TIN TỨC

Nguyễn Duy – Vịn thi ca vượt thác thời gian...

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-11-14 10:00:42
mail facebook google pos stwis
1029 lượt xem

TUẤN TRẦN

Nhà thơ Nguyễn Duy của chúng ta đang đứng ở thời điểm “ngày đông tháng giá” của đời người, thế mà hồn thơ vẫn không ngừng bay lên như cánh chim không mỏi. Nơi giường bệnh, tỉnh lại sau hôn mê Anh lại “chấp bút” gửi thơ vào đời. Một lần nữa, thi nhân đã chứng minh cho người thấy được: Nghệ thuật và thi ca đã chiến thắng trước sức mài nghiệt ngã của thời gian - Dẫu thân trần đã có phần thấm mệt, nhưng nhuệ khí hồn thơ luôn cùng tráng kiện.  

Ngày còn nhỏ, tôi thường leo vươn lên ngọn đồi gần nhà, đứng nơi cao xanh ngóng trời lộng gió. Tôi nghĩ rằng ngọn đồi kia đã là lớn lao nhất, cao vọng nhất và cứ ngỡ đó là tất cả những gì trọn vẹn đẹp đẽ trong khao khát chinh phục của chính mình. Từ trên non, tôi thưởng ngoạn hừng đông diệu vợi, chiêm ngắm dòng nước mắt đêm nuốt gọn mặt trời. Nhưng lớn lên, khi nhận ra rằng đó chỉ là một gò trọc trồi nhú bởi cơn chấn động địa chất bất thường nào đó, tôi bắt đầu vỡ dần trong mộng tưởng…

Nhà thơ Nguyễn Duy đón bạn thăm nhà.


Mang trong mình tâm thức của gió, tôi miệt mài đi tìm những “đỉnh cao” - “vì sao sáng tỏa”. Và tôi đã thấy:

“Có gì cháy giữa hai hàng điên điển
lập lòe hoa hay đốm nắng cuối ngày
….
Có gì cháy dưới lòng kênh đỏ rực
mái chèo bung từng vệt hoàng hôn

Có gì cháy trong âm thanh êm ả
câu ca buồn người thiếu phụ ru con
….
Tôi vốn sợ những gì nguội lạnh
nào biết em có nghĩ giống tôi không”.


Và tôi đã thấy những ngọn núi thiêng không tên - ngoài tầm mắt - chỉ tấm lòng mới thấu nhận cho cùng. Từ những con đường mòn đất nâu, từ những dòng sông dung bồi lặng lẽ, từ những ngôi làng ủ vùi trong sương khói… Rằng “đỉnh cao, những vì sao văn học” - không ở đâu xa, mà nằm trong chính sự rung động, trong từng cảm nhận tinh tế về đời - người - thời gian:

“Con dấu chìm chạm trổ tận trong xương
thời thơ ấu không thể nào đánh đổi
trọn kiếp người ta chập chờn nguồn cội
có một miền quê trong đi đứng nói cười.” .


Tại sao mặc cảm? “Văn học Việt Nam hiện đại thiếu vắng chiều kích/ cao”? Trong khi, đã có những “Hi Mã Lạp Sơn” đủ cho văn chương nước nhà “kiêu ngạo” khi giao hòa với nền văn học nhân loại. Đỉnh cao ấy, từ hạt gạo trong sáng trắng ngần, đã đi qua biết mấy vòng đời bão táp, chịu bao cay đắng và nếm bao mặn mòi mạch đất, của mồ hôi cùng đổi giá máu hi sinh:

"Hạt giống ở đây chết đi sống lại
hạt gạo kết tinh như hạt muối
cây lúa đứng lên cũng đạp đất đội trời."


Tiếng thơ Nguyễn Duy là kho tàng khôn cạn cho tất cả những rung động tinh thần, những lớp nghĩa chồng chất, những cơn sóng âm thầm thở dập từ lòng đất mẹ. Thơ, chữ nghĩa, văn hóa anh hồn thi ca nơi Anh như ngọn núi cao đủ phủ bóng - “Tiềm lực” không chỉ nằm trong vần điệu, trong hình ảnh, mà còn nằm trong khả năng chuyển tải cái đẹp, cái chân thành thiện mỹ, cái giản dị mà kì vĩ của đời sống qua từng chữ, từng nhịp thở của ngôn từ. Đỉnh cao văn học là nơi chuyển trải những chấn thương đời sống, những róng riết cùng kiệt sinh tồn thành những “mật ngôn” thiêng liêng, như tiếng "Mẹ ru cái lẽ ở đời/ Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn."

Dù bể dâu biến đổi, xã hội thay màu và những khuôn phép ít nhiều rò rỉ thì hồn thơ Nguyễn Duy vẫn là một phần sống còn trong nhịp thở đương đại để “âm thầm vay – trả”. Như một căn nhà thu vén, đóng gói được sự mênh mông của thời/ không, thơ ôm trọn tạo hóa bằng vòng ôm khoáng đại, khái quát một cách cô cặn nhất. Để rồi từ từng hạt gạo, từng giọt nước mắt, từng bàn tay cặm cụi, con người nhìn thấy chính mình vĩ đại trong cái nhỏ nhoi:

“Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm
tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng
trong hơi ấm nhiều chăn đệm
Của cọng rơm xơ xác gầy gò”


Thơ đậm đà thẩm thấu âm thanh của đời này sóng gió, nơi từng chi tiết nhỏ bé trở thành hình ảnh biểu tượng và thông điệp sâu sắc nguồn cội. Tiềm lực ấy, qua rơm rạ, khói bếp, Đò Lèn,… bằng bờ vai bàn tay người gieo trồng, từ trong ánh trăng hay giọt sữa ta đều thấy được sức mạnh lớn lao giúp con người hiểu điều sống đẹp - “lá rụng về cội”:

“chú tôi nướng nửa đời biệt xứ
nước mã hồi xin tí đất cắm dùi
cáo chết ba năm quay đầu về núi
khệnh khạng hát câu xin lỗi chân trời”.


Ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy thật giàu sức mạnh biểu hiện chất phản biện đời sống: tiếng nói can thiệp, đòi được can thiệp vào các trạng huống nhân sinh – chính trường. Thậm chí là tiếng nói hô hào - “cảnh báo” để sống đích thực chân thiện. Nhưng trước hết, sau cùng và tất cả thơ phải là cái ôm ấp trìu mến với cuộc đời, đánh thức niềm hi vọng chứ không phải là nỗi chán chường hay oán ghét hận sầu…

Tiềm lực còn ngủ yên và cần được gọi dậy, như trên cánh đồng chữ nghĩa nằm hoang đợi người tơi xới. Như con giun cần mẫn làm đất, như cánh cam đơm bông, Nguyễn Duy vun trồng sự phì nhiêu cho mảnh đất quê hương, để cái đẹp khai hoa trong bản lĩnh ngôn từ, bản lĩnh sống vị nhân trong tính nhạc tình độc đáo đậm đà yêu thương: "kẽo kẹt hai vai một nhịp cầu vồng / đẹp lắm chứ cái tạo hình gồng gánh!". Thơ dẫn lối vào đời bằng bài ca hiện thực, những gam màu lạnh lẽo, ưu sầu, tiếc nuối, đắng cay, nhưng luôn tỏa sáng niềm tin về giá trị con người:

“Lúc này
tôi và em không còn là lũ trẻ con nữa
tuổi thanh xuân trọn vẹn cuộc chiến tranh
sau lưng ta là kỷ niệm bi tráng
trước mặt ta vẫn con đường gập ghềnh
vẫn trang trọng tấm lòng trung thực
dù có thể lỗi lầm – làm thế nào mà biết trước
dù có sao thì cũng phải chân thành”


Nguyễn Duy đã “xé rào”, mở ra khát vọng lớn lao hơn cộng đồng văn chương mà Anh đang sống - thể hiện lòng yêu mến mãnh liệt với muôn dân qua ánh nhòm dọi sâu vào bi kịch, từ tăm tối mà khơi thông dòng sáng nồng nhiệt. Thơ trở thành tượng đài tinh thần, điểm tựa cho dân tộc, cho văn hóa, cho nhân sinh; và trên tất cả, giá trị đích thực mà ta nhận được là một sự thật chất ngất:

“Lúc này
tôi và em không còn là lũ trẻ con nữa
ta biết buồn để biết lạc quan
để nhắn lại sau ta cho lớp lớp trẻ con
(dù sau này dầu mỏ đã phun lên
quặng bôxít cao nguyên đã thành nồi thành soong
thành tàu bay hay tàu vũ trụ
dù sau này có như thế... như thế... đi nữa
chúng ta vẫn cứ nên nhắn lại)
đừng quên đất nước mình nghèo!”


Trong cuộc hành trình đối diện với đời thường, với điêu trá đảo điên, thơ Nguyễn Duy bừng nở như đường máu đỏ rực trên cánh đồng thẩm mỹ, nhưng với tâm thế ung dung, năng động từng tận tế bào - giác quan. Việc không ngừng “chất vấn” bằng nhịp phách thản nhiên liên hoàn giúp tiếng thơ trở thành nhịp điệu bền bỉ, bay bổng trong cùng nhận thức và tư duy - gói trọn, bao quát, tỉ mỉ và tự nhiên, lại rất tâm sự, trữ tình ngọt ngào cả thấm nhuần chịu đựng, khổ đau.

Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, thơ vẫn giữ vai trò là ngọn đuốc sống dẫn lối nhận thức, giữ nhịp cho trung hòa bền vững tương cân. Nó đánh động những câm lặng, nhắc nhở về trách nhiệm, về sự chân thành, và khả năng biến đời sống thành bản trường ca đầy ý nghĩa. Nguyễn Duy vẫn tin tưởng vào tiếng việt, nghệ thuật, và văn học nước nhà. Anh cùng sống, cùng đau, cùng xây đắp, lật dở vỉa tầng đời để “xới đảo” tơi xốp cho sự gieo trồng điều cao thượng. Trên đỉnh dốc chông chênh của thời đại, nơi khoảnh khắc tạo hóa vặn xoáy xoay vần dù dưới chân là vực sâu, Anh vẫn:

“Tôi muốn được làm tiếng hát của em
tiếng trong sáng của nắng và gió
tiếng chát chúa của máy và búa
tiếng dẻo dai đòn gánh nghiến trên vai
tiếng trần trụi của lưỡi cuốc
lang thang
khắp đất nước
hát bài hát

ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC…”

Nguyễn Duy đã làm nên được điều mà bao nhà thơ suốt đời khao khát: biến cái nhỏ nhoi thành điều kì vĩ, biến trải nghiệm lòng riêng thành nỗi niềm bao dung, biến nỗi đau thành điệu nhạc, biến lặng im thành khúc hát rát bỏng. Ở đó, thơ có lúc rền vang như lời sấm, là ngọn đuốc soi rọi hành trình tìm về căn cốt hồn Việt, làm cho văn học nước nhà không chỉ còn là sự tồn tại mà trở thành một đỉnh cao tự thân – rực rỡ, kiêu hãnh, thấm đẫm tinh thần của quá khứ đánh đổi hi sinh và khát vọng sang trang.

Hồn thơ ấy vẫn ngân nga, thổn thức và ngậm ngùi trong từng nhịp sống: nơi tiếng cười giòn tan của trẻ nhỏ, trong luống cày, tấc đất… Và đáy mắt đục mờ vẫn ánh lên nồng ấm của người mẹ quê, trong giọt mồ hôi rơi xuống thành hạt ngọc trên lưng áo người lao động, trong làn gió trưa lặng lẽ nhẹ ùa qua vòm lá, trong mảnh trăng nước hương thôn chan chứa ân tình. Tiềm lực – tiềm lực của đất, của người, của chữ nghĩa vẫn đang thức dậy vươn vai, đang mời gọi thôi giục mọi tâm hồn còn biết tin yêu vào tín điều đẹp đẽ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm