TIN TỨC

Khối đa diện “Mộng đế vương”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-01-08 21:50:22
mail facebook google pos stwis
2004 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

Nhà xuất bản Book Writer Corner (Hoa Kỳ) mới ấn bản tiểu thuyết “A glorious Dream - NGUYEN TRUONG” Mã số ISBN: 978-0-99-702549-1. Sách dầy 199 trang; phát hành qua 17 hệ thống phân phối sách: AMAZON, APPLE BOOKS,...

Bìa sách dịch ra Tiếng Anh

“A glorious Dream” dịch từ tiểu thuyết “Mộng đế Vương”, tác giả Nguyễn Trường, NXB Phụ nữ tái bản năm 2019, Mã số ISBN: 978-604-56-6502-2.

Bìa Tiểu thuyết Mộng Đế Vương

Sinh thời, nhà văn Nguyễn Khải chưa bình tác phẩm nào của nhà văn khác. Vào năm 2000, khi biết mình sắp về cỏi vĩnh hằng, ông có lời bình trước cho tái bản tiểu thuyết “MỘNG ĐẾ VƯƠNG”. Tôi trích lại:

Đề tài đã hay, câu chuyện lại kỳ dị, hấp dẫn, có cả cái cười lẫn nước mắt, do cuộc sống nhiều màu vẻ đã tạo ra chứ không do người viết bịa ra. Bịa thế nào được những nhân vật, cảnh ngộ, tình tiết sống động đến thế!” trang 7. Ông kết lại “Chưa được đọc đầy đủ một cuốn tiểu thuyết đã được viết lại mà dám viết bài giới thiệu với bạn đọc là sao? Là do Nguyễn Trường tin lời tôi nói rằng năm 2002 rất có thể tôi phải giã biệt bạn bè, nêu yêu cầu tôi cứ viết trước, theo cái cảm nhận tổng thể của bản in lần đầu, cũng là lưu lại một chút tình với người bạn vong niên.” Trang 9 tiểu thuyết Mộng Đế Vương, Nhà xuất bản Phụ nữ, năm 2019 tái bản có sửa chữa, mã số ISBN: 978-604-56-5865-9.

***

Lấy bối cảnh xảy ra ở Cồn Phụng, một cái cồn nhỏ như một hòn đảo nổi lên giữa sông Tiền Giang hồi những năm 60- 70 của thế kỷ 20, có một ông đạo Dừa tên là Nguyễn Thành Nam đã lôi kéo được gần triệu tín đồ theo đạo, lấy Cồn Phụng làm “quốc gia” riêng. Đạo của ông cũng rất lạ, kết hợp giữa đạo Phật lẫn đạo Thiên Chúa, thành đạo Vừa Vừa, nhưng vì ông sống ở xứ dừa, lại chỉ dùng dừa làm thức ăn, nước uống nên người dân gọi đạo của ông là đạo Dừa. Giáo lý của ông cũng mù mờ, hành xử của ông nhiều khi rất hài hước. Ông ôm mộng giải quyết cuộc chiến tranh giữa người Mỹ và người Việt băng lý thuyết “Bất chiến tự nhiên thành” nên ông luôn hành động làm sao cho các bên chọn ông làm trung tâm hòa giải quốc tế để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Bởi thế ông đã nhiều lần tìm đường ra Hà Nội để gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, thuyết phục Cụ cho ông đứng ra dàn xếp cuộc chiến tranh, vãn hồi hòa bình. Nhiều lần ông tìm đến tòa đại sứ Mỹ, gặp đại sứ Bân-cơ, rồi gặp Tổng thống Việt Nam Cộng hòa như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, phó Tổng thống miền Nam Nguyễn Cao Kỳ, để ông đứng ra làm trung tâm hòa giải, đem lại hòa bình cho Việt Nam. Thậm chí ông nộp tiền, nôp đơn ra ứng cử Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Bởi đầu óc lẫn thẩn, hành xử ngô nghê nên những việc làm của ông khá hài hước. Tuy nhiên ông có lòng yêu nước, tu hành nghiêm túc nên những cố gắng của ông có khi thành công trong ngắn hạn. Điều kỳ lạ là ông cai quản cái vương quốc của ông nửa thần thánh, nửa bạo chúa, hay vì sự lẫn thẩn của ông là mảnh đất màu mỡ cho sự hà khắc của độc tài nảy nở và phát triển, bóp nghẹt quyền sống, quyền tự do của nhân dân Cồn Phụng.

***

Mọi hiện tượng, sự vật tồn tại, vận động trong hữu hạn của không gian và thời gian.

1. Không gian

Nhà văn Nguyễn Trường chọn xứ đạo ở Cồn Phụng của ông Nguyễn Thành Nam, đạo vừa vừa, gọi là Đạo Dừa: gói gọn trong một vùng đất nhỏ, có số lượng tín đồ lúc cao điểm lên đến triệu người, ngang bằng với các tôn giáo khác ở nước ta trong cùng thời điểm; cô đặc trong diện tích nhỏ bé với mật độ dân số cao nhất thế giới, làm nhanh chóng nảy sinh những vấn đề sinh tồn vốn gay gắt…

2. Thời gian

Đạo Dừa tồn tại trong ba thập niên, không ngắn, không dài; có đầy đủ các giai đoạn của một nền đạo phải kinh qua: phát sinh, phát triển và tiêu vong trong đời một giáo chủ, lý do để nó suy sụp vì đời sau là không có, khiến cho tính liên tục của triết lý phát triển và tiêu vong của nó rất cao.

Từ không thành có rồi đến lúc không phục vụ được lợi ích trước mắt của tín đồ, chính họ khai tử nền đạo, chỉ còn tàn dư là những ngày cuối đời của ông Nguyễn Thành Nam với biến tướng đạo bất tạo con và cũng tiêu vong khi ông mất.

3. Tư tưởng

Tác giả khai thác tiểu sử bản thân Nguyễn Thành Nam du học ở Pháp trở về, đến Pháp, quê hương của tư tưởng Cộng Hòa. So với người đương thời, anh có nhiều kiến thức hiện đại hơn. Tác giả hư cấu cho Nam ngẫu nhiên vào Nhất dạ đế vương để khám phá thiên bẩm làm vua của mình. Từ đây, con người hiện đại, ảnh hưởng của tư tưởng khai sáng, tư bản bị lẫn lộn với tư tưởng phong kiến và bị lấn át bằng tham vọng quyền lực. Do kết hợp đông tây một cách thiếu phủ định kế thừa nên phát triển tự nhiên theo cái cách mà chúng ta cho là ngớ ngẩn. Nhưng giả sử Nam thành công, có thể chúng ta lại dùng cách nhìn khác, gọt giũa tư liệu để cho ra hình ảnh khác, là vầng hào quang sáng chói chẳng hạn…

4. Tôn giáo

Nam sử dụng tôn giáo cho mục đích tạo quyền lực. Tôn giáo cần tín đồ. Khổ công tầm sư học đạo để tạo ra triết lý cho nền đạo của mình, tu luyện, tịnh khẩu cả chục năm trời. Người sáng lập ra đạo rất cần có nhiều tín đồ. Để có tín đồ nhanh nhất là dùng các biện pháp mê tín. Những người hành nghề mê tính dị đoan cần tôn giáo. Họ lợi dụng nhau. Ông thầy bói đồng hành cùng Nam trong quá trình xây dựng niềm tin. Vai trò ông thầy bói rất quan trọng, cho tới lúc ông tổ chức ra sự kiện xuống hang Bác vật Lưu Văn Lang khám phá để Nguyễn Thành Nam ngộ đạo. Mối quan hệ giữa tôn giáo và thần học, mê tín dị đoan là ruột thịt khi cần phát triển và duy trì nền đạo. Ông Đạo Dừa ở đỉnh cao quyền lực và sự ngưỡng mộ của tín đồ, một phần do ông thầy bói mất, những tưởng hào quang là tự thân mình có, Nguyễn Thành Nam quên đi vai trò của mê tín dị đoan nên bắt đầu xuất hiện những rạn nứt…

5. Quản trị nền đạo

Tôn giáo phải quản lý tín đồ và tổ chức các hoạt động của nó. Chính quyền Việt Nam cộng hòa buông lõng quản lý khu vực Cồn Phụng, buộc ông Đạo Dừa phải lập ra nhà nước để quản lý dân chúng; để có nhiều thời gian tham thiền, nhập định... Đây là lĩnh vực chính trị, khó có tiếng nói chung với giới chức sắc tôn giáo. Được ông Đạo Dừa ban chức (bổ nhiệm); ông Lý tổ chức bộ máy nhà nước tại Cồn Phụng. Bộ máy đó có cách quản lý khác với ông Đạo Dừa và dần đi đến mâu thuẫn quyền lợi. Tôn giáo cần phải có sự quản lý của nhà nước, tức là của ông Lý. Nhưng vì mới thoát thai từ bộ máy tôn giáo mà hầu hết người dân là tín đồ, để thâu tóm được quyền lực về tay nhà nước, ông Lý cần có thời gian sống cộng sinh chờ đến lúc trưởng thành.

Tác động tương hỗ từ chiều ngược lại, buộc ông Đạo Dừa phải chấp nhận thực tế đã có nhà nước, ông phải chia quyền chứ không phải ông muốn buông dần quyền lực. Ông có thể lợi dụng nhà nước để tăng ảnh hưởng lên tín đồ chứ không thể đảo ngược tiến trình của vương quốc Cồn Phụng, càng không thể tạo thêm một thiết chế nữa đứng trên nhà nước. Và do không biết cách quản lý, tự thân ông Đạo Dừa làm các vấn đề xã hội nhanh chóng nảy sinh theo hướng tự diệt…

6. Xã hội Cồn Phụng

Khi ra khỏi trái đất, loài người hiểu: không có thứ ánh sáng nhân tạo nào giống với ánh sáng tự nhiên, vì nó là kết hợp hàng tỷ tỷ ngôi sao rực sáng trong vũ trụ và nó đến với ta bằng vô số những khoảng cách thời gian, như ánh mặt trời từ điểm xuất phát đến ta mất 8 phút, nhưng có những tia sáng đã đi hàng triệu năm mới đến được trái đất và hòa quyện vào các loại ánh sáng khác để cho ra thứ ánh sáng muôn màu khi phân tích quang phổ.

Do được nuôi dưỡng bằng nguồn ánh sáng tự nhiên, xã hội loài người có điểm tương đồng, con người đến từ mọi nguồn, mọi nơi, mọi lúc, không đồng đều và không thống nhất. Xã hội Cồn Phụng, được ông Lý cai quản hà khắc, nhưng không vì thế mà mọi người giống nhau như một và có cùng đức tin. Nó không biệt lập hoàn toàn do đó không thể ngăn sông cấm chợ, không thể bế quan tỏa cảng.

Người dân đứng lên đấu tranh đòi tự do hóa tàu thuyền qua lại Cồn Phụng và các vấn đề kinh tế khác nảy sinh cũng là xuất phát từ nhu cầu phải có các mối quan hệ giữa trong và ngoài để phát triển. Nhu cầu tự do tư tưởng và lợi dụng nhu cầu này phát sinh theo...

7. Chính trị

Đan xen vào đó là các vấn đề chính trị do ông Đạo Dừa gây ra như ra Bắc gặp cụ Hồ, tranh cử Tổng thống, mua sắm vũ khí phục vụ đấu đá…

Tệ nạn tham nhũng của bộ máy do ông Lý đứng đầu… đòi hỏi chi tiêu cho bộ máy nhà nước và bộ máy tôn giáo đều lấy từ nền kinh tế Cồn Phụng… Nhà nước của ông Lý phải bóc lột dân nhiều hơn nhằm cung phụng cho nền đạo và cho bộ máy, cho cá nhân, cho cả những tham vọng của tất cả các bên... Trớ trêu, người đứng đầu vương quốc Cồn Phụng đòi hỏi phải có một cuộc sống công bằng, không áp bức bóc lột nhân dân mà không có giải pháp.

Tác giả đã dựng lại một xã hội phức tạp, đầy rẩy mâu thuẫn, bất công, đấu đá nội bộ bất phân thắng bại, do không phân định rõ đúng sai, minh bạch. Một xã hội mang màu sắc không tưởng do pha lẫn thời đại hồng hoang cai quản bằng niềm tin: tôn giáo, mê tín, dị đoan trong thiết chế phong kiến với hệ tư tưởng cộng hòa ở bên ngoài tràn vào. Bản thân ông Đạo Dừa không làm được việc lớn: “không chiến tự nhiên thành”: hòa bình cho dân tộc và thế giới nhằm vinh danh nền đạo để phát triển và tồn tại lâu dài. Ông để họ lầm than khốn khổ dưới bộ máy do ông tạo ra và đang dần tước đoạt quyền lực của ông, biến ông thành một thứ bù nhìn. Tổng kết và phát triển giáo lý cho nền đạo, cũng không làm được.

Hậu quả là một bộ phận thanh niên, động lực phát triển của xã hội, lợi dụng nền đạo của ông để tránh quân dịch, tránh đạn bom và chờ ngày hòa bình lập lại với thái độ bất cần do ai kiến tạo nên. Số này ngày càng đông và trở thành lực lượng chính của nhân dân, lật nhào tất cả công sức của ông Đạo Dừa, ông Thầy bói, ông Lý, cô Diệu Ứng (một sáng tạo của nhà văn Nguyễn Trường, đại diện cho trí tuệ nhân dân sử dụng vào mục đích tôn giáo), chỉ vì tất cả họ không vì nhân dân.

8. Quan hệ nhà nước và tôn giáo

Tiểu thuyết dựng lên vòng đời của một tôn giáo, từ phát sinh, phát triển, nảy sinh mâu thuẫn từ bên trong, sụp đổ và trở thành tàn dư rồi chết hẳn.

Vấn đề sụp đổ của nền “đạo vừa vừa” là do chính tín đồ, người sáng lập, bộ máy quản lý… gọi chung là nhân dân Cồn Phụng; là tự thân nền đạo, không có sự can thiệp nào khác từ bên ngoài.

Đây là một mô hình có giá trị khoa học xã hội, do tác giả sáng tạo nên để tìm hiểu tôn giáo và các mối quan hệ phức tạp của nó trong điều kiện loại bỏ vai trò nhà nước. Không có sự quản lý của nhà nước, xứ đạo sẽ đi lại từ đầu mô hình phát triển của loài người từ hữu thần đến vô thần và cuối cùng, nhân dân tự quyết theo con đường vô định nhiều rủi ro…

Góc nhìn từ Hoa Kỳ

Đoạn bản dịch bìa 4 cuốn “A glorious Dream”: “… Bóc tách những phức tạp của nhân bản và đức tin, tiểu thuyết này thêu nên một tấm thảm của sự khám phá triết học, chính trị, văn chương và tôn giáo cộng hưởng sâu sắc trong lòng người đọc.”

Bìa 4 của sách “A glorious Dream”

Đa diện

Ánh sáng tự nhiên là tổng hợp của vô vàn màu, nhưng chắc chắn nó không là màu trắng. Chỉ cần có một lăng kính để phân tích ánh sáng ra nhiều màu. Bút pháp khiến tác phẩm hấp dẫn: hiện thực chủ quan, tái hiện cuộc sống tự nhiên trong mô hình (lăng kính) giống như thật.  

VỀ TÊN GỌI TIỂU THUYẾT

Nhà văn Nguyễn Trường đặt tựa đề "Mộng đế vương" có nghĩa là làm "Mộng" làm "đế" của "vương" tạm hiểu là vua của vua và do đó ông Đạo Dừa cùng lúc ham muốn:

- Làm vua vương quốc Cồn Phụng.

- Làm thủ lĩnh tinh thần của người dân Cồn Phụng

- Làm người khai sáng đạo trí tuệ của Pháp và người Việt Nam.

Tổng hợp lại là là muốn trở thành thánh sống của người dân Việt Nam.

***

Bằng công sức lấy tư liệu, chắt lọc; kết hợp nghiên cứu các tôn giáo khác trong nước và trên thế giới, gắn cảm nhận về các vấn đề chính trị xã hội qua các thời kỳ biến động, … tác giả cho ta bức tranh sống động, giống như tự nhiên, về một xã hội tự do, tự thân, không có sự quản lý của Nhà nước… mà ta gọi là hấp dẫn.

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 1 năm 2024
LTH

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm