TIN TỨC

“Đánh thức mình bằng chân lý vô ngôn”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-03-15 10:14:09
mail facebook google pos stwis
1487 lượt xem

Đặng Bá Tiến

(Nhân đọc “Ru lá vào đêm” của Nguyễn Minh Thuận, NXB Phụ nữ 1.2024)

Tôi biết Nguyễn Minh Thuận (nguyên Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tư pháp Đắk Lắk) làm thơ đã lâu, dễ hơn ba chục năm trước, thỉnh thoảng anh vẫn đọc cho tôi nghe và rải rác anh cho đăng trên facebook Trương Thị Hiền - vợ anh (TS, giảng viên Trường Đại học Tây Nguyên).

Nguyễn Minh Thuận

Những bài thơ tức sự, tức cảnh, hay những suy ngẫm về cuộc sống, lẽ đời của anh thường ngắn, nhưng ý tứ sâu xa, thâm trầm, ngôn ngữ, cấu tứ của bài thơ khá chuyên nghiệp khiến người đọc, trong đó có nhiều nhà thơ đã thành danh thích thú, khen ngợi. Khi anh còn làm Giám đốc Sở Tư Pháp, tôi đã khuyên: nên in một tập thơ. Nhưng anh chỉ cười cười, nói rằng: Em làm thơ cho vui thôi, khi nào nghỉ hưu, nếu thuận trời, thuận đất em sẽ in.

Năm 2022 Nguyễn Minh Thuận nghỉ hưu. Nhưng chưa kịp chọn được thời điểm thuận trời thuận đất để in tập thơ riêng, thì bất ngờ... anh phải rời bỏ thế gian! Cúi đầu, ôm mối đau thương vò xé tâm can, tuôn biết bao nước mắt xót xa, lo tang sự cho chồng xong, ngẩng mặt nhìn lại mình, nhìn lại con, nhìn lại mối tình duyên hơn 22 năm gắn bó keo sơn với Nguyễn Minh Thuận, người vợ hiền, hết mực yêu thương chồng, chợt nhận ra: chồng mình không hề đi xa, anh vẫn còn đây, mãi mãi trong vợ con, trong những bài thơ anh đã viết - những bài thơ ấy vẫn còn trong thế gian này, bởi cái tình thiết tha của anh với cuộc đời và cái tình thương mến của bao người đối với anh. Và thế là cô giáo Hiền tập hợp các bài thơ của chồng (dù chưa đầy đủ), nhờ bạn bè giúp đỡ để cho ra mắt tập thơ “Ru lá vào đêm” mà bây giờ nhiều người đang được nâng niu trên tay. Thay chồng cho ra đời tập thơ này, cô giáo Hiền chỉ có một mong ước: “...các cô chú, anh chị, các bạn đã cùng tôi và gia đình nhớ về anh Thuận khi đọc tập thơ “Ru lá vào đêm”. Tôi không biết thiên đường thực sự có hay không, nhưng tôi chắc chắn rằng, anh Thuận đang sống trong ký ức của người thân và bạn bè”.

Tập thơ “Ru lá vào đêm” có 55 bài, hầu hết là những bài thơ ngắn, chỉ 4 đến 8 câu. Mỗi bài là một cảm xúc bất chợt của Nguyễn Minh Thuận khi được hòa mình vào thiên nhiên, được chiêm ngắm vẻ đẹp của đất trời quê hương; là tình yêu với vợ con; những nỗi niềm, những băn khoăn, trăn trở về cuộc sống, nhân tình thế thái mà quá trình sống, trải nghiệm anh bất chợt nhận ra và ghi lại bằng thơ, theo quán tính tâm hồn của một đứa con vùng đất thơ Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh - quê hương của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Không chủ ý làm thơ, nhưng ta thấy trong thơ anh hiện lên tất cả những gì mà con người quan tâm. Chẳng hạn về vấn đề môi trường, sự vô cảm của người đời trước số phận của đồng loại (trang 12), anh viết: “Đất khóc bạc phận đất/ Tuôn sông dài biển khơi/ Núi khóc dựng vách đá/ Mẹ bồng con giữa trời/ Rừng khóc cây nghiêng ngã/ Gió nghẹn lòng thung sâu/ Những trái tim gỗ đá/ Người có còn khóc nhau”. Ca dao đã nói về sen, đã nêu một bài học lớn về nhân cách làm người “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Nhưng đứng trước sen, suy ngẫm về sen (trang 16), Nguyễn Minh Thuận có thêm một triết luận cũng thật sâu sắc và nhân văn: “Nhụy vàng bông trắng lá xanh/ không bùn thì cũng chẳng thành sen đâu”. Quả là ở đời không có “bùn”, không có những người lao động lam lũ, thì làm sao có những kẻ quyền quý, cao sang; không một người chân chính nào trưởng thành mà không phải trải qua những ngày phấn đấu rèn luyện gian khổ... Sống trong cõi nhân gian người ta thường toan tính đủ điều, rồi nhiểu người bất lực, oán hận thốt lên “chẳng hiều đời này ra sao nữa”. Nhưng có một điều người ta ít nghĩ tới, đó là muốn hiểu đời trước tiên cần hiểu mình, có hiểu mình mới có thể đưa ra những quyết định đúng, việc làm đúng để thành công trong cuộc sống. Nguyễn Minh Thuận nói về điều này thật minh triết: “Toan tính, bán mua, mưu cầu danh lợi/ Ta là ai kiếp người cát bụi/ Nổi trôi trong cõi phù sinh?/ Sao hiểu được trần gian khi không hiểu chính mình”. Sống trong cõi nhân gian này, điều quan trọng không phái là chức tước, địa vị, tiền bạc, bẻm mép... mà cái đáng quý hơn là hiểu được, thấm thía và chia sẻ được những nỗi niềm của nhân gian. Đấy cũng là điều anh gửi gắm trong bài thơ Nhân sinh (trang 21): “Hãy cúi xuống mặt đất/ Thấm nỗi đau nhân tình/ Đọc thêm vài trang sách/ Hiểu hơn kiếp nhân sinh/.../ Đừng mải mê danh lợi/ Chức tước chỉ phù vân/ Sống sao đừng để lại/ Vết nhơ trong cõi trần”. Và vì thế Nguyễn Minh Thuận luôn luôn biết soi mình vào thiên nhiên, soi mình vào cuộc đời, truyền thống quê hương để sống và vươn lên. Đấy là lối sống của một người hiểu mình, biết người, biết ta. Phải chăng vì thế mà anh nuôi dưỡng được cho mình một tâm hồn thanh tịnh, nhuần nhị để có thể cùng hòa mình vào thiên nhiên, cùng mê đắm, thổn thức với vạn vật, cây cỏ như trong hai bài thơ Vườn đêm 1, 2 của anh (trang 22, 23): “Vườn lặng im ướt đẫm sương đêm/ chợt bừng dậy hăng nồng mùi đất/ cỏ non xanh trải thảm mượt mềm/ lênh láng vàng tuôn trăng rót mật/ đất trời vào cuộc giao hoan/ gió rít từng cơn chất ngất/ sỏi đá tìm tan vào nhau...”;  “Tiếng tắc kè nhịp đôi khắc khoải/ dế hát điệu gì nghe buồn mê mải/ bìm bịp buông nỗi đau đáu vào sương/ tiếng đất thầm thì/ ru lá rụng vào đêm”.

Chùm thơ Thuận viết tặng vợ và chùm thơ viết tặng các con cũng là hai chùm thơ gây được xúc động với tôi mỗi lần đọc. Bài thơ Thuận tặng vợ mùa giáng sinh năm 2008 (trang 43) thật chân thành, nồng nàn yêu thương; bởi Thuận nhận ra từ khi có vợ, cuộc đời như chuyển sang trang mới đầy tươi vui, ấm áp, có vợ như là “Chạm vào nốt nhạc trần gian/ Bản tình ca vang ngân/ Mùa đông không còn lạnh nữa/ Em bình dị mà nồng nàn như lửa/ Dịu dàng như một đức tin/ Anh dọn lòng mình thành máng cỏ/ Em đến bên đời anh, Giáng Sinh”. Viết được những câu thơ: “tiếng đất thầm thì/ ru lá rụng vào đêm”, “Anh dọn lòng mình thành máng cỏ/ Em đến bên đời anh, Giáng Sinh”, đủ để khẳng định năng lực cao trong sáng tạo thi ca của Nguyễn Minh Thuận.

Như hầu hết người đời, yêu thương con là chăm sóc, vỗ về, dạy bảo con yêu quê hương, sống có nghĩa có tình, biết vươn lên khi vấp ngã... nhưng cái khác của Nguyễn Minh Thuận là dạy con bằng những bài thơ thủ thỉ, êm ái, chan chứa tình cảm, dễ dàng thấm vào gan ruột các con như mật ngọt (trang 45): “Con ơi! Nghi Xuân quê ta/ Nơi phần mộ ông bà con ở đó/ Bươn bả mãi vẫn chưa qua nghèo khó/ Phận người lam lũ quanh năm/ Sau này đi đâu con nhớ về thăm/ Ăn củ khoai lang/ Uống bát nước chè xanh đậm tình làng xóm/ Con sẽ hiểu những nhọc nhằn đã nuôi mình khôn lớn/ Sẽ thấy mình vững tâm...

 “Ru lá vào đêm” có nhiều bài hay, câu thơ hay, thể hiện sâu sắc tình cảm của Nguyễn Minh Thuận với cuộc đời, quê hương, vợ con, bạn bè, nhưng trong khuôn khổ của bài báo ngắn này tôi không thể giới thiệu và trích dẫn hết, chỉ xin dừng lại ở bài thơ “Vô ngôn thư” (trang 32) sau đây; bởi theo tôi, bài này thể hiện rõ nhất tấm lòng, tâm hồn và phẩm chất thi ca của Thuận: “Về vườn đọc “vô ngôn thư”/thấy tức tưởi nhú mầm trong đất/ khao khát tự do bật ra từ chồi biếc/ an ủi vỗ về của những nụ và hoa./ Bao mưu toan ủ kín kén hiền hòa/ những hiểm họa dập dìu muôn cánh bướm/ loài cỏ dại âm thầm dàn thế trận/ đất rộng lòng muôn thuở vẫn bao dung./ Cả một vườn chữ nghĩa xô nghiêng/ câu thanh, tục chập chờn hư ảo/ lặng lẽ đọc tiếng côn trung huyên náo/ đánh thức mình bằng chân lý vô ngôn”. Vâng, thực tế cuộc sống sẽ “đánh thức” chúng ta, cho ta nhận thức đầy đủ nhất về mọi điều; cho ta nhận biết rõ ràng nhất về sự đúng sai, về người tốt, kẻ xấu; cho ta tìm ra chân lý hơn cả ngàn trang sách hay lời nói lý thuyết suông!

         Đ.B.T 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm