TIN TỨC

Một vọng âm quá khứ hào hùng nhưng lắm đau thương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-03-16 05:42:39
mail facebook google pos stwis
4069 lượt xem

TUỆ MỸ

(Đọc “Hòa âm đêm”, Nxb Hội Nhà văn, 2024 của Trương Tuyết Mai)

Đọc “Hòa âm đêm” (Nxb Hội Nhà văn, 2024) của nhạc sĩ, thi sĩ Trương Tuyết Mai, bạn đọc tưởng chừng như nghe được muôn vàn âm thanh của cuộc sống. Là tiếng thiên nhiên (tiếng gió, tiếng lá, tiếng sóng, tiếng trăng…), là tiếng đời lăn náo nức. Tiếng vui lẫn tiếng buồn. Tiếng hôm nay và tiếng của ngày xưa. Tất cả như “hòa âm” vang vọng dội vào trái tim của nữ sĩ. Trong muôn vàn thứ tiếng ấy, có lẽ tiếng vọng về từ quá khứ là âm sắc đặc biệt vọng động tâm tư tác giả.

Đó là tiếng vọng hào hùng nhưng lắm đau thương của dân tộc ta trong cuộc đấu tranh vệ quốc vĩ đại. Cuộc kháng chiến chống Mỹ với mục tiêu Giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước kéo dài mấy mươi năm là bản anh hùng ca mà dân tộc ta đã viết bằng máu và nước mắt. Nói đến con đường thống nhất Bắc Nam là phải nói đến con đường Trường Sơn huyền thoại, là con đường huyết mạch cho miền Bắc chi viện sức người sức của để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trên con đường này, ngày đêm rầm rập đoàn quân Nam tiến và đoàn Thanh niên Xung phong đi lấp hố bom mở đường. Chính vì thế, Trường Sơn cũng chính là trọng điểm bắn phá của kẻ thù. Trương Tuyết Mai quê ở Phú Yên, thời thiếu nữ theo cha tập kết ra Bắc. Ôm hoài bão vào Nam giải phóng miền Nam nhưng mãi đến năm 1974 chị mới thực hiện được khát vọng này. Nghe và trải nghiệm những gian khổ Trường Sơn, chị rất thấm thía cái giá đắt phải trả cho Độc lập Tự do. Giờ đây, sống trong hòa bình, ký ức đau thương một thời chống Mỹ như thường trực sống lại trong lòng chị. Nên, khi nghe tiếng chim Đồi Thơm hót mà “Những cánh rừng xa/ Bỗng chấp chới hiện về” (Ơi chim đồi thơm). Những cánh rừng xa ấy chính là những cánh rừng Trường Sơn. Nơi “Đâu chỉ có sống chết/ Treo sợi tóc từng ngày”, “Đâu chỉ sốt rét/ Giữa rừng sâu heo hút/ Bần bật run lên cánh võng/ Rồi tàn hơi”. Vâng, đâu chỉ tử sinh do bom rơi đạn vãi mà còn do sốt rét rừng, do thiếu ăn, thiếu uống “quay quắt đói lòng”. Ký ức ấy sao có thể quên, nhất là đối với người trong cuộc. Đồng đội chị chẳng phải là những cô Thanh Niên Xung phong? Chẳng phải là người lính lái xe Trường Sơn? Đó là lý do khi đã “Ngần ấy năm xa/ Mà lòng ta mãi tha thiết/ Biển cạn non mòn/ Vẫn yêu lắm- Lính Trường Sơn”. Yêu “Lính Trường Sơn” bằng một tình yêu “tha thiết” dù “Biển cạn non mòn” cũng không hề đổi thay. Một tình yêu son sắt thủy chung của những con người cùng chí hướng, cùng lý tưởng nhưng trên hết là tình yêu, lòng khâm phục và hàm ơn đối với những con người sắn sàng lấy máu của mình để tô thắm màu cờ Tổ quốc.

Một trong những trọng điểm bắn phá của kẻ địch còn phải kể đến dòng sông Thạch Hãn. Bởi dòng sông này là con đường huyết mạch bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Dòng sông này cũng là nơi “nằm lại” vĩnh hằng của biết bao anh hùng tuổi trẻ. Viết về Thạch Hãn đã có bốn dòng thơ khắc đá của Lê Bá Dương nhưng có ai ngăn được cảm khái dâng trào của người cầm bút khi “nghĩ đến” nơi này. Trương Tuyết Mai cũng không ngăn được dòng nước mắt khi nhớ lại ký ức bi tráng mà rất đỗi hào hùng gắn với dòng Thạch Hãn. Thi sĩ đã “Thì thầm cùngThạch Hãn (*).

Thạch Hãn ơi! Thạch Hãn!/ Xin mách bảo dùm tôi/ nơi anh nằm có ấm/ hay sóng gió tơi bời

Sông ơi nhè nhẹ thôi/ hãy ru anh dào dạt/ Đừng cuộn xoáy dâng trào/ đừng cồn cào quặn thắt

Chỉ là “thì thầm” thôi nhưng tiếng gọi có sức vọng động xoáy vào tận tim gan. Đau lắm, “quặn thắt” lắm. Cuộc chiến đã kết thúc hơn nửa thế kỷ rồi nhưng đau thương, mất mát như vẫn còn hiển hiện. Màu nước dòng Thạch Hãn hôm nay “xanh” hơn, cuộc sống của ta ngày nay “xanh” hơn bởi có bao “tuổi hai mươi” đã từng lấy máu của mình “nhuộm đỏ”.

   Đâu ngờ lòng tôi vẫn hừng hực lửa

   Những năm tháng đau thương

  Vẫn không nguôi nhớ…

     (Yêu nước là đặc quyền của người Việt tôi)

Những năm tháng đau thương” đó là năm tháng nào? Rất rõ rành, khúc chiết, Trương Tuyết Mai tường thuật lại:

“Ngày ấy- mười bảy tháng Hai năm Bảy chin/ Một bầy thú dữ/ Với đầy đủ chiến tranh hiện đại/ Sáu mươi vạn giặc Tàu/ ngang ngược tràn qua”.

Thì ra, hết giặc Mỹ lại giặc Tàu. Không phải giặcTàu của hơn nghìn năm trước mà là giặc Tàu của thế kỷ XX lăm le đánh vào biên giới phía Bắc nước ta ngày 17/2/ 1979. Rất cụ thể rõ ràng về ngày tháng năm giặc Tàu “ngang ngược tràn qua” và cũng rất cụ thể về số lượng “sáu mươi vạn giặc Tàu”, quả là con số “biết nói” về mộng xâm lược của kẻ thù phía Bắc.  “Giặc phía Bắc nước ta đời đời hiểm độc”, đó là lời đúc kết của Trương Tuyết Mai dựa vào thực tế của lịch sử hàng nghìn năm ta đánh Tống, diệt Nguyên, bình Minh, đạp Thanh và cả hôm nay:

 “Chúng đâm Hoàng Sa, Trường Sa/ Đâm Gạc Ma sóng dậy/ Xúi Khơ Me Đỏ/ Đâm Tây Nam biên giới/ Máu dân lành/ Chảy thành suối thành sông…”

Đây chẳng phải là một bản cáo trạng đanh thép lên án tội ác của giặc Tàu. Là người yêu nước, đương nhiên không thể không sục sôi, căm hận và đương nhiên không thể không tuyên bố với kẻ thù rằng:

        -Chống giặc ngoại xâm vẫn nguyên bầu máu nóng

        Việt Nam tôi không chùn bước bao giờ

Rất khẳng khái, rất hào sảng. Tưởng như nghe đâu đây âm hưởng lời hỏi tội của tiền nhân “Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời” và lời kêu gọi kháng chiến của Bác Hồ “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Vì một lẽ dễ hiểu: Yêu nước là đặc quyền của người Việt tôi (*).

Biên giới Tây Nam- Việt Nam, nơi xảy ra vụ thảm sát Ba Chúc, một tội ác chiến tranh gây ra bởi chính quyền Khmer Đỏ cũng là một ký ức Trương Tuyết Mai không quên:

-Ba Chúc ơi, Ba Chúc/ bầm gan tím ruột nỗi đau sâu/ Ta nhất định tìm ra/ Kẻ thù giấu mặt.   (Chới với những bàn tay)

Tiếng gọi “Ba Chúc ơi, Ba Chúc!” trong nỗi thảng thốt bàng hoàng, đớn đau vô hạn. Chẳng phải đây là “nỗi đau sâu”? “Hàng ngàn người ngã xuống” chỉ trong vòng mươi ngày thôi sao chẳng “bầm gan tím ruột” cho được. Lý do bị thảm sát là gì mãi mãi là câu hỏi lớn “Mãi không thể hiểu vì sao”, vì kẻ thảm sát là “Kẻ thù giấu măt”. Kẻ thù thì “giấu mặt” còn chết chóc tang thương thì cứ phơi bày.

Đau thương, chết chóc đâu chỉ hiện diện lúc xảy ra chiến tranh mà hệ lụy của chiến tranh kéo dài không lường được. Đó là bi kịch chất độc da cam. Mượn “Lời ru(*) của người mẹ, thi sĩ  tái hiện bi kịch này:

  “À ơi à/ Con có nghe mẹ hát/ Ru những đôi mắt mở dáo dác/ Ru những cái đầu to/ Ngơ ngác vô hồn”.

  “Con có nghe mẹ hát/ Ru nỗi niềm cháy khát/ Linh nghiệm một phép màu/ Trả về cho các con/ Những hình hài nguyên vẹn”

Cũng viết về nỗi đau da cam, nhà thơ Lệ Thu (nhà thơ cùng thời với Trương Tuyết Mai) đã để cho người mẹ khấn cầu: “Tôi khấn lạy mười phương/ cầu cho con tôi mở mắt/ cầu cho con tôi mọc tay chân” và kêu cứu “Có ai cứu con tôi không/ hỡi nhân loại toàn cầu/ Đi-ô-xin là gì/ ai rải xuống đất này chi?/ làm cho con tôi không thành hình vóc/ chỉ cục thịt vô hồn làm sao sống giữa thế gian” (Mầm xanh của mẹ). Trương Tuyết Mai không van lạy cũng không kêu cứu hay hỏi tội ai mà chỉ tin vào “Linh nghiệm một phép màu/ Trả về cho các con/ Những hình hài nguyên vẹn”. Phép màu hẳn không xuất hiện giữa thế gian đầy rẫy tội đồ nhưng mẹ vẫn “cháy khát” niềm tin vào thần linh bởi không còn con đường nào khác để cứu con mình. Mẹ ru con nhưng cũng chính là ru lòng mình vậy. Ru một niềm tin không bao giờ thành hiện thực. Lúc cất lên tiếng ru thê thiết cũng là lúc mẹ đứng trên đỉnh của nỗi đớn đau, tuyệt vọng, hãi hùng. Tiếng “À ơi à” như cắt cứa tim gan.

Khi xem bức tranh “Ôm trọn nỗi đau” của họa sĩ Trịnh Thanh Tùng, hình ảnh người mẹ trong tranh “Giống như chiếc bóng/ bà ngậm ngùi cúi xuống/ Quàng tay ôm/ những đứa trẻ vô hồn” đã khiến cho “Người xem tranh-chôn chân -hóa đá”. Nếu nỗi đau người mẹ trong tranh được họa sĩ khắc nổi bằng sắc màu thì nỗi đau tê điếng lòng của người xem tranh được Trương Tuyết Mai để cho hình ảnh thơ “chôn chân- hóa đá” cất tiếng. Bởi người xem tranh đã nhập thân vào nhân vật trong tranh, lấy nỗi đau của nhân vật làm nỗi đau chính mình. Và, bởi người xem tranh cũng mang trái tim người mẹ. Rõ ràng, đau thương do chiến tranh mang lại không chừa một ai nhưng có lẽ người gánh chịu nhiều nhất vẫn là người mẹ

Còn và còn rất nhiều bi kịch do chiến tranh mang lại không sao kể hết. Nữ sĩ chỉ có “Điều ước giản dị” (*) này: “Cho thế giới yên lành sau trước/ Hiền hòa chân thiện/ Không súng gươm”.

Gọi “Hòa âm đêm” là bài ca khát vọng? Đúng. Khát vọng tình yêu đôi lứa hạnh phúc viên mãn. Khát vọng tìm về ngày xưa có bóng dáng mẹ hiền, có tuổi thơ hồn nhiên. Khát vọng cho bao cuộc đời, bao phận người thoát khỏi bóng đêm, sống đời hạnh phúc. Khát vọng xóa bỏ bất công, xua tan cái ác, cái xấu. …Nhưng có phải khát vọng nào cũng thực hiện được đâu khi thời gian khắc nghiệt cứ chảy trên phận người, khi mà mỗi cá nhân không đủ lực. Nên, bài ca này điệu buồn nhiều hơn điệu vui. Trong điệu buồn đó, ngòi bút Trương Tuyết Mai chạm đến ký ức chiến tranh. Mà nói đến chiến tranh là nói đến mất mát, đau thương, hy sinh, chết chóc tức là nói đến chuyện buồn. Nhưng Trương Tuyết Mai viết về chiến tranh không phải để buồn mà là để nhắc nhở mình đừng quên quá khứ đau thương của dân tộc, đừng quên cái giá đắt mà dân tộc ta phải trả cho Độc lập Tự do, để niềm tự hào dân tộc luôn chảy trong huyết quản mình. Biết ơn quá khứ, soi mình vào quá khứ của dân tộc để tôi rèn nhân cách, di dưỡng tinh thần, để mỗi bước đi của ta vào cuộc sống hôm nay thêm ý nghĩa, phải chăng đó là tâm niệm của nhà thơ? Đó cũng là đạo lý sống “Uống nước nhớ nguồn”. Lời nhắc nhở này là hành trang Trương Tuyết Mai mang theo bên mình trong hành trình “làm người” đầy kiêu hãnh. Đến nay, nhạc sĩ, thi sĩ Trương Tuyết Mai đã bước vào tuổi bát tuần mà vẫn không ngừng cống hiến cho đời bằng những sáng tạo nghệ thuật như lời chị thầm nhủ “Ta là ngọn đèn/ Cạn dầu/ Lụn bấc/ Chẳng còn gì/ Cũng mong cháy hết mình/ Dẫu không đủ sưởi trái tim/ Cũng ấm được bàn tay”.

 “Hòa âm đêm” là kết tinh của một trái tim biết nghe, biết nghĩ, biết thao thức cùng dân tộc mình của nữ sĩ Trương Tuyết Mai.

------

P/s : (*) là tên một số bài thơ trong tập thơ này.

Bình Định, 15/3/2025

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm