TIN TỨC

Có một khúc tình ca dang dở...

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-12-05 08:55:22
mail facebook google pos stwis
3464 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

Cảm nhận về bài thơ DÒNG SÔNG MỘT BỜ của Nguyễn Khắc Thạch:

DÒNG SÔNG MỘT BỜ

 

Có một dòng sông mang tên em,

dòng sông anh tự đặt

xin mùa thu chiếc lá làm thuyền.

 

Có một dòng sông trôi vào lãng quên,

nước trong như nước mắt

điều chưa đến mà sao thấy mất?

 

Có một dòng sông chỉ có một bờ,

phía bờ kia quay mặt.

dòng sông anh không qua được bao giờ...

(Rút từ tập “Dòng sông một bờ”. Hội VHNT Bình Trị Thiên.,1989)

*

1. Tôi đọc “DÒNG SÔNG MỘT BỜ” bằng mờ tỏ mắt nhìn con chữ, bằng trầm chùng lời diễn ngôn, bằng tình cảm xao động bồi hồi của con tim, bằng thức nhận biệt phân của trí não... để rồi từ thẳm sâu lòng mình, dậy lên biết mấy xúc cảm xôi xa... Tôi như tan hòa vào dòng chảy thông điệp của bài thơ, để thấy lại chính tôi,thấy bạn, thấy anh, thấy em... thấy biết bao những kẻ đang yêu, từng yêu, có lúc là anh, có khi là em... thảy như đều hiện diện ở “Dòng sông một bờ” này!...Và rồi, cứ thế...“Dòng sông một bờ” trôi trong tiềm thức của tôi...  trong veo một khúc tình ca dang dở. Buồn... thật buồn... Có quảng gió thoảng, sóng dào cơn dỗi hờn vô cớ. Có đoạn sóng cồn lên tiếc nuối, bất trắc, xót xa. Có khúc nhấp nhô một phía cam chịu lở bồi...Nhưng tôi không thấy ở “Dòng sông một bờ” trạng huống sóng gió phụ bạc, đắng cay, hay phản trắc nào cả!...

Tại sao ư?

  1. Thì đấy, khởi đầu bài thơ là một khổ lẻ ba câu:

“Có một dòng sông mang tên em,

dòng sông anh tự đặt

xin mùa thu chiếc lá làm thuyền.”

Thấy chưa, “Có một dòng sông...”, chứ nào đâu phải dòng sông nào. Nào đâu phải dòng sông của anh, hay dòng sông của em. Đặc định “có một”, nhưng xác quyết“... mang tên em”, thành ra đó như là một phiếm chỉ về một dòng chảy tình yêu đôi lứa, chứ nào phải là Hà, hay là Giang. Nào phải đó là “... sông Mã gầm lên khúc độc hành” mà bảo của Quang Dũng*, hay “...sông Thương thật thương” mà nói là của Hoàng Nhuận Cầm**?!...

“Dòng sông anh tự đặt”, đâu có phải là một lời ghi nhận, để nói rằng câu chuyện sông kia khởi dòng từ anh, với biết bao tâm tình của anh dành cho emmỗi chiều hai đứa cùng ngồi bên nhau ngắm nhìn những cánh buồm xuôi bến?... “Dòng sông anh tự đặt” cũng có thể là những tự bạch, những hồitưởng tâm tư của em được lắm chứ? Rằng là em nhớ “cái buổi ban đầu xao xuyến ấy”, anh bảo dòng sông lấp lánh ánh chiều kia đẹp như tên em, như những xao động lúc nào cũng rộn lên trong trái tim anh...

Và, ta nhớ tình yêu chúng mình... Ta chẳng thể nào quên được đã bao lần ta cùng ước ao, cầm tay nhau bước đến ngôi nhà hạnh phúc lứa đôi. Ta từng “xin mùa thu chiếc lá làm thuyền” để đưa tình yêu ta đến bến bờ mong đợi. Ôi đẹp biết mấy là dòng sông tình yêu đôi lứa mình, với chiếc lá nhiệm màu của mùa thu năm ấy!...

1.2. Khổ thơ tiếp theo:

“Có một dòng sông trôi vào lãng quên,

nước trong như nước mắt

điều chưa đến mà sao thấy mất? ”

Lại vẫn ba dòng thơ lẻ, và cũng vẫn bắt đầu bằng đặc định “có một dòng sông...” như một phiếm chỉ... nhưng giờ thì dòng sông ấy đã “...trôi vào lãng quên” rồi! Đọng lại tâm tưởng giờ đây chỉ còn là một quá vãng buồn, là một dòng “nước trong như nước mắt” chảy miên man trongký ức xót xa, tiếc nuối... cái “điều chưa đến mà sao thấy mất” !...

Ai xót ai?...Ai tiếc ai?... Chả riêng ai cả!... Một cuộc tình đã không như mong đợi; đã chỉ như là một cuộc yêu đương khởi thủy,bất chung; như là một tình yêu đã không thành tựu... thế thôi! Không thấy ở đây nước mắt của anh, cũng không thấy nước mắt của em. Những câu thơ đọc lên chỉ thấy trôi ngược về trong veo một nỗi niềm buồn thương, nhung nhớ... Có xót xa, tiếc nuối, nhưng không cợn đọng trách cứ, bi thương...

... Và chiếc lá nữa,chiếc lá khát khao mộng vàng hai đứa giờ trôi nổi, chìm đắm nơi đâu?!...

1.3. Khổ kết bài thơ:

“Có một dòng sông chỉ có một bờ,

phía bờ kia quay mặt.

dòng sông anh không qua được bao giờ... ”

Vậy là đã rõ rồi! Lại cũng vẫn là đặc định “có một...”, nhưng lần này là “...dòng sông chỉ có một bờ”. Chính sự xác định này càng cho biết rõ ở trên kia không phải một mà đã có nhiều dòng sông từng đã chảy. Thì đó là đây,“...dòng sông mang tên em” nhé, “...dòng sông trôi vào lãng quên”nhé, và cả “...dòng sông chỉ có một bờ” đấy thôi !

Ảo tưởng chỉ để khổ để tủi chứ nào đâu “...dòng sông chỉ có một bờ”, để giận hờn trách cứ “phía bờ kia quay mặt”. Thế mà có đấy! Mà vẫn “có một dòng sông chỉ có một bờ” kia đấy! Ấy là khi sông cạn nước ròng, mênh mông bên đó là bãi dâu, đồng lúa. Và rồi dòng sông cạn cờ ấy khát khao có được bên đó bờ yêu, để dòng chảy tuôn trào.  Nhưng mà không, “...sông chỉ có một bờ” thì có đâu dòng chảy. Và thế là “dòng sông anh không qua được bao giờ”, bởi có thành sông đâu mà qua, mà đến?!

“...Anh không qua được...”, hay em không qua được, thì cũng thế cả thôi, có chi khác lạ đâu!

2.Tôi đọc “DÒNG SÔNG MỘT BỜ” mà cảm phục thi pháp của bài thơ. Tuyệt vời là thủ thuật làm mờ nhòe ngữ nghĩa, để tạo ra tính đa diện mạo cho những góc nhìn.

2.1. Xuyên suốt bài thơ là những liệt kê “có một”... với ngữ nghĩa hiển ngôn trỏ chỉ một đó thôi. Ấy vậy mà lại nhiều chứ không phải chỉ một. Đó là “...dòng sông mang tên em”, là “...dòng sông trôi vào lãng quên”, là “...dòng sông chỉ có một bờ”... mà khi đọc lên, thì sẽ khiến thức dậy trong ta là gì, nếu không phải là liên tưởng đến một nữa, là dòng sông của riêng mình.

2.2. Câu thơ “dòng sông anh tự đặt”, trong ngữ cảnh kết cấu của khổ thơ, đã chỉ ra nghĩa hồi tưởng, đã được định trước từ lối mở bài, mở khổ, bởi phương thức liệt kê “có một” nói trên. Ở trong cái kết cấu ấy, chữ “anh” chỉ ra chữ “em” mà tôi có thể nhất loạt thay thế, hoán đổi trong bài thơ này. Bạn hãy thử mà xem, hãy thử thay thế rồi đọc lên để thấy không thể khẳng định giới của nhân vật trữ tình ở đó chỉ là anh, mà không thể là em, hay ngược lại.

2.3. Thành ra một khi “có một dòng sông mang tên anh”, “dòng sông em tự đặt”, “dòng sông em không qua được bao giờ ”, thì “dòng sông” trong thi phẩm “Dòng sông một bờ” kia, chính là Ẩn dụ về những cuộc tình đôi lứa, về một tình yêu lứa đôi. Dòng sông yêu đương ấy chẳng đã chảy suốt thi phẩm, kể cả khi nó chỉ có một bờ, là gì?! Ai bảo “phía bờ kia quay mặt” là một bội bạc, phản trắc; thì là chưa thấy, chính bởi đó là “...dòng sông chỉ có một bờ”; chưa thấy đó là một ảo ước, về một bờ giả tưởng. “Quay mặt” ở đây nghĩa là không có đối nhân; nghĩa là tự bản thân anh, hoặc em, đã tìm thấy nhưng không phải là người yêu mình.

3. Không chỉ là “dòng sông anh không qua được bao giờ”, bởi “chỉ có một bờ”, vì tình yêu đã không nảy nở; mà còn bởi có khi dòng chảy gặp phải những khúc rủi ro, những đoạn sóng to gió cả, khiến chiếc lá đắm chìm, vì còn mong manh quá... Bài thơ kết cấu ba khổ thơ, mỗi khổ lại chỉ ba dòng thơ, đâu phải vô tình lỗi phép, mà là một dụng công tuyệt kỹ, để chuyển đi cái thông điệp về sự thất bát, lẻ loi, đơn chiếc, như một vô thường của tình yêu. Và sau tất cả, trên tất cả, đó là tôi đã đọc được ở thi phẩm  “DÒNG SÔNG MỘT BỜ” của Nguyễn Khắc Thạch, một TỤNG CA TÌNH YÊU, ở khúc đoạn đẹp nhất, mà tôi gọi là KHÚC TÌNH CA DANG DỞ... ./.

* Từ bài thơ “Tây tiến” của Quang Dũng.

** Từ bài thơ “Sông Thương tóc dài” của Hoàng Nhuận Cầm.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm