TIN TỨC

Khối đa diện “Mộng đế vương”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-01-08 21:50:22
mail facebook google pos stwis
2483 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

Nhà xuất bản Book Writer Corner (Hoa Kỳ) mới ấn bản tiểu thuyết “A glorious Dream - NGUYEN TRUONG” Mã số ISBN: 978-0-99-702549-1. Sách dầy 199 trang; phát hành qua 17 hệ thống phân phối sách: AMAZON, APPLE BOOKS,...

Bìa sách dịch ra Tiếng Anh

“A glorious Dream” dịch từ tiểu thuyết “Mộng đế Vương”, tác giả Nguyễn Trường, NXB Phụ nữ tái bản năm 2019, Mã số ISBN: 978-604-56-6502-2.

Bìa Tiểu thuyết Mộng Đế Vương

Sinh thời, nhà văn Nguyễn Khải chưa bình tác phẩm nào của nhà văn khác. Vào năm 2000, khi biết mình sắp về cỏi vĩnh hằng, ông có lời bình trước cho tái bản tiểu thuyết “MỘNG ĐẾ VƯƠNG”. Tôi trích lại:

“Đề tài đã hay, câu chuyện lại kỳ dị, hấp dẫn, có cả cái cười lẫn nước mắt, do cuộc sống nhiều màu vẻ đã tạo ra chứ không do người viết bịa ra. Bịa thế nào được những nhân vật, cảnh ngộ, tình tiết sống động đến thế!” trang 7. Ông kết lại “Chưa được đọc đầy đủ một cuốn tiểu thuyết đã được viết lại mà dám viết bài giới thiệu với bạn đọc là sao? Là do Nguyễn Trường tin lời tôi nói rằng năm 2002 rất có thể tôi phải giã biệt bạn bè, nêu yêu cầu tôi cứ viết trước, theo cái cảm nhận tổng thể của bản in lần đầu, cũng là lưu lại một chút tình với người bạn vong niên.” Trang 9 tiểu thuyết Mộng Đế Vương, Nhà xuất bản Phụ nữ, năm 2019 tái bản có sửa chữa, mã số ISBN: 978-604-56-5865-9.

***

Lấy bối cảnh xảy ra ở Cồn Phụng, một cái cồn nhỏ như một hòn đảo nổi lên giữa sông Tiền Giang hồi những năm 60- 70 của thế kỷ 20, có một ông đạo Dừa tên là Nguyễn Thành Nam đã lôi kéo được gần triệu tín đồ theo đạo, lấy Cồn Phụng làm “quốc gia” riêng. Đạo của ông cũng rất lạ, kết hợp giữa đạo Phật lẫn đạo Thiên Chúa, thành đạo Vừa Vừa, nhưng vì ông sống ở xứ dừa, lại chỉ dùng dừa làm thức ăn, nước uống nên người dân gọi đạo của ông là đạo Dừa. Giáo lý của ông cũng mù mờ, hành xử của ông nhiều khi rất hài hước. Ông ôm mộng giải quyết cuộc chiến tranh giữa người Mỹ và người Việt băng lý thuyết “Bất chiến tự nhiên thành” nên ông luôn hành động làm sao cho các bên chọn ông làm trung tâm hòa giải quốc tế để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Bởi thế ông đã nhiều lần tìm đường ra Hà Nội để gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, thuyết phục Cụ cho ông đứng ra dàn xếp cuộc chiến tranh, vãn hồi hòa bình. Nhiều lần ông tìm đến tòa đại sứ Mỹ, gặp đại sứ Bân-cơ, rồi gặp Tổng thống Việt Nam Cộng hòa như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, phó Tổng thống miền Nam Nguyễn Cao Kỳ, để ông đứng ra làm trung tâm hòa giải, đem lại hòa bình cho Việt Nam. Thậm chí ông nộp tiền, nôp đơn ra ứng cử Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Bởi đầu óc lẫn thẩn, hành xử ngô nghê nên những việc làm của ông khá hài hước. Tuy nhiên ông có lòng yêu nước, tu hành nghiêm túc nên những cố gắng của ông có khi thành công trong ngắn hạn. Điều kỳ lạ là ông cai quản cái vương quốc của ông nửa thần thánh, nửa bạo chúa, hay vì sự lẫn thẩn của ông là mảnh đất màu mỡ cho sự hà khắc của độc tài nảy nở và phát triển, bóp nghẹt quyền sống, quyền tự do của nhân dân Cồn Phụng.

***

Mọi hiện tượng, sự vật tồn tại, vận động trong hữu hạn của không gian và thời gian.

1. Không gian

Nhà văn Nguyễn Trường chọn xứ đạo ở Cồn Phụng của ông Nguyễn Thành Nam, đạo vừa vừa, gọi là Đạo Dừa: gói gọn trong một vùng đất nhỏ, có số lượng tín đồ lúc cao điểm lên đến triệu người, ngang bằng với các tôn giáo khác ở nước ta trong cùng thời điểm; cô đặc trong diện tích nhỏ bé với mật độ dân số cao nhất thế giới, làm nhanh chóng nảy sinh những vấn đề sinh tồn vốn gay gắt…

2. Thời gian

Đạo Dừa tồn tại trong ba thập niên, không ngắn, không dài; có đầy đủ các giai đoạn của một nền đạo phải kinh qua: phát sinh, phát triển và tiêu vong trong đời một giáo chủ, lý do để nó suy sụp vì đời sau là không có, khiến cho tính liên tục của triết lý phát triển và tiêu vong của nó rất cao.

Từ không thành có rồi đến lúc không phục vụ được lợi ích trước mắt của tín đồ, chính họ khai tử nền đạo, chỉ còn tàn dư là những ngày cuối đời của ông Nguyễn Thành Nam với biến tướng đạo bất tạo con và cũng tiêu vong khi ông mất.

3. Tư tưởng

Tác giả khai thác tiểu sử bản thân Nguyễn Thành Nam du học ở Pháp trở về, đến Pháp, quê hương của tư tưởng Cộng Hòa. So với người đương thời, anh có nhiều kiến thức hiện đại hơn. Tác giả hư cấu cho Nam ngẫu nhiên vào Nhất dạ đế vương để khám phá thiên bẩm làm vua của mình. Từ đây, con người hiện đại, ảnh hưởng của tư tưởng khai sáng, tư bản bị lẫn lộn với tư tưởng phong kiến và bị lấn át bằng tham vọng quyền lực. Do kết hợp đông tây một cách thiếu phủ định kế thừa nên phát triển tự nhiên theo cái cách mà chúng ta cho là ngớ ngẩn. Nhưng giả sử Nam thành công, có thể chúng ta lại dùng cách nhìn khác, gọt giũa tư liệu để cho ra hình ảnh khác, là vầng hào quang sáng chói chẳng hạn…

4. Tôn giáo

Nam sử dụng tôn giáo cho mục đích tạo quyền lực. Tôn giáo cần tín đồ. Khổ công tầm sư học đạo để tạo ra triết lý cho nền đạo của mình, tu luyện, tịnh khẩu cả chục năm trời. Người sáng lập ra đạo rất cần có nhiều tín đồ. Để có tín đồ nhanh nhất là dùng các biện pháp mê tín. Những người hành nghề mê tính dị đoan cần tôn giáo. Họ lợi dụng nhau. Ông thầy bói đồng hành cùng Nam trong quá trình xây dựng niềm tin. Vai trò ông thầy bói rất quan trọng, cho tới lúc ông tổ chức ra sự kiện xuống hang Bác vật Lưu Văn Lang khám phá để Nguyễn Thành Nam ngộ đạo. Mối quan hệ giữa tôn giáo và thần học, mê tín dị đoan là ruột thịt khi cần phát triển và duy trì nền đạo. Ông Đạo Dừa ở đỉnh cao quyền lực và sự ngưỡng mộ của tín đồ, một phần do ông thầy bói mất, những tưởng hào quang là tự thân mình có, Nguyễn Thành Nam quên đi vai trò của mê tín dị đoan nên bắt đầu xuất hiện những rạn nứt…

5. Quản trị nền đạo

Tôn giáo phải quản lý tín đồ và tổ chức các hoạt động của nó. Chính quyền Việt Nam cộng hòa buông lõng quản lý khu vực Cồn Phụng, buộc ông Đạo Dừa phải lập ra nhà nước để quản lý dân chúng; để có nhiều thời gian tham thiền, nhập định... Đây là lĩnh vực chính trị, khó có tiếng nói chung với giới chức sắc tôn giáo. Được ông Đạo Dừa ban chức (bổ nhiệm); ông Lý tổ chức bộ máy nhà nước tại Cồn Phụng. Bộ máy đó có cách quản lý khác với ông Đạo Dừa và dần đi đến mâu thuẫn quyền lợi. Tôn giáo cần phải có sự quản lý của nhà nước, tức là của ông Lý. Nhưng vì mới thoát thai từ bộ máy tôn giáo mà hầu hết người dân là tín đồ, để thâu tóm được quyền lực về tay nhà nước, ông Lý cần có thời gian sống cộng sinh chờ đến lúc trưởng thành.

Tác động tương hỗ từ chiều ngược lại, buộc ông Đạo Dừa phải chấp nhận thực tế đã có nhà nước, ông phải chia quyền chứ không phải ông muốn buông dần quyền lực. Ông có thể lợi dụng nhà nước để tăng ảnh hưởng lên tín đồ chứ không thể đảo ngược tiến trình của vương quốc Cồn Phụng, càng không thể tạo thêm một thiết chế nữa đứng trên nhà nước. Và do không biết cách quản lý, tự thân ông Đạo Dừa làm các vấn đề xã hội nhanh chóng nảy sinh theo hướng tự diệt…

6. Xã hội Cồn Phụng

Khi ra khỏi trái đất, loài người hiểu: không có thứ ánh sáng nhân tạo nào giống với ánh sáng tự nhiên, vì nó là kết hợp hàng tỷ tỷ ngôi sao rực sáng trong vũ trụ và nó đến với ta bằng vô số những khoảng cách thời gian, như ánh mặt trời từ điểm xuất phát đến ta mất 8 phút, nhưng có những tia sáng đã đi hàng triệu năm mới đến được trái đất và hòa quyện vào các loại ánh sáng khác để cho ra thứ ánh sáng muôn màu khi phân tích quang phổ.

Do được nuôi dưỡng bằng nguồn ánh sáng tự nhiên, xã hội loài người có điểm tương đồng, con người đến từ mọi nguồn, mọi nơi, mọi lúc, không đồng đều và không thống nhất. Xã hội Cồn Phụng, được ông Lý cai quản hà khắc, nhưng không vì thế mà mọi người giống nhau như một và có cùng đức tin. Nó không biệt lập hoàn toàn do đó không thể ngăn sông cấm chợ, không thể bế quan tỏa cảng.

Người dân đứng lên đấu tranh đòi tự do hóa tàu thuyền qua lại Cồn Phụng và các vấn đề kinh tế khác nảy sinh cũng là xuất phát từ nhu cầu phải có các mối quan hệ giữa trong và ngoài để phát triển. Nhu cầu tự do tư tưởng và lợi dụng nhu cầu này phát sinh theo...

7. Chính trị

Đan xen vào đó là các vấn đề chính trị do ông Đạo Dừa gây ra như ra Bắc gặp cụ Hồ, tranh cử Tổng thống, mua sắm vũ khí phục vụ đấu đá…

Tệ nạn tham nhũng của bộ máy do ông Lý đứng đầu… đòi hỏi chi tiêu cho bộ máy nhà nước và bộ máy tôn giáo đều lấy từ nền kinh tế Cồn Phụng… Nhà nước của ông Lý phải bóc lột dân nhiều hơn nhằm cung phụng cho nền đạo và cho bộ máy, cho cá nhân, cho cả những tham vọng của tất cả các bên... Trớ trêu, người đứng đầu vương quốc Cồn Phụng đòi hỏi phải có một cuộc sống công bằng, không áp bức bóc lột nhân dân mà không có giải pháp.

Tác giả đã dựng lại một xã hội phức tạp, đầy rẩy mâu thuẫn, bất công, đấu đá nội bộ bất phân thắng bại, do không phân định rõ đúng sai, minh bạch. Một xã hội mang màu sắc không tưởng do pha lẫn thời đại hồng hoang cai quản bằng niềm tin: tôn giáo, mê tín, dị đoan trong thiết chế phong kiến với hệ tư tưởng cộng hòa ở bên ngoài tràn vào. Bản thân ông Đạo Dừa không làm được việc lớn: “không chiến tự nhiên thành”: hòa bình cho dân tộc và thế giới nhằm vinh danh nền đạo để phát triển và tồn tại lâu dài. Ông để họ lầm than khốn khổ dưới bộ máy do ông tạo ra và đang dần tước đoạt quyền lực của ông, biến ông thành một thứ bù nhìn. Tổng kết và phát triển giáo lý cho nền đạo, cũng không làm được.

Hậu quả là một bộ phận thanh niên, động lực phát triển của xã hội, lợi dụng nền đạo của ông để tránh quân dịch, tránh đạn bom và chờ ngày hòa bình lập lại với thái độ bất cần do ai kiến tạo nên. Số này ngày càng đông và trở thành lực lượng chính của nhân dân, lật nhào tất cả công sức của ông Đạo Dừa, ông Thầy bói, ông Lý, cô Diệu Ứng (một sáng tạo của nhà văn Nguyễn Trường, đại diện cho trí tuệ nhân dân sử dụng vào mục đích tôn giáo), chỉ vì tất cả họ không vì nhân dân.

8. Quan hệ nhà nước và tôn giáo

Tiểu thuyết dựng lên vòng đời của một tôn giáo, từ phát sinh, phát triển, nảy sinh mâu thuẫn từ bên trong, sụp đổ và trở thành tàn dư rồi chết hẳn.

Vấn đề sụp đổ của nền “đạo vừa vừa” là do chính tín đồ, người sáng lập, bộ máy quản lý… gọi chung là nhân dân Cồn Phụng; là tự thân nền đạo, không có sự can thiệp nào khác từ bên ngoài.

Đây là một mô hình có giá trị khoa học xã hội, do tác giả sáng tạo nên để tìm hiểu tôn giáo và các mối quan hệ phức tạp của nó trong điều kiện loại bỏ vai trò nhà nước. Không có sự quản lý của nhà nước, xứ đạo sẽ đi lại từ đầu mô hình phát triển của loài người từ hữu thần đến vô thần và cuối cùng, nhân dân tự quyết theo con đường vô định nhiều rủi ro…

Góc nhìn từ Hoa Kỳ

Đoạn bản dịch bìa 4 cuốn “A glorious Dream”: “… Bóc tách những phức tạp của nhân bản và đức tin, tiểu thuyết này thêu nên một tấm thảm của sự khám phá triết học, chính trị, văn chương và tôn giáo cộng hưởng sâu sắc trong lòng người đọc.”

Bìa 4 của sách “A glorious Dream”

Đa diện

Ánh sáng tự nhiên là tổng hợp của vô vàn màu, nhưng chắc chắn nó không là màu trắng. Chỉ cần có một lăng kính để phân tích ánh sáng ra nhiều màu. Bút pháp khiến tác phẩm hấp dẫn: hiện thực chủ quan, tái hiện cuộc sống tự nhiên trong mô hình (lăng kính) giống như thật.  

VỀ TÊN GỌI TIỂU THUYẾT

Nhà văn Nguyễn Trường đặt tựa đề "Mộng đế vương" có nghĩa là làm "Mộng" làm "đế" của "vương" tạm hiểu là vua của vua và do đó ông Đạo Dừa cùng lúc ham muốn:

- Làm vua vương quốc Cồn Phụng.

- Làm thủ lĩnh tinh thần của người dân Cồn Phụng

- Làm người khai sáng đạo trí tuệ của Pháp và người Việt Nam.

Tổng hợp lại là là muốn trở thành thánh sống của người dân Việt Nam.

***

Bằng công sức lấy tư liệu, chắt lọc; kết hợp nghiên cứu các tôn giáo khác trong nước và trên thế giới, gắn cảm nhận về các vấn đề chính trị xã hội qua các thời kỳ biến động, … tác giả cho ta bức tranh sống động, giống như tự nhiên, về một xã hội tự do, tự thân, không có sự quản lý của Nhà nước… mà ta gọi là hấp dẫn.

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 1 năm 2024
LTH

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm