TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nghiên cứu Hồ Chủ Tịch càng sáng rõ hơn về thượng tướng Phùng Thế tài

Nghiên cứu Hồ Chủ Tịch càng sáng rõ hơn về thượng tướng Phùng Thế tài

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-05-25 16:27:51
mail facebook google pos stwis
1581 lượt xem

Nguyễn Thanh Tú

Tên bài viết này tôi định đặt là Tôi biết rõ hơn về Thượng tướng Phùng Thế Tài khi nghiên cứu về Bác Hồ để nhấn mạnh tới đối tượng chính nhưng ngẫm nghĩ những tâm sự của Bác Tài rất thần tượng Bác Hồ nên đặt lại như trên. Vả lại cũng đúng với công việc chính của tôi. Thôi thì cứ thật thà mà nói, biết gì nói vậy, cái chính là sự trung thực của người viết.

​

Thượng tướng Phùng Thế Tài cùng đại tướng Võ Nguyên Giáp (bên trái)

Không phải là khoe nhưng cũng phải nói ra để “bảo hiểm” cho nội dung trình bày dưới đây là tôi có dăm ba quyển sách nghiên cứu về Bác Hồ, trong đó có cuốn Hồ Chí Minh - Một tâm hồn nghệ sĩ có chủ đề khắc họa chân dung con người nghệ sĩ Bác Hồ. Thế nên ngoài văn bản do chính Bác Hồ viết thì một nhiệm vụ quan trọng nữa là đi tìm những nhận xét, cảm nghĩ, đánh giá của các đồng chí bên cạnh Bác. Mà Phùng Thế Tài thì không thể không đọc, và đọc nhiều người thì tự nhiên chân dung mỗi cá nhân, do có sự soi chiếu lẫn nhau nên hiện lên càng rõ. Lại có thuận lợi nữa là khi công tác tại Tổng cục II Bộ Quốc phòng tôi buộc phải đọc tài liệu Mật thám Pháp, phòng nhì Pháp, CIA... bằng tiếng Anh, Pháp nên không thiếu dữ liệu, sự kiện, chỉ sợ thiếu tài để khái quát sinh động mà thôi.

1. Bác Hồ và Phùng Thế Tài như cha con

Có những chi tiết nhiều người biết nhưng theo logic bài viết tôi vẫn xin phép được nhắc lại. Về tuổi tác Bác Hồ cũng tương đương tuổi cha tướng Tài. Về công việc, nhất là hồi bên Trung Quốc, cả sau này ở Việt Bắc (trước 1944) thì càng thế, vì họ thường đóng giả cha con. Về quan hệ càng vậy. Bác Hồ rất mực yêu quý người “con trai”, còn người “con trai” ấy, đúng với chức phận con mà theo đến cả khi “cha” về “với thế giới người hiền” và mãi mãi học và làm theo tư tưởng của Người cha ấy!

 Thời bí mật ở Việt Bắc, tài liệu của ta ghi lại Bác Hồ có tài hóa trang và chính người là người thầy hướng dẫn những tình báo viên nổi tiếng của ta. Tổng cục II coi Bác Hồ là người cha đẻ của ngành. Chỉ cần một bộ quần áo chàm, một cái khăn, một ít cơm nguội và nhựa sung (trám vào răng) Bác Hồ thành một người dân tộc “chính hiệu”, khi cần là một thầy cúng “chính hiệu” còn bên cạnh thì thường là đứa con trai (Phùng Thế Tài) mang “tay nải” đựng giấy bút, bùa chú, đồ cúng... Hẳn nhiên họ phải nói tiếng dân tộc (Tày, Nùng, Cao Lan...) và hiểu phong tục, tập quán một cách “chính hiệu”.

 Ngược trở về những năm cuối 1930 bên Trung Quốc. Bác Hồ được tổ chức giới thiệu một cậu thiếu niên làm cận vệ. Tất nhiên có những yêu cầu tối thiểu: giỏi tiếng Trung, biết võ, nhanh nhẹn, trung thành tuyệt đối... Cũng hẳn nhiên Bác Hồ phải chọn. Chưa thấy sách nào nói chuyện cách Bác Hồ chọn người. Ở đây chỉ xin kể một cách Bác chọn, lại rất “cổ điển” là vô tình hay hữu ý ăn cơm cùng người đó. Đồng chí Vũ Anh kể cậu bé Thụ (mười ba tuổi) nhiều lần bị đói nhưng khi ăn, dù còn rất trẻ bao giờ cũng ăn một cách từ tốn, khoan thai, điềm đạm.

Cậu bé ấy là Phùng Văn Thụ được sinh ra trong một gia đình nghèo (xã Văn Nhân, Phú Xuyên, tỉnh Hà Nội. Năm 1933, khi mười ba tuổi, Thụ theo người làng lang thang kiếm sống rồi phiêu bạt sang Trung Quốc. May mắn được giác ngộ cách mạng, mà người Thầy đầu tiên là đồng chí Vũ Anh. Năm 1939, chính đồng chí Vũ Anh giới thiệu cậu Thụ kết nạp ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tổ chức đưa cậu vào học Trường quân sự Hoàng Phố có thẻ thông hành đặc biệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch. Trưởng thành nhanh chóng, cậu được gặp ông Trần (tức Bác Hồ).

Ông Trần chọn Thụ làm “đồng chí con” (cận vệ) và đặt tên mới là Phùng Hữu Tài. Với bản tính khiêm tốn, được học nhiều từ Bác Hồ, thấy mình dù biết tiếng Pháp, tiếng Trung, biết võ... nên càng thấy mình chưa xứng với kỳ vọng “hữu tài” của Bác và đoàn thể nên (năm 1952), Hữu Tài xin Bác đổi lại là Phùng Thế Tài. Bác đồng ý.

Trong Hồi ký, Thượng tướng Phùng Thế Tài kể lại đi bảo vệ nhưng chẳng có súng ống gì, chỉ một quả đấm sắt và một con dao. Tết Tân Tỵ (năm 1941), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, theo phân công Phùng Thế Tài ở lại Côn Minh hoạt động. Ông được “cài” vào quân đội Tưởng làm trong cơ quan tình báo chuẩn bị cho kế hoạch “Hoa quân nhập Việt”. Vừa làm vừa học nghiệp vụ tình báo trong trường quân sự Hoàng Phố. Đây là “bình phong” tối cần thiết để hoạt động, vừa che mắt tình báo Quốc dân đảng, vừa bảo vệ lãnh tụ (Bác Hồ và các đồng chí khác) khi họ quay lại Trung Quốc công tác. Vì lẽ này mà sau năm 1945 Phòng Nhì Pháp xếp Phùng Thế Tài là người đầu tiên trong danh sách điệp viên Việt Minh. Dĩ nhiên là người đầu tiên cần theo dõi sát sao, là đối tượng cần bắt cóc.

 Đầu năm 1942, tổ chức giao nhiệm vụ Tài chuyển vũ khí về nước. Tài ở lại Pác Bó với Ké Thu (Bác Hồ) làm tổ viên bảo vệ mà tổ trưởng là Phùng Chí Kiên, rồi Lê Quảng Ba, Đinh Đại Toàn, Đặng Văn Cáp, Dương Đại Lâm… Tổ này còn làm nhiệm vụ liên hệ với đồng bào và tự tăng gia lấy lương thực. Vì thế mà Tài nói đươc nhiều thứ tiếng dân tộc. Cũng là lẽ tự nhiên. Cuộc sống bắt buộc như thế, tạo ra thế. “Phi ngoại ngữ bất thành điệp báo” (không có ngoại ngữ không thể làm điệp báo). Đấy là “truyền ngôn” của lính Tổng cục II. Không mới. Châm ngôn này đã thành cổ điển. Với trường hợp cụ thể dưới đây, “điệp viên” Phùng Thế Tài chứng minh đấy là tất yếu. 

Tháng 8 năm 1944, Bác Hồ sang Trung Quốc gặp đại diện đồng minh để tranh thủ sự giúp đỡ. Hữu Tài được giao đi cùng bảo vệ. Trên đường đi và về vẫn đóng vai hai cha con người, khi từ Việt Nam sang thì là hai cha con người Nùng đi buôn, khi về là hai cha con người Mán. Sang đất bạn, gần đến nơi thì một người thành “sĩ quan Tưởng”, người kia là “Thượng cấp”. Ông kể lại: “Lần ấy chỉ có một mình tôi đi bảo vệ Bác. Tôi mặc bộ dạ sĩ quan Tưởng oai lắm. Tôi nói thạo tiếng Trung Quốc, lại có sẵn giấy thông hành đặc biệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch cấp hồi còn học ở trường quân sự Hoàng Phố nên yên trí. Bác mặc bộ quần áo của quân đội Tưởng, người ngoài cuộc chỉ có thể cho Bác cháu tôi là anh lính trẻ đi với ông lính già. Khi đến Tĩnh Tây, cơm chưa xong, Bác vào làm việc tại trụ sở của Quốc dân đảng Trung Hoa và là tổng hành dinh của Trung tướng Trần Bảo Xương. Tối hôm đó, Bác ngủ ngay ở chỗ làm việc. Tôi không rõ Bác liên lạc với Trần Bảo Xương để làm gì, nhưng không dám hỏi vì nguyên tắc bí mật. Một điều bất ngờ làm tôi lạnh cả xương sống. Trên đường về phòng nghỉ, Bác đã bỏ quên mũ ở phòng khách bảo tôi quay lại lấy. Và chính trong tình huống này tôi đã nghe lỏm được bọn Trần Bảo Xương đang bàn trong phòng kín tìm cách bắt giữ hai Bác cháu tôi lại. Tôi vốn là một chàng trai không biết sợ là gì, nhưng nghe chúng bàn nhau như vậy, tim tôi như có ai bóp chặt. Tôi lại nghĩ đến cảnh tù đầy qua mấy chục nhà giam của chính quyền Tưởng Giới Thạch mà Bác phải chịu năm 1942. Và vai trò của Bác trong những ngày sắp tới đối với cách mạng Việt Nam, tôi bình tĩnh lại và nhẹ nhàng quay lại báo ngay với Bác. Nhưng khác với tôi, Bác rất bình tĩnh, chỉ thoáng một chút đăm chiêu. Suy nghĩ một lúc, Bác quyết định quay về Việt Nam ngay trong đêm hôm đó.

Nhưng làm sao mà ra khỏi hai cánh cổng sắt có lính gác của tổng hành dinh Trần Bảo Xương được? Như hiểu được ý tôi, Bác khẽ nói:

 - Ta đi không mang hành lý gì, đi người không, giả bộ với lính gác ra ngoài mua bao thuốc lá!

 Thoát khỏi được tổng hành dinh của Trần Bảo Xương, hai Bác cháu quên cả mệt đi như chạy ra khỏi Tĩnh Tây và cuốc bộ một mạch không nghỉ. Sáng hôm sau trông thấy Bác quá mệt, người phờ phạc lòng tôi quặn lại. Đời người lính cận vệ có biết bao điều khó lường có thể xảy ra. Nhưng với tôi, một khi đã kiên trì lòng trung thành với Đảng và cái tâm sáng thì điều khó lường ấy dù có nguy hiểm đến mấy cũng có thể vượt qua kể cả phải hy sinh tính mạng của mình. Càng thương Bác tôi càng ý thức được trách nhiệm của mình, bảo vệ Bác an toàn tuyệt đối”.

2. Bác Hồ và Phùng Thế Tài là thầy trò

Bác Hồ là Thầy học trực tiếp và gián tiếp của hầu hết những cán bộ lãnh đạo tiền khởi nghĩa. Một phương diện vĩ đại của Người cần được nghiên cứu hệ thống, sâu sắc hơn chính là giáo dục. Một điều dễ thấy nhất là hầu hết học trò của Người trở thành tài năng, có người kiệt xuất. Cách giáo dục của Bác Hồ thật cụ thể, nhẹ nhàng mà thấm thía. Hữu Tài trở thành “tướng tài” với một nhân cách đáng kính, trước hết là do được làm học trò gần gũi của Bác Hồ. Ông kể lại: “Vào một buổi sớm tinh mơ mùa thu năm 1941, khi trong hang còn lờ mờ chưa sáng, mình vừa vùng dậy nhìn sang chỗ Bác nằm - sạp tre trên phiến đá, không thấy Bác đâu cả. Lo quá, vội nhảy bổ ra ngoài bờ suối, thì thấy Bác đang loay hoay cố sức vần một cái chum lớn của đồng bào hứng lấy nước mưa bị đổ nghiêng từ lúc nào. Mình vui mừng, nhưng lại thắc mắc nên hỏi Bác vần cái chum ấy làm gì, Bác vừa ốm dậy, người đang gầy yếu, Bác để cháu vần cho”.

 Nghe thế, Bác nhìn mình vừa cười hồn hậu, vừa ôn tồn bảo: Chú Tài này, đồng bào biết bác cháu ta đang ở đây và rất ủng hộ mình, vậy ta đừng để bà con hiểu nhầm rằng việc nhỏ như một cái chum nước của đồng bào bị đổ nghiêng trước cửa nhà mình mà ta không dựng lên được, thì Đảng nói làm việc lớn như đánh Tây, đuổi Nhật ai tin! Làm cách mạng để giành chính quyền đem lại độc lập cho dân tộc, xây dựng đất nước là một việc lớn, nhưng cũng phải biết làm việc nhỏ.

Sự việc này và lời dạy ân cần sâu sắc của Bác đã gieo vào tâm hồn mình một ý tưởng lớn của Người từ thuở ấy không thể nào quên. Qua đó mình tự rút ra một điều - để làm việc lớn, phải biết làm từ việc nhỏ đem lại lợi ích cho dân. Bác thường dặn: Việc gì có lợi cho dân thì làm, việc gì có hại cho dân thì phải tránh”.

 Những chi tiết cụ thể này ngày nay phải được phổ biến sâu rộng cho toàn dân, nhất là cán bộ đảng viên, đoàn viên. Học và làm theo Bác Hồ không thể và cũng không nên từ những điều to tát mà phải thật cụ thể, dù nhỏ như trên nhưng mang ý nghĩa lớn. Bác Hồ dạy chữ cho trò cũng là dạy cách gần dân, cách lao động để tạo ra thành quả. Vẫn tướng Tài kể. Lần ấy “vào buổi chiều cuối năm 1941, khi những tia nắng ấm còn đọng lại trên sườn núi, hai Bác cháu đang lom khom trồng mấy luống môn trên mép suối bên cạnh hang Pắc Bó, bỗng Bác quay lại bảo mình: Này chú Tài, để thư giãn, chú thử đối lại câu đối này nhé: “Trồng môn trước cửa”, đối đi! Mình lúng túng một thoáng... rồi cũng vừa kịp nghĩ ra, thưa Bác xin đối lại: “Bắt ốc sau nhà”. Nghe vậy, Bác cười vui và gật đầu bảo: Thế là chú Tài nhanh trí và đối được đấy. Môn cũng là cửa - chú đối lại Ốc cũng là nhà, đúng thế.

Nhân thể Bác nói luôn: Cách mạng nhất định sẽ lớn mạnh và quân đội cách mạng rồi cũng sẽ ra đời và phát triển để bảo vệ Tổ quốc. Đến lúc ấy biết đâu chú sẽ được tổ chức cử làm tướng để tham gia chỉ huy quân đội ta. Phàm là làm tướng thì trí tuệ phải thông làu, minh mẫn, nhạy bén, linh hoạt, để ứng phó mau lẹ với mọi tình huống. Cho nên làm tướng cũng phải học từ việc nhỏ qua thực tế”.

Những lời Bác nói sao sâu sắc vô cùng. Lại được người học trò yêu kể thuật lại càng thấy giữa họ hầu như không có khoảng cách. Gần gũi, ấm áp, chân tình. Đấy là phong cách Hồ Chí Minh. Đấy cũng là phong cách Thượng tướng Phùng Thế Tài sau này!

Hữu Tài có khiếu chỉ huy quân sự, lại từng trải, cũng theo nguyện vọng cá nhân, Bác đồng ý cho “con” ra chiến trường (tháng 12 năm 1944). Người dặn: “Chú sẵn sàng đi chiến đấu, thế là tốt, nhưng nhớ đừng có ‘hữu dũng, vô mưu’ đó nhé...” Bắt đầu là Tiểu đội trưởng thuộc Quân Giải phóng sau chuyển sang làm cán bộ quân sự Ủy ban khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện Thất Khê - Cao Bằng (tháng 8 năm 1945). Nên nhớ, trước đó khi trong chính quyền quân sự Tưởng, Hữu Tài đã mang “lon” Thiếu tá nhưng với nhiệm vụ cách mạng, ông chỉ được giao “Tiểu đội trưởng”, dĩ nhiên chưa có quân hàm... Đấy cũng là bài học rất đáng học với người cách mạng: làm bất cứ nhiệm vụ gì cách mạng cần!

Từ đó cuộc đời Hữu Tài rồi Thế Tài gắn bó với quân ngũ, đảm đương nhiều trọng trách, chỉ huy. Cương vị nào ông cũng hoàn thành tốt. Đang là Đại tá Tư lệnh quân chủng Phòng không - Không quân, năm 1967, ông được bổ nhiệm chức Phó Tổng tham mưu trưởng. Năm 1974, ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Năm 1980, ông được phong quân hàm Trung tướng. Năm 1986, ông được phong quân hàm Thượng tướng. Năm 1987 ông được nghỉ hưu.​

Cuốn sách thượng tướng Phùng Thế Tài, thân thế, cuộc đời và sự nghiệp.

3. Vị tướng hiện thân cho việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh

Nhờ được là học trò gần gũi của Bác Hồ mà Thượng tướng Phùng Thế Tài là một vị tướng tài năng. Trước hết là nhờ thiên tài chọn người chọn việc. Bác Hồ chưa chọn người, chọn việc sai bao giờ. Đây là chuyện hiếm hoi trên thế giới. Không có chuyện “tâm linh” gì ở đây cả. Nghiên cứu về Bác tôi biết. Chỉ có cách giải thích là nhờ vốn học vấn cực kỳ sâu rộng, một tình yêu lớn, một tinh thần trách nhiệm đến tuyệt đối đã phú cho Bác một trực giác đặc biệt. Tại sao Người chọn Võ Nguyên Giáp làm Tổng Tư lệnh cũng tương tự như Người chọn Phùng Thế Tài phụ trách mặt trận Phòng không. Năm 1963, Quân chủng Phòng không - Không quân được thành lập, theo đề nghị của Bác Hồ được Bộ Chính trị thông qua, Đại tá Phùng Thế Tài giữ chức Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng.

Cũng xin sơ qua chiến công đầu của Bộ đội Phòng không - Không quân đã bắn rơi 8 máy bay địch, bắn hỏng 3 chiếc khác và bắt sống giặc lái đầu tiên ở miền Bắc (tháng 8 năm 1964). Người có công xây dựng và phát triển lực lượng không quân Việt Nam là Tư lệnh Phùng Thế Tài và Chính ủy Đặng Tính.

Tháng 5 năm 1963, thành lập Trung đoàn Không quân Tiêm kích 921 (mật danh Đoàn Sao Đỏ).

Tháng 8 năm 1965, Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 (mật danh Đoàn Yên Thế) với biên chế hai đại đội, 17 phi công MiG-17. 

Tháng 3 năm 1967, Sư đoàn Không quân Thăng Long (phiên hiệu quân sự 371) được thành lập gồm các Trung đoàn 921, 923, 919 và đoàn bay Z. Đây là Sư đoàn Không quân đầu tiên của Quân đội ta.

Tiên đoán được ý đồ của Mỹ sẽ đưa máy bay B.52 tham chiến, Bác hỏi Phùng Thế Tài: “Chú là Tư lệnh Phòng không, vậy chú đã biết gì về B.52 chưa?”. Bác nói tiếp: “Nói thế thôi chứ chú có biết cũng chưa làm gì được nó. Nó bay cao hơn mười cây số mà trong tay chú hiện chỉ có cao xạ thôi… nhưng từ nay, là Tư lệnh bộ đội Phòng không, chú phải theo dõi chặt chẽ và thường xuyên quan tâm đến loại máy bay này”. Tại sao khi ấy Bác Hồ đã biết về B.52 xin phân tích vào dịp khác, chỉ biết được Bác nhắc nhở Tư lệnh Phùng Thế Tài chỉ thị cho các cơ quan tham mưu tác chiến, quân báo thu thập, phân tích tính năng của B.52.

Năm 1965, Mỹ cho B.52 ném bom Bến Cát - Tây Bắc Sài Gòn.

Năm 1966, B.52 máy bay Mỹ đánh Quảng Bình, Vĩnh Linh.

Bác Hồ cho mời Tư lệnh Thế tài lên gặp và chỉ thị Quân chủng Phòng không - Không quân: “B.52 đã đánh bom miền Bắc. Phải tìm cách đánh cho được B.52. Trách nhiệm này Bác giao cho các chú Phòng không - Không quân”.

Thiên tài của Bác Hồ được vị Tư lệnh ghi lòng tạc dạ. Bác dạy về sách lược đánh “Muốn bắt được cọp phải vào tận hang của chúng”. Về cách đánh, Bác dạy: “Các chú phải học tập đồng bào miền Nam đánh giặc bằng cách nắm lấy thắt lưng địch mà đánh!”.

Tháng 5 năm 1966, Trung đoàn tên lửa 238 vào tuyến lửa Vĩnh Linh đánh B.52. 

 Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Tiểu đoàn 84, Trung đoàn 238 bắn rơi một B.52!

Đầu năm 1968, Bác Hồ cho mời Phùng Thế Tài (Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam) và Đặng Tính (Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân) căn dặn điều hệ trọng, để rồi hơn 4 năm sau là chìa khóa mở ra trận đại thắng Điện Biên Phủ trên không để kết thúc chiến tranh: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B.52 ra đánh Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Phải dự kiến tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Đồng chí Phùng Thế Tài và Chính ủy Đặng Tính chính là những người có công lớn trong việc quân ta tiêu diệt B.52 trên bầu trời Hà Nội. Cứ nói theo Bác Hồ, để có thành công cực kỳ vĩ đại đó, tức “mục đích 1”, thì “kế hoạch 10, quyết tâm phải 20”. Chúng tôi xin phép không mô tả lại những trận đánh “vít cổ Thần Sấm” từ lưới lửa phòng không và “nắm lấy thắt lưng” địch của máy bay Mic, nhất là có sự tiên đoán của người chỉ huy và năng lực trinh sát (Cục 2) như “vẽ ra trên giấy” đường bay của B.52. Xin ghi lại lời của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp để thấy rõ hơn sứ mệnh của bộ đội Phòng không Hà Nội ngày ấy: “Cả nước đang hướng về. Toàn thế giới đang hướng về Hà Nội. Từng giờ, từng phút, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương theo dõi chặt chẽ cuộc chiến đấu của Hà Nội. Vận mệnh của Tổ quốc đang nằm trong tay các chiến sĩ phòng không bảo vệ Hà Nội”.

Việt Nam thắng Mỹ vì Việt Nam có văn hóa giữ nước, có quyết tâm cao, có trí tuệ lớn, có những vĩ nhân kiệt xuất như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, có những tài năng lớn như Phùng Thế Tài, như Đặng Tính...

Chỉ tiếc ngày Chiến thắng không có Bác Hồ!

Ít người biết, ngoài những việc quân cơ đại sự bên Quân chủng Phòng không - Không quân, Phùng Thế Tài còn nhận nhiệm vụ là một trong những người chỉ đạo công việc bảo quản thi hài Bác. Trong giọng kể của ông về giữ gìn thi hài Bác có sự thổn thức của đứa con yêu và nỗi đau khôn nguôi của người học trò: “Tôi đứng kiểm tra anh em tập, nhìn chiếc quan tài nằm trên vai các chiến sĩ mà nước mắt cứ trào ra vì nghĩ rằng rồi đây trong chiếc quan tài đó sẽ là thi hài của Bác, một việc mà tôi không bao giờ muốn nghĩ đến sẽ có ngày xảy ra. Những đêm tập như thế thường có đồng chí Kim Chi, Cục trưởng Cục Bảo vệ đứng bên cạnh tôi và tôi phải cố sức kiềm chế để không cho ai biết mình đang khóc. Thường khoảng 4 giờ sáng buổi tập mới xong, tôi lên xe trở về nhà buồn không nói đâu cho hết. Vợ con hỏi đi đâu về, tôi cũng không buồn trả lời, thực ra là không dám trả lời vì phải giữ bí mật tuyệt đối”.

Ai cũng biết việc chuẩn bị lễ tang, việc giữ gìn thi hài Bác trong điều kiện chiến tranh cực kỳ ác liệt, nếu không có tình yêu, trí tuệ lớn, có trách nhiệm cao, có sự khổ công, kiên trì đặc biệt sẽ không hoàn thành...

Không có sự tri ân của con người giàu ân nghĩa, không có sự tinh tế của một tâm hồn giàu cảm thông sẽ không có những suy nghĩ này về những chuyên gia Liên Xô (cũ) giúp ta bảo vệ thi hài Bác: “tôi (tức Phùng Thế Tài) cứ suy nghĩ mãi về những con người này, về chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, với cương vị của mình, chắc chắn họ có đủ điều kiện để sống một cuộc sống đầy đủ tiện nghi, bên cạnh gia đình, vợ con. Thế mà giờ đây họ vui vẻ, sẵn sàng chấp nhận một cuộc sống gian khổ, thiếu thốn, buồn tẻ trong một khu rừng vắng để góp phần giữ gìn thi hài cho lãnh tụ một đất nước xa xôi cách quê hương họ nửa vòng trái đất”. Đấy là những suy nghĩ của một vị tướng lại cho thấy, thì ra cái gốc của một tài năng vẫn là tình yêu con người, sự trân trọng con người! Những suy nghĩ ấy càng cho thấy chi tiết Tướng Phùng Thế Tài chỉ thị cho Đoàn trưởng Nguyễn Gia Quyền cho người mua con vẹt cho một chuyên gia Liên Xô là thật nhân văn. Chả là vì, sang giúp Việt Nam, để đỡ buồn, vị chuyên gia ấy nuôi một con vẹt nhưng lần ấy nó bay thoát ra ngoài. Tướng Tài biết chuyện... Ông còn là nhân tướng, là lương tướng!

4. Nỗi trăn trở sâu thẳm trước khi về với Bác Hồ

Sinh thời Thượng tướng Phùng Thế Tài ước ao xây dựng một Nhà lưu niệm ở Đà Lạt cùng những kỷ vật, kỷ niệm của Bác Hồ và những tướng lĩnh, những người đồng chí đã cùng Thượng tướng cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Tại sao không phải nơi khác mà lại Đà Lạt?

Đằng sau câu chuyện là cả những biến cố thật khó lường của cách mạng, của những tư duy chiến lược thiên tài của Bác Hồ, của Võ Nguyên Giáp và cả những hành động đối phó thật sự thông minh của Phùng Thế Tài.

Phùng Thế Tài là cận vệ của Bác Hồ từ tháng 2 năm 1940 đến tháng 8 năm 1945. Đã từng là thành viên phái đoàn Việt Minh do Bác Hồ là Trưởng đoàn đến gặp tướng Mỹ ở Côn Minh để thống nhất kế hoạch với quân Đồng Minh. Tháng 8 năm 1945, khi mới 24 tuổi ông được giao chức Phó chủ tịch Việt Minh tỉnh Lạng Sơn. Năm 1946, Phùng Thế Tài là trung đoàn trưởng đầu tiên của Việt Minh và Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội. Năm 1947, ông là Tham mưu trưởng Đại đoàn Quân Tiên Phong do đồng chí Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh

 Để chuẩn bị cho hội nghị Fontainebleau ta và Pháp thống nhất tổ chức một hội nghị mang tính trù bị tại Đà Lạt vào giữa năm 1946. Với chiến lược đoàn kết và cũng là dịp để Nguyễn Tường Tam “thể hiện”, Bác Hồ giao cho ông ta là Bộ trưởng Ngoại Giao làm trưởng đoàn. Tất nhiên mọi công việc đều do đồng chí Võ Nguyên Giáp quyết định...” Ai là người đứng đằng sau Võ Nguyên Giáp vừa để bảo vệ, vừa là “cầu nối” Đà Lạt với Bác Hồ? Phải là người có kinh nghiệm tình báo, ứng phó nhanh, trinh sát giỏi, phán đoán tình thế tốt. Không ai hay hơn Phùng Thế Tài. Ông kể lại: “... Bác kéo tôi lại gần và nói nhỏ: “Lần này Bác cử chú đi theo đoàn với 2 nhiệm vụ quan trọng. Nhiệm vụ thứ nhất là bảo vệ phái đoàn, đặc biệt là bảo vệ anh Văn (tức Võ Nguyên Giáp). Kẻ địch nham hiểm lắm, không được coi thường. Nhiệm vụ thứ hai là chú tìm mọi cách để Bác và anh Văn thường xuyên liên lạc kịp thời. Mọi diễn biến hội nghị Bác phải nắm được ngay trong ngày và chuyển gấp những ý kiến của Bác đến tận anh Văn và chỉ riêng anh Văn thôi.

Nhận nhiệm vụ ở chỗ Bác ra về tôi hết sức lo lắng. Chỉ còn hơn một tuần nữa đoàn đã lên đường mà biết bao nhiều công việc phải chuẩn bị. Tôi phải mang theo hai nhân viên, một điện đài, một mật mã. Những việc này hôi theo học lớp tình báo của quân Tưởng ở Côn Minh tôi cũng đã học qua, nhưng để biết chứ chưa làm bao giờ. Ở ban 2 Bộ Tổng Tham mưu tôi cũng đã có triển khai bộ phận này nhưng vẫn còn bỡ ngỡ lắm. Mà công việc lại phải hết sức bí mật, tuyệt đối không được trao đổi với ai trừ ngành nghiệp vụ. Ngay ngành nghiệp vụ thì phần việc của người nào cũng chỉ người đó biết. Ngày 15 tháng 4 năm 1948, phái đoàn lên đường bằng hai chiếc máy bay khởi hành từ san bay Gia Lâm. Với bộ quân phục ka-ki màu sáng thẳng nếp, mang lon thiếu tá, tôi chững chạc bước lên thang máy bay cùng với các thành viên của đoàn. Nhớ lại cuộc đàm phán ở Côn Minh, tôi là người vừa trẻ đẹp, vừa oai vệ nhất đoàn thì lần này cũng vậy, vẻ đẹp còn được tăng lên gấp bội do quân phục thiếu tá vừa mới may đo rất khéo. Có lẽ tôi được vinh dự là một trong những người đầu tiên thực hiện sắc lệnh 33/SL của Chính phủ ký ngày 22 tháng 3 năm 1946 quy định về cấp bâc, quân phục, quân hiệu của quân đội ta. Đoàn ta ở khách sạn Pa-lát sang trọng đầy đủ tiện nghi. Ngay đêm đầu tiên mới đến, anh Văn bảo tôi khẩn trương triển khai máy móc điện về Hà Nội báo cáo tình hình với Bác”.

Tác giả chỉ kể vậy nhưng trên thực tế thì là cả một cuộc đấu tranh tình báo cực kỳ căng thẳng, gay go, quyết liệt, không chỉ với Pháp mà với ngay cả Nguyễn Tường Tam và Quốc Dân đảng hậu thuẫn. Quốc Dân đảng lợi dụng dịp này để làm một cuộc “tất tay”, theo họ là dịp may vì đã “gián cách” đoàn với Bác Hồ (họ rất sợ tài năng, nhất là sự phán đoán tài tình của Bác Hồ). Còn Mật thám và Phòng Nhì Pháp đều chăm chăm một ý đồ thủ tiêu “anh Văn” và cán bộ Việt Minh cấp cao. Tác giả kể lại chỉ là những việc nhìn thấy: “Trong thời gian ở Đà Lạt, anh Văn có đi vài nơi, vừa thăm hỏi đồng bào, vừa nắm thêm một số tình hình. Tất nhiên mỗi lần như thế tôi phải tổ chức bảo vệ chu đáo. Ở đây bọn địch hoạt động khá trắng trợn, dám bắt cóc đồng chí Phạm Ngọc Thạch là một thành viên của phái đoàn”. Sự thông minh của Thế Tài chính là sự “đặt nền móng” cho ngành Trinh sát Tình báo quân sự sau này: “Trong thời gian này có một việc đáng ghi nhớ. Sau những phiên họp đầu tiên, tôi thấy dịch mật mã của ta quá phức tạp, mát rất nhiều thời gian để mã địch, có những việc khẩn cấp không đáp ứng được yêu cầu, tôi liền nghĩ ra một bảng mã mới, đơn giản, bằng hình thức tay chữ: a thay bằng b. Chữ b thay bằng chữ c… kết quả ta nhận được nhanh hơn, nhưng chỉ vài hôm là điện bị lộ và lập tức được lệnh ngừng lại”.

Cũng là môt sự may mắn cho riêng ông và nghệ thuật quân sự nước ta. Một phần nhờ kinh nghiệm xử lý mật mã mà sau này, vào năm 1950 và năm 1953 là Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội, ông nắm được thông tin bố phòng và vạch ra kế hoạch các trận đánh sân bay Bạch Mai và sân bay Gia Lâm đã tiêu diệt 43 máy bay địch và nhiều kho xăng bị đốt cháy, góp phần phối thuộc các chiến trường để có chiến thắng Điện Biên Phủ. Không ngẫu nhiên khi phải đánh Mỹ, Bác Hồ lại chọn ông làm Tư lệnh Phòng không - Không quân.

Tuy không đạt được “thông cáo chung” giữa ta và Pháp, nhưng với riêng ta thì là một thành công. Vẫn theo ông kể thì: “Do sự ngoan cố của phía Pháp, hội nghị Đà Lạt kéo dài gần một tháng mà không đi đến kết quả. Cuộc đấu tranh diễn ra phức tạp. Và hằng ngày qua bộ phận thông tin, mật mã do tôi phụ trách, Bác cho ý kiến trên những vấn đề lớn, còn những vấn đề cụ thể thì do đồng chí Võ Nguyên Giáp toàn quyền quyết định”.

Có thể khẳng định để có một Hội nghị Đà Lạt “thành công” là điểm tựa để có Hội nghị tại Pháp cuối năm 1946 có công rất lớn của Phùng Thế Tài.

Sự kiện Đà Lạt, với riêng ông là một “bước ngoặt” để sau này trở thành một Thượng tướng tài năng là vì thế! Ông ước mơ có một “bảo tàng” lưu giữ không chỉ cho mình mà còn cho cả nền nghệ thuật quân sự Việt Nam có dấu ân đặc biệt của Bác Hồ và đồng chí Võ Nguyên Giáp ở Đà Lạt là từ những lý do ấy. Chỉ tiếc đến khi về với Bác Hồ (ngày 21 tháng 3 năm 2014). Ông vẫn chưa thực hiện được, để rồi sau này gia đình, bạn bè thân hữu đang thay ông thực hiện.

Đảng và Nhà nước ta tặng thưởng Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, 2 Huy hiệu Bác Hồ và nhiều phần thưởng cao quý khác cho ông. Điều đó hoàn toàn xứng đáng. Nhưng cái Huân chương lớn nhất của ông là được lịch sử khắc ghi trong trí nhớ và sự kính trọng của Nhân dân!

N.T.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm