TIN TỨC

Khối đa diện “Mộng đế vương”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-01-08 21:50:22
mail facebook google pos stwis
2148 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

Nhà xuất bản Book Writer Corner (Hoa Kỳ) mới ấn bản tiểu thuyết “A glorious Dream - NGUYEN TRUONG” Mã số ISBN: 978-0-99-702549-1. Sách dầy 199 trang; phát hành qua 17 hệ thống phân phối sách: AMAZON, APPLE BOOKS,...

Bìa sách dịch ra Tiếng Anh

“A glorious Dream” dịch từ tiểu thuyết “Mộng đế Vương”, tác giả Nguyễn Trường, NXB Phụ nữ tái bản năm 2019, Mã số ISBN: 978-604-56-6502-2.

Bìa Tiểu thuyết Mộng Đế Vương

Sinh thời, nhà văn Nguyễn Khải chưa bình tác phẩm nào của nhà văn khác. Vào năm 2000, khi biết mình sắp về cỏi vĩnh hằng, ông có lời bình trước cho tái bản tiểu thuyết “MỘNG ĐẾ VƯƠNG”. Tôi trích lại:

Đề tài đã hay, câu chuyện lại kỳ dị, hấp dẫn, có cả cái cười lẫn nước mắt, do cuộc sống nhiều màu vẻ đã tạo ra chứ không do người viết bịa ra. Bịa thế nào được những nhân vật, cảnh ngộ, tình tiết sống động đến thế!” trang 7. Ông kết lại “Chưa được đọc đầy đủ một cuốn tiểu thuyết đã được viết lại mà dám viết bài giới thiệu với bạn đọc là sao? Là do Nguyễn Trường tin lời tôi nói rằng năm 2002 rất có thể tôi phải giã biệt bạn bè, nêu yêu cầu tôi cứ viết trước, theo cái cảm nhận tổng thể của bản in lần đầu, cũng là lưu lại một chút tình với người bạn vong niên.” Trang 9 tiểu thuyết Mộng Đế Vương, Nhà xuất bản Phụ nữ, năm 2019 tái bản có sửa chữa, mã số ISBN: 978-604-56-5865-9.

***

Lấy bối cảnh xảy ra ở Cồn Phụng, một cái cồn nhỏ như một hòn đảo nổi lên giữa sông Tiền Giang hồi những năm 60- 70 của thế kỷ 20, có một ông đạo Dừa tên là Nguyễn Thành Nam đã lôi kéo được gần triệu tín đồ theo đạo, lấy Cồn Phụng làm “quốc gia” riêng. Đạo của ông cũng rất lạ, kết hợp giữa đạo Phật lẫn đạo Thiên Chúa, thành đạo Vừa Vừa, nhưng vì ông sống ở xứ dừa, lại chỉ dùng dừa làm thức ăn, nước uống nên người dân gọi đạo của ông là đạo Dừa. Giáo lý của ông cũng mù mờ, hành xử của ông nhiều khi rất hài hước. Ông ôm mộng giải quyết cuộc chiến tranh giữa người Mỹ và người Việt băng lý thuyết “Bất chiến tự nhiên thành” nên ông luôn hành động làm sao cho các bên chọn ông làm trung tâm hòa giải quốc tế để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Bởi thế ông đã nhiều lần tìm đường ra Hà Nội để gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, thuyết phục Cụ cho ông đứng ra dàn xếp cuộc chiến tranh, vãn hồi hòa bình. Nhiều lần ông tìm đến tòa đại sứ Mỹ, gặp đại sứ Bân-cơ, rồi gặp Tổng thống Việt Nam Cộng hòa như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, phó Tổng thống miền Nam Nguyễn Cao Kỳ, để ông đứng ra làm trung tâm hòa giải, đem lại hòa bình cho Việt Nam. Thậm chí ông nộp tiền, nôp đơn ra ứng cử Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Bởi đầu óc lẫn thẩn, hành xử ngô nghê nên những việc làm của ông khá hài hước. Tuy nhiên ông có lòng yêu nước, tu hành nghiêm túc nên những cố gắng của ông có khi thành công trong ngắn hạn. Điều kỳ lạ là ông cai quản cái vương quốc của ông nửa thần thánh, nửa bạo chúa, hay vì sự lẫn thẩn của ông là mảnh đất màu mỡ cho sự hà khắc của độc tài nảy nở và phát triển, bóp nghẹt quyền sống, quyền tự do của nhân dân Cồn Phụng.

***

Mọi hiện tượng, sự vật tồn tại, vận động trong hữu hạn của không gian và thời gian.

1. Không gian

Nhà văn Nguyễn Trường chọn xứ đạo ở Cồn Phụng của ông Nguyễn Thành Nam, đạo vừa vừa, gọi là Đạo Dừa: gói gọn trong một vùng đất nhỏ, có số lượng tín đồ lúc cao điểm lên đến triệu người, ngang bằng với các tôn giáo khác ở nước ta trong cùng thời điểm; cô đặc trong diện tích nhỏ bé với mật độ dân số cao nhất thế giới, làm nhanh chóng nảy sinh những vấn đề sinh tồn vốn gay gắt…

2. Thời gian

Đạo Dừa tồn tại trong ba thập niên, không ngắn, không dài; có đầy đủ các giai đoạn của một nền đạo phải kinh qua: phát sinh, phát triển và tiêu vong trong đời một giáo chủ, lý do để nó suy sụp vì đời sau là không có, khiến cho tính liên tục của triết lý phát triển và tiêu vong của nó rất cao.

Từ không thành có rồi đến lúc không phục vụ được lợi ích trước mắt của tín đồ, chính họ khai tử nền đạo, chỉ còn tàn dư là những ngày cuối đời của ông Nguyễn Thành Nam với biến tướng đạo bất tạo con và cũng tiêu vong khi ông mất.

3. Tư tưởng

Tác giả khai thác tiểu sử bản thân Nguyễn Thành Nam du học ở Pháp trở về, đến Pháp, quê hương của tư tưởng Cộng Hòa. So với người đương thời, anh có nhiều kiến thức hiện đại hơn. Tác giả hư cấu cho Nam ngẫu nhiên vào Nhất dạ đế vương để khám phá thiên bẩm làm vua của mình. Từ đây, con người hiện đại, ảnh hưởng của tư tưởng khai sáng, tư bản bị lẫn lộn với tư tưởng phong kiến và bị lấn át bằng tham vọng quyền lực. Do kết hợp đông tây một cách thiếu phủ định kế thừa nên phát triển tự nhiên theo cái cách mà chúng ta cho là ngớ ngẩn. Nhưng giả sử Nam thành công, có thể chúng ta lại dùng cách nhìn khác, gọt giũa tư liệu để cho ra hình ảnh khác, là vầng hào quang sáng chói chẳng hạn…

4. Tôn giáo

Nam sử dụng tôn giáo cho mục đích tạo quyền lực. Tôn giáo cần tín đồ. Khổ công tầm sư học đạo để tạo ra triết lý cho nền đạo của mình, tu luyện, tịnh khẩu cả chục năm trời. Người sáng lập ra đạo rất cần có nhiều tín đồ. Để có tín đồ nhanh nhất là dùng các biện pháp mê tín. Những người hành nghề mê tính dị đoan cần tôn giáo. Họ lợi dụng nhau. Ông thầy bói đồng hành cùng Nam trong quá trình xây dựng niềm tin. Vai trò ông thầy bói rất quan trọng, cho tới lúc ông tổ chức ra sự kiện xuống hang Bác vật Lưu Văn Lang khám phá để Nguyễn Thành Nam ngộ đạo. Mối quan hệ giữa tôn giáo và thần học, mê tín dị đoan là ruột thịt khi cần phát triển và duy trì nền đạo. Ông Đạo Dừa ở đỉnh cao quyền lực và sự ngưỡng mộ của tín đồ, một phần do ông thầy bói mất, những tưởng hào quang là tự thân mình có, Nguyễn Thành Nam quên đi vai trò của mê tín dị đoan nên bắt đầu xuất hiện những rạn nứt…

5. Quản trị nền đạo

Tôn giáo phải quản lý tín đồ và tổ chức các hoạt động của nó. Chính quyền Việt Nam cộng hòa buông lõng quản lý khu vực Cồn Phụng, buộc ông Đạo Dừa phải lập ra nhà nước để quản lý dân chúng; để có nhiều thời gian tham thiền, nhập định... Đây là lĩnh vực chính trị, khó có tiếng nói chung với giới chức sắc tôn giáo. Được ông Đạo Dừa ban chức (bổ nhiệm); ông Lý tổ chức bộ máy nhà nước tại Cồn Phụng. Bộ máy đó có cách quản lý khác với ông Đạo Dừa và dần đi đến mâu thuẫn quyền lợi. Tôn giáo cần phải có sự quản lý của nhà nước, tức là của ông Lý. Nhưng vì mới thoát thai từ bộ máy tôn giáo mà hầu hết người dân là tín đồ, để thâu tóm được quyền lực về tay nhà nước, ông Lý cần có thời gian sống cộng sinh chờ đến lúc trưởng thành.

Tác động tương hỗ từ chiều ngược lại, buộc ông Đạo Dừa phải chấp nhận thực tế đã có nhà nước, ông phải chia quyền chứ không phải ông muốn buông dần quyền lực. Ông có thể lợi dụng nhà nước để tăng ảnh hưởng lên tín đồ chứ không thể đảo ngược tiến trình của vương quốc Cồn Phụng, càng không thể tạo thêm một thiết chế nữa đứng trên nhà nước. Và do không biết cách quản lý, tự thân ông Đạo Dừa làm các vấn đề xã hội nhanh chóng nảy sinh theo hướng tự diệt…

6. Xã hội Cồn Phụng

Khi ra khỏi trái đất, loài người hiểu: không có thứ ánh sáng nhân tạo nào giống với ánh sáng tự nhiên, vì nó là kết hợp hàng tỷ tỷ ngôi sao rực sáng trong vũ trụ và nó đến với ta bằng vô số những khoảng cách thời gian, như ánh mặt trời từ điểm xuất phát đến ta mất 8 phút, nhưng có những tia sáng đã đi hàng triệu năm mới đến được trái đất và hòa quyện vào các loại ánh sáng khác để cho ra thứ ánh sáng muôn màu khi phân tích quang phổ.

Do được nuôi dưỡng bằng nguồn ánh sáng tự nhiên, xã hội loài người có điểm tương đồng, con người đến từ mọi nguồn, mọi nơi, mọi lúc, không đồng đều và không thống nhất. Xã hội Cồn Phụng, được ông Lý cai quản hà khắc, nhưng không vì thế mà mọi người giống nhau như một và có cùng đức tin. Nó không biệt lập hoàn toàn do đó không thể ngăn sông cấm chợ, không thể bế quan tỏa cảng.

Người dân đứng lên đấu tranh đòi tự do hóa tàu thuyền qua lại Cồn Phụng và các vấn đề kinh tế khác nảy sinh cũng là xuất phát từ nhu cầu phải có các mối quan hệ giữa trong và ngoài để phát triển. Nhu cầu tự do tư tưởng và lợi dụng nhu cầu này phát sinh theo...

7. Chính trị

Đan xen vào đó là các vấn đề chính trị do ông Đạo Dừa gây ra như ra Bắc gặp cụ Hồ, tranh cử Tổng thống, mua sắm vũ khí phục vụ đấu đá…

Tệ nạn tham nhũng của bộ máy do ông Lý đứng đầu… đòi hỏi chi tiêu cho bộ máy nhà nước và bộ máy tôn giáo đều lấy từ nền kinh tế Cồn Phụng… Nhà nước của ông Lý phải bóc lột dân nhiều hơn nhằm cung phụng cho nền đạo và cho bộ máy, cho cá nhân, cho cả những tham vọng của tất cả các bên... Trớ trêu, người đứng đầu vương quốc Cồn Phụng đòi hỏi phải có một cuộc sống công bằng, không áp bức bóc lột nhân dân mà không có giải pháp.

Tác giả đã dựng lại một xã hội phức tạp, đầy rẩy mâu thuẫn, bất công, đấu đá nội bộ bất phân thắng bại, do không phân định rõ đúng sai, minh bạch. Một xã hội mang màu sắc không tưởng do pha lẫn thời đại hồng hoang cai quản bằng niềm tin: tôn giáo, mê tín, dị đoan trong thiết chế phong kiến với hệ tư tưởng cộng hòa ở bên ngoài tràn vào. Bản thân ông Đạo Dừa không làm được việc lớn: “không chiến tự nhiên thành”: hòa bình cho dân tộc và thế giới nhằm vinh danh nền đạo để phát triển và tồn tại lâu dài. Ông để họ lầm than khốn khổ dưới bộ máy do ông tạo ra và đang dần tước đoạt quyền lực của ông, biến ông thành một thứ bù nhìn. Tổng kết và phát triển giáo lý cho nền đạo, cũng không làm được.

Hậu quả là một bộ phận thanh niên, động lực phát triển của xã hội, lợi dụng nền đạo của ông để tránh quân dịch, tránh đạn bom và chờ ngày hòa bình lập lại với thái độ bất cần do ai kiến tạo nên. Số này ngày càng đông và trở thành lực lượng chính của nhân dân, lật nhào tất cả công sức của ông Đạo Dừa, ông Thầy bói, ông Lý, cô Diệu Ứng (một sáng tạo của nhà văn Nguyễn Trường, đại diện cho trí tuệ nhân dân sử dụng vào mục đích tôn giáo), chỉ vì tất cả họ không vì nhân dân.

8. Quan hệ nhà nước và tôn giáo

Tiểu thuyết dựng lên vòng đời của một tôn giáo, từ phát sinh, phát triển, nảy sinh mâu thuẫn từ bên trong, sụp đổ và trở thành tàn dư rồi chết hẳn.

Vấn đề sụp đổ của nền “đạo vừa vừa” là do chính tín đồ, người sáng lập, bộ máy quản lý… gọi chung là nhân dân Cồn Phụng; là tự thân nền đạo, không có sự can thiệp nào khác từ bên ngoài.

Đây là một mô hình có giá trị khoa học xã hội, do tác giả sáng tạo nên để tìm hiểu tôn giáo và các mối quan hệ phức tạp của nó trong điều kiện loại bỏ vai trò nhà nước. Không có sự quản lý của nhà nước, xứ đạo sẽ đi lại từ đầu mô hình phát triển của loài người từ hữu thần đến vô thần và cuối cùng, nhân dân tự quyết theo con đường vô định nhiều rủi ro…

Góc nhìn từ Hoa Kỳ

Đoạn bản dịch bìa 4 cuốn “A glorious Dream”: “… Bóc tách những phức tạp của nhân bản và đức tin, tiểu thuyết này thêu nên một tấm thảm của sự khám phá triết học, chính trị, văn chương và tôn giáo cộng hưởng sâu sắc trong lòng người đọc.”

Bìa 4 của sách “A glorious Dream”

Đa diện

Ánh sáng tự nhiên là tổng hợp của vô vàn màu, nhưng chắc chắn nó không là màu trắng. Chỉ cần có một lăng kính để phân tích ánh sáng ra nhiều màu. Bút pháp khiến tác phẩm hấp dẫn: hiện thực chủ quan, tái hiện cuộc sống tự nhiên trong mô hình (lăng kính) giống như thật.  

VỀ TÊN GỌI TIỂU THUYẾT

Nhà văn Nguyễn Trường đặt tựa đề "Mộng đế vương" có nghĩa là làm "Mộng" làm "đế" của "vương" tạm hiểu là vua của vua và do đó ông Đạo Dừa cùng lúc ham muốn:

- Làm vua vương quốc Cồn Phụng.

- Làm thủ lĩnh tinh thần của người dân Cồn Phụng

- Làm người khai sáng đạo trí tuệ của Pháp và người Việt Nam.

Tổng hợp lại là là muốn trở thành thánh sống của người dân Việt Nam.

***

Bằng công sức lấy tư liệu, chắt lọc; kết hợp nghiên cứu các tôn giáo khác trong nước và trên thế giới, gắn cảm nhận về các vấn đề chính trị xã hội qua các thời kỳ biến động, … tác giả cho ta bức tranh sống động, giống như tự nhiên, về một xã hội tự do, tự thân, không có sự quản lý của Nhà nước… mà ta gọi là hấp dẫn.

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 1 năm 2024
LTH

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm