bình yên rồi sau bao giông nổi/ Mà trái tim vẫn một lối đi về" (Vết thời gian).   Đến cái cổng làng xưa, ngày trở về như gặp lại người bạn: "Cổng làng tôi năm tháng cứ già thêm" (Xưa nay chưa thấy cảm xúc với cái cổng làng như vậy). Trở lại quê sau cái gì cũng làm cho anh rạo rực vui, buồn khó tả. Trên đường “lai hương” bao ký ức cứ ùa về: “Không biết bây giờ còn như ngày xưa/ Ấm nước chè xanh râm ran cả xóm/ Chuyện hến giắt chợ Cầu/ Chuyện mật đường chợ Trổ…” (Khe khẽ đông về). Rồi cái trăn trở nữa trong anh là chiến tranh đã cướp đi tuổi xuân của bao cô gái làng "suốt cái thời đàn bà đi đánh giặc: “…Bây giờ về cái xóm “không chồng”/Đọc từ những đôi mắt/ Tôi hiểu điều khát khao làm mẹ/ Mà vời vợi xa xôi (Sóng thức). Hoàng Thạch sung sướng, tâm đắc với làng quê anh nay đã có một ngôi trường khang trang mang tên một nhà văn - Đại tá Nguyễn Xuân Thiều (người con của làng anh). Tình đồng đội trong Hoàng Thạch rất sâu nặng. Bốn tập thơ anh viết từ năm 2005 đến 2014 đều có dấu ấn người lính. Trước hết vì anh đã là người lính, bác sỹ quân y từng tham gia trận mạc. Có trên chục bài thơ được anh gửi gắm đến những dấu chân người lính. Người đang trở về, người đã đi xa, sâu đậm nội tâm. Một bài thơ tự bạch của tác giả làm nhiệm vụ trong "Hầm mổ đêm giao thừa": "Cuộc phẫu thuật giữa hầm sâu/Đêm ba mươi tết/ Đạn cối xé ngang chân mày nát mất rồi!/ Nhưng trái tim còn đập/ Cuộc phẫu thuật diễn ra cấp tập/ Tao thắt lòng cắt cụt ... một chân Hưng" (Sóng thức).

Ngày hòa bình sống trong mọi niềm vui, anh tự nhủ: "Người ra đi đừng đi vào dĩ vãng/ Người ở lại xin đừng quên lãng/ Một thời trai trẻ chiến binh" (Vết thời gian).  Anh lại bỏ túi mấy đồng lương, cùng vợ ba-lô lên đường đi tìm mộ bạn. Rừng dày, suối thẳm. Đá dựng cheo leo. Chống gậy leo đèo vào trận địa cũ. Suốt mấy ngày có lúc mười giờ đêm chưa ra khỏi bìa rừng. Một đoạn thơ thật xúc động trong "Tiếng gọi giữa rừng" chuyến đi tìm mộ bác sĩ Nguyễn Ngọc Giới. Ta nghe như lời kêu van, như tiếng nấc thảm thiết khi mất mát người thân: "Tôi gào lên với cây/ Ta thét lên với suối/ Giới ơi! Anh đâu rồi?/ Anh đâu rồi! Giới ơi?" (Miền hoa dại và tôi).

Hòa bình nhưng vẫn còn tiếng súng. Kẻ cướp nước còn quanh quẩn đâu đây. Đất nước vẫn chưa trọn vẹn khi biển Đông còn sóng dữ. Hoàng Thạch viết: "Trái tim đau/ Khi nhắc đến Hoàng Sa/ Khi nhắc đến Trường Sa/ Khi nhắc đến Gạc-Ma"... (Sóng thức).

Mảng đề tình yêu với Hoàng Thạch cũng nặng nợ. Song ở cái tuổi đã làm ông nội, ông ngoại tình yêu chỉ là những hồi ức. Có người nói anh là người đa tình nhưng tôi bảo anh là người đa cảm. Cái tâm của anh trong tình yêu xuất phát từ đó. Tình yêu trong anh tế nhị, kín đáo, sâu nặng tâm tư: "Chưa một lần cầm tay/ Một nụ hôn chưa dám...". Thế mà: "Nét mực xưa vàng ố/ Dấu vào góc nho nhỏ/ Trong trái tim mỗi đứa còn nhau..." và: “Có mối tình nào trong veo chưa lời kết/ Để lỡ chuyện tình/ Bến cũ đò xưa!" (Sóng thức) Để bây giờ:  "Những đêm dài khó ngủ/ Bâng khuâng nhớ buổi đào hoa" (Miền hoa dại và tôi).

Hoàng Thạch thích làm thơ từ thời sinh viên. Nhưng chỉ hoàn thành bốn tác phẩm trọn vẹn từ ngày được từ giã đơn vị Quân y Bộ Tổng tư lệnh.  Đọc thơ anh ta thấy rõ từ "Khe khẽ đông về", tập thơ đầu tay rồi "Vết thời gian", "Miền hoa dại và tôi" đến tập thứ tư "Sóng thức", độ chín trong thơ anh càng sắc nét về ngôn từ và sâu sắc về tứ thơ. Mong anh từ chữ tâm mà tạo nguồn thẩm mỹ mới. Ngọc càng mài càng sáng. Thơ anh sẽ được lòng bạn đọc.



Nhà thơ HOÀNG THẠCH

Bút danh: Hoàng Thạch, Đá Vàng

Quê quán: Hà Tĩnh. Hiện sống tại TP. HCM.

Nghề nghiệp: Tiến sỹ, Bác sỹ.

Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh.

Chủ nhiệm CLB Thơ Ca Hội Cựu Giáo chức TP. HCM

ĐT: 0908 467 769, Mail: drhoang2009@gmail.com

Tác phẩm đã xuất bản:

  • Khe khẽ đông về (thơ, NXB Văn nghệ, 2007)
  • Vết thời gian (thơ, NXB Văn nghệ, 2010)
  • Miền Hoa dại và Tôi (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2012)
  • Sóng thức (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2014)

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm