TIN TỨC

“Đánh thức mình bằng chân lý vô ngôn”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-03-15 10:14:09
mail facebook google pos stwis
1730 lượt xem

Đặng Bá Tiến

(Nhân đọc “Ru lá vào đêm” của Nguyễn Minh Thuận, NXB Phụ nữ 1.2024)

Tôi biết Nguyễn Minh Thuận (nguyên Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tư pháp Đắk Lắk) làm thơ đã lâu, dễ hơn ba chục năm trước, thỉnh thoảng anh vẫn đọc cho tôi nghe và rải rác anh cho đăng trên facebook Trương Thị Hiền - vợ anh (TS, giảng viên Trường Đại học Tây Nguyên).

Nguyễn Minh Thuận

Những bài thơ tức sự, tức cảnh, hay những suy ngẫm về cuộc sống, lẽ đời của anh thường ngắn, nhưng ý tứ sâu xa, thâm trầm, ngôn ngữ, cấu tứ của bài thơ khá chuyên nghiệp khiến người đọc, trong đó có nhiều nhà thơ đã thành danh thích thú, khen ngợi. Khi anh còn làm Giám đốc Sở Tư Pháp, tôi đã khuyên: nên in một tập thơ. Nhưng anh chỉ cười cười, nói rằng: Em làm thơ cho vui thôi, khi nào nghỉ hưu, nếu thuận trời, thuận đất em sẽ in.

Năm 2022 Nguyễn Minh Thuận nghỉ hưu. Nhưng chưa kịp chọn được thời điểm thuận trời thuận đất để in tập thơ riêng, thì bất ngờ... anh phải rời bỏ thế gian! Cúi đầu, ôm mối đau thương vò xé tâm can, tuôn biết bao nước mắt xót xa, lo tang sự cho chồng xong, ngẩng mặt nhìn lại mình, nhìn lại con, nhìn lại mối tình duyên hơn 22 năm gắn bó keo sơn với Nguyễn Minh Thuận, người vợ hiền, hết mực yêu thương chồng, chợt nhận ra: chồng mình không hề đi xa, anh vẫn còn đây, mãi mãi trong vợ con, trong những bài thơ anh đã viết - những bài thơ ấy vẫn còn trong thế gian này, bởi cái tình thiết tha của anh với cuộc đời và cái tình thương mến của bao người đối với anh. Và thế là cô giáo Hiền tập hợp các bài thơ của chồng (dù chưa đầy đủ), nhờ bạn bè giúp đỡ để cho ra mắt tập thơ “Ru lá vào đêm” mà bây giờ nhiều người đang được nâng niu trên tay. Thay chồng cho ra đời tập thơ này, cô giáo Hiền chỉ có một mong ước: “...các cô chú, anh chị, các bạn đã cùng tôi và gia đình nhớ về anh Thuận khi đọc tập thơ “Ru lá vào đêm”. Tôi không biết thiên đường thực sự có hay không, nhưng tôi chắc chắn rằng, anh Thuận đang sống trong ký ức của người thân và bạn bè”.

Tập thơ “Ru lá vào đêm” có 55 bài, hầu hết là những bài thơ ngắn, chỉ 4 đến 8 câu. Mỗi bài là một cảm xúc bất chợt của Nguyễn Minh Thuận khi được hòa mình vào thiên nhiên, được chiêm ngắm vẻ đẹp của đất trời quê hương; là tình yêu với vợ con; những nỗi niềm, những băn khoăn, trăn trở về cuộc sống, nhân tình thế thái mà quá trình sống, trải nghiệm anh bất chợt nhận ra và ghi lại bằng thơ, theo quán tính tâm hồn của một đứa con vùng đất thơ Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh - quê hương của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Không chủ ý làm thơ, nhưng ta thấy trong thơ anh hiện lên tất cả những gì mà con người quan tâm. Chẳng hạn về vấn đề môi trường, sự vô cảm của người đời trước số phận của đồng loại (trang 12), anh viết: “Đất khóc bạc phận đất/ Tuôn sông dài biển khơi/ Núi khóc dựng vách đá/ Mẹ bồng con giữa trời/ Rừng khóc cây nghiêng ngã/ Gió nghẹn lòng thung sâu/ Những trái tim gỗ đá/ Người có còn khóc nhau”. Ca dao đã nói về sen, đã nêu một bài học lớn về nhân cách làm người “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Nhưng đứng trước sen, suy ngẫm về sen (trang 16), Nguyễn Minh Thuận có thêm một triết luận cũng thật sâu sắc và nhân văn: “Nhụy vàng bông trắng lá xanh/ không bùn thì cũng chẳng thành sen đâu”. Quả là ở đời không có “bùn”, không có những người lao động lam lũ, thì làm sao có những kẻ quyền quý, cao sang; không một người chân chính nào trưởng thành mà không phải trải qua những ngày phấn đấu rèn luyện gian khổ... Sống trong cõi nhân gian người ta thường toan tính đủ điều, rồi nhiểu người bất lực, oán hận thốt lên “chẳng hiều đời này ra sao nữa”. Nhưng có một điều người ta ít nghĩ tới, đó là muốn hiểu đời trước tiên cần hiểu mình, có hiểu mình mới có thể đưa ra những quyết định đúng, việc làm đúng để thành công trong cuộc sống. Nguyễn Minh Thuận nói về điều này thật minh triết: “Toan tính, bán mua, mưu cầu danh lợi/ Ta là ai kiếp người cát bụi/ Nổi trôi trong cõi phù sinh?/ Sao hiểu được trần gian khi không hiểu chính mình”. Sống trong cõi nhân gian này, điều quan trọng không phái là chức tước, địa vị, tiền bạc, bẻm mép... mà cái đáng quý hơn là hiểu được, thấm thía và chia sẻ được những nỗi niềm của nhân gian. Đấy cũng là điều anh gửi gắm trong bài thơ Nhân sinh (trang 21): “Hãy cúi xuống mặt đất/ Thấm nỗi đau nhân tình/ Đọc thêm vài trang sách/ Hiểu hơn kiếp nhân sinh/.../ Đừng mải mê danh lợi/ Chức tước chỉ phù vân/ Sống sao đừng để lại/ Vết nhơ trong cõi trần”. Và vì thế Nguyễn Minh Thuận luôn luôn biết soi mình vào thiên nhiên, soi mình vào cuộc đời, truyền thống quê hương để sống và vươn lên. Đấy là lối sống của một người hiểu mình, biết người, biết ta. Phải chăng vì thế mà anh nuôi dưỡng được cho mình một tâm hồn thanh tịnh, nhuần nhị để có thể cùng hòa mình vào thiên nhiên, cùng mê đắm, thổn thức với vạn vật, cây cỏ như trong hai bài thơ Vườn đêm 1, 2 của anh (trang 22, 23): “Vườn lặng im ướt đẫm sương đêm/ chợt bừng dậy hăng nồng mùi đất/ cỏ non xanh trải thảm mượt mềm/ lênh láng vàng tuôn trăng rót mật/ đất trời vào cuộc giao hoan/ gió rít từng cơn chất ngất/ sỏi đá tìm tan vào nhau...”;  “Tiếng tắc kè nhịp đôi khắc khoải/ dế hát điệu gì nghe buồn mê mải/ bìm bịp buông nỗi đau đáu vào sương/ tiếng đất thầm thì/ ru lá rụng vào đêm”.

Chùm thơ Thuận viết tặng vợ và chùm thơ viết tặng các con cũng là hai chùm thơ gây được xúc động với tôi mỗi lần đọc. Bài thơ Thuận tặng vợ mùa giáng sinh năm 2008 (trang 43) thật chân thành, nồng nàn yêu thương; bởi Thuận nhận ra từ khi có vợ, cuộc đời như chuyển sang trang mới đầy tươi vui, ấm áp, có vợ như là “Chạm vào nốt nhạc trần gian/ Bản tình ca vang ngân/ Mùa đông không còn lạnh nữa/ Em bình dị mà nồng nàn như lửa/ Dịu dàng như một đức tin/ Anh dọn lòng mình thành máng cỏ/ Em đến bên đời anh, Giáng Sinh”. Viết được những câu thơ: “tiếng đất thầm thì/ ru lá rụng vào đêm”, “Anh dọn lòng mình thành máng cỏ/ Em đến bên đời anh, Giáng Sinh”, đủ để khẳng định năng lực cao trong sáng tạo thi ca của Nguyễn Minh Thuận.

Như hầu hết người đời, yêu thương con là chăm sóc, vỗ về, dạy bảo con yêu quê hương, sống có nghĩa có tình, biết vươn lên khi vấp ngã... nhưng cái khác của Nguyễn Minh Thuận là dạy con bằng những bài thơ thủ thỉ, êm ái, chan chứa tình cảm, dễ dàng thấm vào gan ruột các con như mật ngọt (trang 45): “Con ơi! Nghi Xuân quê ta/ Nơi phần mộ ông bà con ở đó/ Bươn bả mãi vẫn chưa qua nghèo khó/ Phận người lam lũ quanh năm/ Sau này đi đâu con nhớ về thăm/ Ăn củ khoai lang/ Uống bát nước chè xanh đậm tình làng xóm/ Con sẽ hiểu những nhọc nhằn đã nuôi mình khôn lớn/ Sẽ thấy mình vững tâm...

 “Ru lá vào đêm” có nhiều bài hay, câu thơ hay, thể hiện sâu sắc tình cảm của Nguyễn Minh Thuận với cuộc đời, quê hương, vợ con, bạn bè, nhưng trong khuôn khổ của bài báo ngắn này tôi không thể giới thiệu và trích dẫn hết, chỉ xin dừng lại ở bài thơ “Vô ngôn thư” (trang 32) sau đây; bởi theo tôi, bài này thể hiện rõ nhất tấm lòng, tâm hồn và phẩm chất thi ca của Thuận: “Về vườn đọc “vô ngôn thư”/thấy tức tưởi nhú mầm trong đất/ khao khát tự do bật ra từ chồi biếc/ an ủi vỗ về của những nụ và hoa./ Bao mưu toan ủ kín kén hiền hòa/ những hiểm họa dập dìu muôn cánh bướm/ loài cỏ dại âm thầm dàn thế trận/ đất rộng lòng muôn thuở vẫn bao dung./ Cả một vườn chữ nghĩa xô nghiêng/ câu thanh, tục chập chờn hư ảo/ lặng lẽ đọc tiếng côn trung huyên náo/ đánh thức mình bằng chân lý vô ngôn”. Vâng, thực tế cuộc sống sẽ “đánh thức” chúng ta, cho ta nhận thức đầy đủ nhất về mọi điều; cho ta nhận biết rõ ràng nhất về sự đúng sai, về người tốt, kẻ xấu; cho ta tìm ra chân lý hơn cả ngàn trang sách hay lời nói lý thuyết suông!

         Đ.B.T 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm