TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Khoảng trời xanh ký ức - Bản tình ca viết về tình yêu “một thời hoa lửa”

Khoảng trời xanh ký ức - Bản tình ca viết về tình yêu “một thời hoa lửa”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-05-31 15:47:11
mail facebook google pos stwis
855 lượt xem

Ký ức chiến tranh, tình yêu tuổi trẻ, và khát vọng sống không ngừng nghỉ là những mạch nguồn cảm xúc dào dạt trong tập thơ "Khoảng trời xanh ký ức" của nhà thơ Nguyễn Thị Phương Nam. Để cùng chiêm nghiệm vẻ đẹp của tác phẩm mới này, website Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu hai bài cảm nhận từ hai nhà thơ cùng CLB Thơ Phương Nam, đồng thời là hội viên Hội Nhà văn TP. HCM. Nhà thơ Phan Nhật Tiến mang đến bài viết "Bản tình ca viết về tình yêu “Một thời hoa lửa”", khắc họa bức tranh rộng lớn của tình yêu Tổ quốc, tình yêu đồng chí. Cùng với đó, Nhà thơ Trần Trí Thông với "Tình yêu của U 80" lại tập trung vào những khoảnh khắc lãng mạn, trẻ trung không giới hạn của tâm hồn người thi sĩ qua bài thơ "Lục bình hoa tím". Kính mời quý độc giả cùng đọc để cảm nhận sâu sắc hơn về "một thời đã qua" và những giá trị tình cảm bền bỉ.

Nguyên Hùng biên tập và giới thiệu


BẢN TÌNH CA VIẾT VỀ TÌNH YÊU “MỘT THỜI HOA LỬA”

Cảm nhận về tập thơ "Khoảng trời xanh ký ức" của nhà thơ Nguyễn Thị Phương Nam

PHAN NHẬT TIẾN


Tôi nhận được tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức” do chính tác giả, Nhà thơ Nguyễn Thị Phương Nam, đề tặng đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Không gian của tập thơ trải dài cùng cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc. Cái ác liệt, đau thương của miền đất địa đầu tuyến lửa Vĩnh Linh được chị khắc lên thời gian, khắc lên tình yêu của một thời tuổi trẻ.

Đó là tình yêu quê hương nơi có người Mẹ hiền tần tảo, nơi trẻ em đi học dưới địa đạo, nơi có những đồng đội từng sát cánh bên nhau chiến đấu và quyết giành chiến thắng.

Đó là tình yêu lứa đôi thủy chung trong chiến tranh của người lính. Anh chị đến với nhau bằng tình yêu bỏng cháy, vượt qua mọi thử thách, vượt qua thời gian, vượt qua không gian và vượt qua chính bản thân mình. Tình yêu ấy được minh chứng bằng một đám cưới đơn sơ, bằng sự đợi chờ, cùng đôi bàn tay nắm chặt dìu nhau đi qua chiến tranh, qua gian khó cho đến tận bây giờ.

Đó là tình yêu Tổ quốc bằng trái tim của người cộng sản, trước vô vàn gian khổ, hy sinh vẫn một lòng sắt son với Đảng. Cảm xúc nghẹn ngào của chị khi được nhận huy hiệu cao quý 30 năm - 40 năm - 45 năm - 50 năm, rồi 55 tuổi Đảng đã truyền cho thế hệ sau rằng đã có một tình yêu như thế.

Ai cũng có ký ức của riêng mình. Ký ức của chị thật đẹp, thật hào hùng, thật đáng trân trọng. Cho dù là sắt se thương Mẹ, nhớ người Cha đã anh dũng hy sinh, hay những gian khổ, khắc nghiệt trong chiến tranh, những chia sẻ ngọt bùi cùng đồng đội, những mất mát đau thương không tránh khỏi của cuộc chiến cam go một mất một còn với kẻ thù; nhiều khi khiến chị không khỏi ngậm ngùi, hoài niệm, nhưng chị đã vượt lên để sống, làm việc và mưu cầu hạnh phúc.

Thi phẩm “Khoảng trời xanh ký ức” đích thực là bản tình ca viết về tình yêu “Một thời hoa lửa”. Xin chúc chị luôn khỏe, hạnh phúc, yêu đời, có thêm nhiều thơ thấm đậm tình người, tình đồng chí, tình thơ.

TP Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 5 năm 2025.
 


 

TÌNH YÊU CỦA U 80

"Ước gì với được chùm bông

Trao anh kỷ niệm bên dòng Tiền Giang"

TRẦN TRÍ THÔNG

 

Nhà thơ Nguyễn Thị Phương Nam tặng tôi tập thơ "Khoảng trời xanh ký ức" – tập thơ thứ 7 của chị. Có thể nói, chị là một "thân tằm" vẫn cần mẫn nhả tơ cho đời.

Thơ như con người, tâm hồn, cốt cách của chị: chân tình, nhẹ nhàng và đằm thắm.

Trong hàng chục bài thơ của tập, tôi ngỡ ngàng nhận ra rằng ở tuổi U80, một sắc hoa gợi nhớ cũng đủ làm bùng lên trong chị một tình yêu của một thời son trẻ cùng những khát khao còn tươi mới.

Đó là bài thơ "Lục bình hoa tím". Có lẽ, màu tím hoa lục bình gợi nhớ ấy là cảm xúc dâng trào trong chị trong những dịp đi giao lưu thơ ở Trường Đại học Cửu Long, khi chị trên ghe qua dòng sông Tiền huyền thoại. Trong chị là sự bồi hồi gặp gỡ được thể hiện qua những vần thơ: "Lại về bên bến Cửu Long/ Ngắm nhìn sông nước mênh mông tình người/ Ly cà phê đắng chạm môi/ Em nghe khe khẽ bồi hồi lời yêu". Thật thú vị khi "ly cà phê đắng chạm môi" lại gợi nên "lời yêu" khe khẽ bồi hồi. Sự nhạy cảm này dễ làm cho người đọc cứ ngỡ ngàng mãi thôi.

Chưa đâu, khi con thuyền phiêu diêu trên sông, nhà thơ lại chợt nhìn thấy: "Lục bình hoa tím khẽ rung/ Theo con nước chảy xuôi dòng về đâu?". Một chút lo lắng chợt dấy lên, sợ màu tím ấy bị trôi lạc dòng thì thương lắm.

Giữa lúc lòng đang xôn xao lo lắng, tác giả bỗng bình tâm để tin rằng: "Phải màu hoa ấy là màu thủy chung". Vâng, sự thủy chung chỉ có một hướng, dễ gì trôi lạc dòng được?

Khi đã khẳng định thủy chung như một chân lý, tác giả chợt khát khao: "Ước gì với được chùm bông/ Trao anh kỷ niệm bên dòng Tiền Giang".

Giá như ở cái thời mười tám đôi mươi, khát khao đẹp đẽ ấy rất dễ thành sự thật. Còn nay, ở cái tuổi như chúng ta, khát khao ấy chỉ nhắc về một thuở đã qua, một ký ức của một thời yêu màu tím...

Tâm hồn lãng mạn của một nhà thơ không bao giờ có lỗi, và cũng chẳng ai có thể bắt lỗi sự lãng mạn ấy, bởi đó là sự bao dung của khát vọng yêu.

Để rồi mãi mãi ngàn năm/ Tình ta vẫn đẹp mênh mang Sông Tiền".

Một cái kết đưa ta về thực tại, nhưng lại là ấn tượng của một bài thơ hay. Bài thơ chỉ ghi lại một khoảnh khắc, nhưng đã đưa ta đến với dòng Sông Tiền cùng màu tím đáng yêu của loài hoa đồng nội.

Cảm ơn nhà thơ Nguyễn Thị Phương Nam về bài thơ tôi yêu thích. Chúc mừng chị với những sáng tác luôn tươi mới và tràn đầy cảm xúc!

TP Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 5 năm 2025.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm