TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Khoảng trời xanh ký ức - Bản tình ca viết về tình yêu “một thời hoa lửa”

Khoảng trời xanh ký ức - Bản tình ca viết về tình yêu “một thời hoa lửa”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-05-31 15:47:11
mail facebook google pos stwis
1286 lượt xem

Ký ức chiến tranh, tình yêu tuổi trẻ, và khát vọng sống không ngừng nghỉ là những mạch nguồn cảm xúc dào dạt trong tập thơ "Khoảng trời xanh ký ức" của nhà thơ Nguyễn Thị Phương Nam. Để cùng chiêm nghiệm vẻ đẹp của tác phẩm mới này, website Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu hai bài cảm nhận từ hai nhà thơ cùng CLB Thơ Phương Nam, đồng thời là hội viên Hội Nhà văn TP. HCM. Nhà thơ Phan Nhật Tiến mang đến bài viết "Bản tình ca viết về tình yêu “Một thời hoa lửa”", khắc họa bức tranh rộng lớn của tình yêu Tổ quốc, tình yêu đồng chí. Cùng với đó, Nhà thơ Trần Trí Thông với "Tình yêu của U 80" lại tập trung vào những khoảnh khắc lãng mạn, trẻ trung không giới hạn của tâm hồn người thi sĩ qua bài thơ "Lục bình hoa tím". Kính mời quý độc giả cùng đọc để cảm nhận sâu sắc hơn về "một thời đã qua" và những giá trị tình cảm bền bỉ.

Nguyên Hùng biên tập và giới thiệu


BẢN TÌNH CA VIẾT VỀ TÌNH YÊU “MỘT THỜI HOA LỬA”

Cảm nhận về tập thơ "Khoảng trời xanh ký ức" của nhà thơ Nguyễn Thị Phương Nam

PHAN NHẬT TIẾN


Tôi nhận được tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức” do chính tác giả, Nhà thơ Nguyễn Thị Phương Nam, đề tặng đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Không gian của tập thơ trải dài cùng cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc. Cái ác liệt, đau thương của miền đất địa đầu tuyến lửa Vĩnh Linh được chị khắc lên thời gian, khắc lên tình yêu của một thời tuổi trẻ.

Đó là tình yêu quê hương nơi có người Mẹ hiền tần tảo, nơi trẻ em đi học dưới địa đạo, nơi có những đồng đội từng sát cánh bên nhau chiến đấu và quyết giành chiến thắng.

Đó là tình yêu lứa đôi thủy chung trong chiến tranh của người lính. Anh chị đến với nhau bằng tình yêu bỏng cháy, vượt qua mọi thử thách, vượt qua thời gian, vượt qua không gian và vượt qua chính bản thân mình. Tình yêu ấy được minh chứng bằng một đám cưới đơn sơ, bằng sự đợi chờ, cùng đôi bàn tay nắm chặt dìu nhau đi qua chiến tranh, qua gian khó cho đến tận bây giờ.

Đó là tình yêu Tổ quốc bằng trái tim của người cộng sản, trước vô vàn gian khổ, hy sinh vẫn một lòng sắt son với Đảng. Cảm xúc nghẹn ngào của chị khi được nhận huy hiệu cao quý 30 năm - 40 năm - 45 năm - 50 năm, rồi 55 tuổi Đảng đã truyền cho thế hệ sau rằng đã có một tình yêu như thế.

Ai cũng có ký ức của riêng mình. Ký ức của chị thật đẹp, thật hào hùng, thật đáng trân trọng. Cho dù là sắt se thương Mẹ, nhớ người Cha đã anh dũng hy sinh, hay những gian khổ, khắc nghiệt trong chiến tranh, những chia sẻ ngọt bùi cùng đồng đội, những mất mát đau thương không tránh khỏi của cuộc chiến cam go một mất một còn với kẻ thù; nhiều khi khiến chị không khỏi ngậm ngùi, hoài niệm, nhưng chị đã vượt lên để sống, làm việc và mưu cầu hạnh phúc.

Thi phẩm “Khoảng trời xanh ký ức” đích thực là bản tình ca viết về tình yêu “Một thời hoa lửa”. Xin chúc chị luôn khỏe, hạnh phúc, yêu đời, có thêm nhiều thơ thấm đậm tình người, tình đồng chí, tình thơ.

TP Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 5 năm 2025.
 


 

TÌNH YÊU CỦA U 80

"Ước gì với được chùm bông

Trao anh kỷ niệm bên dòng Tiền Giang"

TRẦN TRÍ THÔNG

 

Nhà thơ Nguyễn Thị Phương Nam tặng tôi tập thơ "Khoảng trời xanh ký ức" – tập thơ thứ 7 của chị. Có thể nói, chị là một "thân tằm" vẫn cần mẫn nhả tơ cho đời.

Thơ như con người, tâm hồn, cốt cách của chị: chân tình, nhẹ nhàng và đằm thắm.

Trong hàng chục bài thơ của tập, tôi ngỡ ngàng nhận ra rằng ở tuổi U80, một sắc hoa gợi nhớ cũng đủ làm bùng lên trong chị một tình yêu của một thời son trẻ cùng những khát khao còn tươi mới.

Đó là bài thơ "Lục bình hoa tím". Có lẽ, màu tím hoa lục bình gợi nhớ ấy là cảm xúc dâng trào trong chị trong những dịp đi giao lưu thơ ở Trường Đại học Cửu Long, khi chị trên ghe qua dòng sông Tiền huyền thoại. Trong chị là sự bồi hồi gặp gỡ được thể hiện qua những vần thơ: "Lại về bên bến Cửu Long/ Ngắm nhìn sông nước mênh mông tình người/ Ly cà phê đắng chạm môi/ Em nghe khe khẽ bồi hồi lời yêu". Thật thú vị khi "ly cà phê đắng chạm môi" lại gợi nên "lời yêu" khe khẽ bồi hồi. Sự nhạy cảm này dễ làm cho người đọc cứ ngỡ ngàng mãi thôi.

Chưa đâu, khi con thuyền phiêu diêu trên sông, nhà thơ lại chợt nhìn thấy: "Lục bình hoa tím khẽ rung/ Theo con nước chảy xuôi dòng về đâu?". Một chút lo lắng chợt dấy lên, sợ màu tím ấy bị trôi lạc dòng thì thương lắm.

Giữa lúc lòng đang xôn xao lo lắng, tác giả bỗng bình tâm để tin rằng: "Phải màu hoa ấy là màu thủy chung". Vâng, sự thủy chung chỉ có một hướng, dễ gì trôi lạc dòng được?

Khi đã khẳng định thủy chung như một chân lý, tác giả chợt khát khao: "Ước gì với được chùm bông/ Trao anh kỷ niệm bên dòng Tiền Giang".

Giá như ở cái thời mười tám đôi mươi, khát khao đẹp đẽ ấy rất dễ thành sự thật. Còn nay, ở cái tuổi như chúng ta, khát khao ấy chỉ nhắc về một thuở đã qua, một ký ức của một thời yêu màu tím...

Tâm hồn lãng mạn của một nhà thơ không bao giờ có lỗi, và cũng chẳng ai có thể bắt lỗi sự lãng mạn ấy, bởi đó là sự bao dung của khát vọng yêu.

“Để rồi mãi mãi ngàn năm/ Tình ta vẫn đẹp mênh mang Sông Tiền".

Một cái kết đưa ta về thực tại, nhưng lại là ấn tượng của một bài thơ hay. Bài thơ chỉ ghi lại một khoảnh khắc, nhưng đã đưa ta đến với dòng Sông Tiền cùng màu tím đáng yêu của loài hoa đồng nội.

Cảm ơn nhà thơ Nguyễn Thị Phương Nam về bài thơ tôi yêu thích. Chúc mừng chị với những sáng tác luôn tươi mới và tràn đầy cảm xúc!

TP Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 5 năm 2025.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm