TIN TỨC

Một vọng âm quá khứ hào hùng nhưng lắm đau thương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-03-16 05:42:39
mail facebook google pos stwis
3856 lượt xem

TUỆ MỸ

(Đọc “Hòa âm đêm”, Nxb Hội Nhà văn, 2024 của Trương Tuyết Mai)

Đọc “Hòa âm đêm” (Nxb Hội Nhà văn, 2024) của nhạc sĩ, thi sĩ Trương Tuyết Mai, bạn đọc tưởng chừng như nghe được muôn vàn âm thanh của cuộc sống. Là tiếng thiên nhiên (tiếng gió, tiếng lá, tiếng sóng, tiếng trăng…), là tiếng đời lăn náo nức. Tiếng vui lẫn tiếng buồn. Tiếng hôm nay và tiếng của ngày xưa. Tất cả như “hòa âm” vang vọng dội vào trái tim của nữ sĩ. Trong muôn vàn thứ tiếng ấy, có lẽ tiếng vọng về từ quá khứ là âm sắc đặc biệt vọng động tâm tư tác giả.

Đó là tiếng vọng hào hùng nhưng lắm đau thương của dân tộc ta trong cuộc đấu tranh vệ quốc vĩ đại. Cuộc kháng chiến chống Mỹ với mục tiêu Giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước kéo dài mấy mươi năm là bản anh hùng ca mà dân tộc ta đã viết bằng máu và nước mắt. Nói đến con đường thống nhất Bắc Nam là phải nói đến con đường Trường Sơn huyền thoại, là con đường huyết mạch cho miền Bắc chi viện sức người sức của để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trên con đường này, ngày đêm rầm rập đoàn quân Nam tiến và đoàn Thanh niên Xung phong đi lấp hố bom mở đường. Chính vì thế, Trường Sơn cũng chính là trọng điểm bắn phá của kẻ thù. Trương Tuyết Mai quê ở Phú Yên, thời thiếu nữ theo cha tập kết ra Bắc. Ôm hoài bão vào Nam giải phóng miền Nam nhưng mãi đến năm 1974 chị mới thực hiện được khát vọng này. Nghe và trải nghiệm những gian khổ Trường Sơn, chị rất thấm thía cái giá đắt phải trả cho Độc lập Tự do. Giờ đây, sống trong hòa bình, ký ức đau thương một thời chống Mỹ như thường trực sống lại trong lòng chị. Nên, khi nghe tiếng chim Đồi Thơm hót mà “Những cánh rừng xa/ Bỗng chấp chới hiện về” (Ơi chim đồi thơm). Những cánh rừng xa ấy chính là những cánh rừng Trường Sơn. Nơi “Đâu chỉ có sống chết/ Treo sợi tóc từng ngày”, “Đâu chỉ sốt rét/ Giữa rừng sâu heo hút/ Bần bật run lên cánh võng/ Rồi tàn hơi”. Vâng, đâu chỉ tử sinh do bom rơi đạn vãi mà còn do sốt rét rừng, do thiếu ăn, thiếu uống “quay quắt đói lòng”. Ký ức ấy sao có thể quên, nhất là đối với người trong cuộc. Đồng đội chị chẳng phải là những cô Thanh Niên Xung phong? Chẳng phải là người lính lái xe Trường Sơn? Đó là lý do khi đã “Ngần ấy năm xa/ Mà lòng ta mãi tha thiết/ Biển cạn non mòn/ Vẫn yêu lắm- Lính Trường Sơn”. Yêu “Lính Trường Sơn” bằng một tình yêu “tha thiết” dù “Biển cạn non mòn” cũng không hề đổi thay. Một tình yêu son sắt thủy chung của những con người cùng chí hướng, cùng lý tưởng nhưng trên hết là tình yêu, lòng khâm phục và hàm ơn đối với những con người sắn sàng lấy máu của mình để tô thắm màu cờ Tổ quốc.

Một trong những trọng điểm bắn phá của kẻ địch còn phải kể đến dòng sông Thạch Hãn. Bởi dòng sông này là con đường huyết mạch bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Dòng sông này cũng là nơi “nằm lại” vĩnh hằng của biết bao anh hùng tuổi trẻ. Viết về Thạch Hãn đã có bốn dòng thơ khắc đá của Lê Bá Dương nhưng có ai ngăn được cảm khái dâng trào của người cầm bút khi “nghĩ đến” nơi này. Trương Tuyết Mai cũng không ngăn được dòng nước mắt khi nhớ lại ký ức bi tráng mà rất đỗi hào hùng gắn với dòng Thạch Hãn. Thi sĩ đã “Thì thầm cùngThạch Hãn (*).

Thạch Hãn ơi! Thạch Hãn!/ Xin mách bảo dùm tôi/ nơi anh nằm có ấm/ hay sóng gió tơi bời

Sông ơi nhè nhẹ thôi/ hãy ru anh dào dạt/ Đừng cuộn xoáy dâng trào/ đừng cồn cào quặn thắt

Chỉ là “thì thầm” thôi nhưng tiếng gọi có sức vọng động xoáy vào tận tim gan. Đau lắm, “quặn thắt” lắm. Cuộc chiến đã kết thúc hơn nửa thế kỷ rồi nhưng đau thương, mất mát như vẫn còn hiển hiện. Màu nước dòng Thạch Hãn hôm nay “xanh” hơn, cuộc sống của ta ngày nay “xanh” hơn bởi có bao “tuổi hai mươi” đã từng lấy máu của mình “nhuộm đỏ”.

   Đâu ngờ lòng tôi vẫn hừng hực lửa

   Những năm tháng đau thương

  Vẫn không nguôi nhớ…

     (Yêu nước là đặc quyền của người Việt tôi)

Những năm tháng đau thương” đó là năm tháng nào? Rất rõ rành, khúc chiết, Trương Tuyết Mai tường thuật lại:

“Ngày ấy- mười bảy tháng Hai năm Bảy chin/ Một bầy thú dữ/ Với đầy đủ chiến tranh hiện đại/ Sáu mươi vạn giặc Tàu/ ngang ngược tràn qua”.

Thì ra, hết giặc Mỹ lại giặc Tàu. Không phải giặcTàu của hơn nghìn năm trước mà là giặc Tàu của thế kỷ XX lăm le đánh vào biên giới phía Bắc nước ta ngày 17/2/ 1979. Rất cụ thể rõ ràng về ngày tháng năm giặc Tàu “ngang ngược tràn qua” và cũng rất cụ thể về số lượng “sáu mươi vạn giặc Tàu”, quả là con số “biết nói” về mộng xâm lược của kẻ thù phía Bắc.  “Giặc phía Bắc nước ta đời đời hiểm độc”, đó là lời đúc kết của Trương Tuyết Mai dựa vào thực tế của lịch sử hàng nghìn năm ta đánh Tống, diệt Nguyên, bình Minh, đạp Thanh và cả hôm nay:

 “Chúng đâm Hoàng Sa, Trường Sa/ Đâm Gạc Ma sóng dậy/ Xúi Khơ Me Đỏ/ Đâm Tây Nam biên giới/ Máu dân lành/ Chảy thành suối thành sông…”

Đây chẳng phải là một bản cáo trạng đanh thép lên án tội ác của giặc Tàu. Là người yêu nước, đương nhiên không thể không sục sôi, căm hận và đương nhiên không thể không tuyên bố với kẻ thù rằng:

        -Chống giặc ngoại xâm vẫn nguyên bầu máu nóng

        Việt Nam tôi không chùn bước bao giờ

Rất khẳng khái, rất hào sảng. Tưởng như nghe đâu đây âm hưởng lời hỏi tội của tiền nhân “Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời” và lời kêu gọi kháng chiến của Bác Hồ “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Vì một lẽ dễ hiểu: Yêu nước là đặc quyền của người Việt tôi (*).

Biên giới Tây Nam- Việt Nam, nơi xảy ra vụ thảm sát Ba Chúc, một tội ác chiến tranh gây ra bởi chính quyền Khmer Đỏ cũng là một ký ức Trương Tuyết Mai không quên:

-Ba Chúc ơi, Ba Chúc/ bầm gan tím ruột nỗi đau sâu/ Ta nhất định tìm ra/ Kẻ thù giấu mặt.   (Chới với những bàn tay)

Tiếng gọi “Ba Chúc ơi, Ba Chúc!” trong nỗi thảng thốt bàng hoàng, đớn đau vô hạn. Chẳng phải đây là “nỗi đau sâu”? “Hàng ngàn người ngã xuống” chỉ trong vòng mươi ngày thôi sao chẳng “bầm gan tím ruột” cho được. Lý do bị thảm sát là gì mãi mãi là câu hỏi lớn “Mãi không thể hiểu vì sao”, vì kẻ thảm sát là “Kẻ thù giấu măt”. Kẻ thù thì “giấu mặt” còn chết chóc tang thương thì cứ phơi bày.

Đau thương, chết chóc đâu chỉ hiện diện lúc xảy ra chiến tranh mà hệ lụy của chiến tranh kéo dài không lường được. Đó là bi kịch chất độc da cam. Mượn “Lời ru(*) của người mẹ, thi sĩ  tái hiện bi kịch này:

  “À ơi à/ Con có nghe mẹ hát/ Ru những đôi mắt mở dáo dác/ Ru những cái đầu to/ Ngơ ngác vô hồn”.

  “Con có nghe mẹ hát/ Ru nỗi niềm cháy khát/ Linh nghiệm một phép màu/ Trả về cho các con/ Những hình hài nguyên vẹn”

Cũng viết về nỗi đau da cam, nhà thơ Lệ Thu (nhà thơ cùng thời với Trương Tuyết Mai) đã để cho người mẹ khấn cầu: “Tôi khấn lạy mười phương/ cầu cho con tôi mở mắt/ cầu cho con tôi mọc tay chân” và kêu cứu “Có ai cứu con tôi không/ hỡi nhân loại toàn cầu/ Đi-ô-xin là gì/ ai rải xuống đất này chi?/ làm cho con tôi không thành hình vóc/ chỉ cục thịt vô hồn làm sao sống giữa thế gian” (Mầm xanh của mẹ). Trương Tuyết Mai không van lạy cũng không kêu cứu hay hỏi tội ai mà chỉ tin vào “Linh nghiệm một phép màu/ Trả về cho các con/ Những hình hài nguyên vẹn”. Phép màu hẳn không xuất hiện giữa thế gian đầy rẫy tội đồ nhưng mẹ vẫn “cháy khát” niềm tin vào thần linh bởi không còn con đường nào khác để cứu con mình. Mẹ ru con nhưng cũng chính là ru lòng mình vậy. Ru một niềm tin không bao giờ thành hiện thực. Lúc cất lên tiếng ru thê thiết cũng là lúc mẹ đứng trên đỉnh của nỗi đớn đau, tuyệt vọng, hãi hùng. Tiếng “À ơi à” như cắt cứa tim gan.

Khi xem bức tranh “Ôm trọn nỗi đau” của họa sĩ Trịnh Thanh Tùng, hình ảnh người mẹ trong tranh “Giống như chiếc bóng/ bà ngậm ngùi cúi xuống/ Quàng tay ôm/ những đứa trẻ vô hồn” đã khiến cho “Người xem tranh-chôn chân -hóa đá”. Nếu nỗi đau người mẹ trong tranh được họa sĩ khắc nổi bằng sắc màu thì nỗi đau tê điếng lòng của người xem tranh được Trương Tuyết Mai để cho hình ảnh thơ “chôn chân- hóa đá” cất tiếng. Bởi người xem tranh đã nhập thân vào nhân vật trong tranh, lấy nỗi đau của nhân vật làm nỗi đau chính mình. Và, bởi người xem tranh cũng mang trái tim người mẹ. Rõ ràng, đau thương do chiến tranh mang lại không chừa một ai nhưng có lẽ người gánh chịu nhiều nhất vẫn là người mẹ

Còn và còn rất nhiều bi kịch do chiến tranh mang lại không sao kể hết. Nữ sĩ chỉ có “Điều ước giản dị” (*) này: “Cho thế giới yên lành sau trước/ Hiền hòa chân thiện/ Không súng gươm”.

Gọi “Hòa âm đêm” là bài ca khát vọng? Đúng. Khát vọng tình yêu đôi lứa hạnh phúc viên mãn. Khát vọng tìm về ngày xưa có bóng dáng mẹ hiền, có tuổi thơ hồn nhiên. Khát vọng cho bao cuộc đời, bao phận người thoát khỏi bóng đêm, sống đời hạnh phúc. Khát vọng xóa bỏ bất công, xua tan cái ác, cái xấu. …Nhưng có phải khát vọng nào cũng thực hiện được đâu khi thời gian khắc nghiệt cứ chảy trên phận người, khi mà mỗi cá nhân không đủ lực. Nên, bài ca này điệu buồn nhiều hơn điệu vui. Trong điệu buồn đó, ngòi bút Trương Tuyết Mai chạm đến ký ức chiến tranh. Mà nói đến chiến tranh là nói đến mất mát, đau thương, hy sinh, chết chóc tức là nói đến chuyện buồn. Nhưng Trương Tuyết Mai viết về chiến tranh không phải để buồn mà là để nhắc nhở mình đừng quên quá khứ đau thương của dân tộc, đừng quên cái giá đắt mà dân tộc ta phải trả cho Độc lập Tự do, để niềm tự hào dân tộc luôn chảy trong huyết quản mình. Biết ơn quá khứ, soi mình vào quá khứ của dân tộc để tôi rèn nhân cách, di dưỡng tinh thần, để mỗi bước đi của ta vào cuộc sống hôm nay thêm ý nghĩa, phải chăng đó là tâm niệm của nhà thơ? Đó cũng là đạo lý sống “Uống nước nhớ nguồn”. Lời nhắc nhở này là hành trang Trương Tuyết Mai mang theo bên mình trong hành trình “làm người” đầy kiêu hãnh. Đến nay, nhạc sĩ, thi sĩ Trương Tuyết Mai đã bước vào tuổi bát tuần mà vẫn không ngừng cống hiến cho đời bằng những sáng tạo nghệ thuật như lời chị thầm nhủ “Ta là ngọn đèn/ Cạn dầu/ Lụn bấc/ Chẳng còn gì/ Cũng mong cháy hết mình/ Dẫu không đủ sưởi trái tim/ Cũng ấm được bàn tay”.

 “Hòa âm đêm” là kết tinh của một trái tim biết nghe, biết nghĩ, biết thao thức cùng dân tộc mình của nữ sĩ Trương Tuyết Mai.

------

P/s : (*) là tên một số bài thơ trong tập thơ này.

Bình Định, 15/3/2025

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm