TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nguyễn Thành Phong – Nhà thơ tài hoa trữ tình, quan chiêm ngoại vi và nội hàm tự sự luận cảm của thơ Việt Nam thời kỳ đổi mới

Nguyễn Thành Phong – Nhà thơ tài hoa trữ tình, quan chiêm ngoại vi và nội hàm tự sự luận cảm của thơ Việt Nam thời kỳ đổi mới

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-15 00:50:58
mail facebook google pos stwis
1385 lượt xem

                                                                                                                Bùi Văn Kha

Trữ tình và tự sự là những khái niệm của thơ, ngoại diên và nội hàm là những khái niệm của logic học. Ngoại vi là một phần của ngoại diên chỉ các đối tượng có phạm vi nhất định và chỉ định. Trong thơ, nó là các địa danh, hoặc các nhân vật trữ tình, các không thời gian xác định, tạo nguồn cảm hứng. Ngoại vi nhỏ hơn ngoại diên. Nội hàm là nội dung thuộc tính bên trong cả chủ quan và khách quan của sự vật, hiện tượng.  Trữ tình nói bằng cảm xúc, gắn với bộc lộ chủ thể. Tự sự kể lại, tả lại khách thể. Phàm lệ mấy câu để bài viết này đỡ cảm thấy gượng ép, mong được đồng cảm.

Nhà thơ Nguyễn Thành Phong

 

Nguyễn Thành Phong làm thơ sớm lắm. Sớm ngay khi vừa bước vào nghiệp thơ, ông đã tự tin và tài hoa như nhóm văn thơ Bách Khoa những năm 1980 có tiếng.Tôi nhớ năm 1985 có buổi giao lưu đêm thơ các trường Đại học ở Hà Nội tại Hội trường C2 Bách Khoa, phần giới thiệu đã có tên Nguyễn Thành Phong cùng thày giáo nhà thơ Đinh Phạm Thái. Sau này, trong một chương trình văn nghệ trên VTV3 do Thuý Mai đạo diễn, ông ngồi trong thành phần tổ chức cùng nhà thơ Vũ Quần Phương, thấy càng chững chạc hơn.

Tôi được ông tặng tập Nghi Lễ Ngày Ngày từ năm 1998, có bài sáng tác từ năm 1981, thời của những bài thơ nổi tiếng như Hai Nửa Vầng Trăng của Hoàng Hữu, Những phút Xao Lòng của Thuận Hữu, Ngựa Gióng Lại Về của Từ Ngàn Phố,…ngay lúc đó, tôi thấy Nguyễn Thành Phong trữ tình tài hoa lắm. Tôi định viết về ông từ ngày ấy, nhưng vẫn thấy thiêu thiếu một cái gì. Lúc Nguyễn Thành Phong làm ở báo Văn Nghệ, tôi chưa thấy sự khẳng định đột phá nơi thơ ông.

Kịp đến 20 năm sau, cầm trên tay và đọc tập thơ Đêm Ngồi Ngã Ba Sông, Tôi mới thấy hết một chân dung 40 năm thơ của ông, như nhan đề bài viết này. Tôi trình bày theo ba đề tài lớn: 1. Nội hàm tự sự luận cảm; 2. Thơ viết ở Trường Sa; và 3. Trữ tình quan chiêm ngoại vi. Thơ ông còn một phần không thể thiếu là đề tài thế sự công dân, tôi dành cho dịp khác.

Tôi xin bắt đầu bằng bài Đêm Ngồi Ngã Ba Sông. Khoảng 3 thế kỷ trước, thời Lê Trung Hưng, Nguyễn Bá Lân (1700 - 1785) có bài Ngã Ba Hạc phú, vừa nói về vẻ đẹp hung vĩ của cảnh quan, vừa nhắc đến những tích ghi lại chiến công của quân dân ta, cuối là cái đạo Nhàn của nhà Nho. Đây là bài thơ tả thực, lấy thực để dựng ý tứ, hình ảnh, nhân thực để tỏ lòng. (Theo cách sắp xếp trung cận đại thì phú không nằm trong thơ thuần nhất vốn lấy vần điệu và niêm luật làm chủ đạo. Năm 1948 có cuộc tranh luận đối chọi, giữa một bên do Xuân Diệu cầm đầu chủ trương thơ phải trọng vần, trọng tứ, với một bên là thơ không vần, có thể có ý nhưng không nhất định tứ, mà chủ tướng là Nguyễn Đình Thi, nếu xếp thế thì sau này thơ chống Mỹ mà hơn 70% là thơ tự do, có cả thơ văn xuôi nữa, bị loại ngay vòng thi thơ sơ khảo).

Tất nhiên là Nguyễn Thành Phong phải thuộc làm lòng bài phú này khi xây dựng cấu trúc tác phẩm của mình. (Nhân đây cũng xin nêu thơ có ý thức chuyên nghiệp thường theo phương pháp cấu trúc. Bài thơ vì vậy chặt chẽ cả về ý tứ, hình ảnh và ngôn từ).

Ngay tên của bài thơ đã chỉ cái vị thế của nó. Thời gian về đêm thường dành cho suy tưởng. Ngồi thường là vị trí tư thế của triết nhân. Ngã ba sông, thời điểm này, có gay gắt biển Đông (có cả biểu tình một nhóm người) - thoát Tàu, có Văn đoàn Độc lập ly khai, có diễn đàn Shangri la,…Đây là lúc đặt vấn đề của thái độ. (Ngã ba là một phiếm chỉ). Gần một thế kỷ trước, Trong Lời Tổ Quốc, Tố Hữu viết: “Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước/Chọn một dòng hay để nước trôi”. Cùng thời điểm ấy, trong Tràng Giang, Huy Cận viết: “Thuyền về, nước lại, sầu trăm ngả/Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Nhưng đấy là nói về cách sống, về lý tưởng. Bây giờ là hiện thực hiện sinh phi lý và tồn tại, kiểu như Ham let. Mỗi thời điểm, thời đại có nhu cầu và yêu cầu của nó. Anti độc lập ly khai là có, nhưng chỉ ở một bộ phận nhỏ, chưa thành phong trào, chưa thành lực lượng, chưa thành quy luật. Chỉ có thể là ngã ba sông, mênh mang nước quẩn, nước chảy, hoặc thành mưa trong luật sinh tồn. Không có bão dông, cũng không thể bão dông.

Nếu nói theo Kinh Thi, bài thơ này theo thể phú mà hứng mà tỷ, tức là lấy cái thực để khai đề làm cảm hứng cho câu chữ rồi nhân đó mà nêu ra, mà so sánh. Nhưng nếu chỉ như vậy thì hơn hai ngàn năm nước sông chỉ “quẩn” à? Nguyễn Thành Phong đã thêm cái tự ý thức, cái bất khả tri – hành – thức để mà phú mà hứng mà tỷ, đó là một đóng góp thi pháp.

Cái tư thế của Nguyễn Thành Phong có cái ổn định của một bản lĩnh thông suốt thiên địạ nhân theo thuyết Tam Tài của triết học phương Đông. Trong ông có tâm sự, cảm với “chảy đi sông ơi” của Nguyễn Huy Thiệp mà ra với sông. Nhưng bài thơ này không nói về cái sự việc cảnh tình to lớn tích cũ, không nói về tranh giành Lã Vọng đi câu. Bài thơ nói về cái kiếp tầm thường lóp ngóp trong bùn, gần bùn, trên bùn của “con dân lầm bụi tài hoa”, kiếp thi sĩ bất lực “nhất sinh từ phú tri vô ích/mãn giá thư cầm đồ tự ngu” (Nguyễn Du – Một đời theo văn chương từ phú thấy cũng vô ích/Trên giá đầy sách đàn chỉ càng ngu thôi), cái kiếp con vờ ngắn ngủi tử sinh rồi trắng xoá, nhưng dù ngắn vẫn hạnh phúc đực cái bản thể. Ngã ba sông thượng nguồn một phương nhưng đầy trách nhiệm đổ xuống vai mình: “ Đêm ta ngồi giữa ba dòng sông sâu/Nghe nước thở mấy ngàn năm vẫn thở/Nghe nước kể chuyện những đời người/Cay đắng và vinh quang/Kiếp sống nhọc nhằn lòng cứ thắm tươi”.

Nói thêm về địa danh Mỏm Soi, Đôi Cô, đều ở làng Bắc Cầu, Ngọc Thuỵ, Long Biên. Tôi chắc lúc ấy, Nguyễn Thành Phong ngồi ở đền Đôi Cô ba mặt sông nước, đáng lẽ ta hề! nâng chén hề! lại khởi câu thơ!

Tôi thấy có nhiều cái hào sảng, cái buồn, cái ngẫm của bài thơ này. Những năm 20 của thế kỷ 21, bài thơ này là một trong những đỉnh cao biểu tượng! Hãy ngồi xuống, hãy ngồi lại, thế thôi!

 

ĐÊM NGỒI NGÃ BA SÔNG

 

Đêm dài thao thức

Nghe sông Cái buồn dào dạt gọi ra chơi

Ta đứng dậy bước miên man rồi bỗng thấy

Mỏm Soi Đôi Cô Hồng Hà chia ba

Tam Giang tối linh trắng mờ bọt sóng


Từ thượng nguồn

Nước như tràn vào ta vai rộng

Ngực nóng thành mềm mại

Đôi cánh tay ta quẫy trong sóng lộng

Hai bên hai sông chảy ầm ào


Mấy ngàn năm bao triều đại nối nhau

Để khuyết lửa máu gươm đao

Quân vương ngờ tôi trung, tiện nhân vẫy kẻ sỹ

Trùng trùng tráng ca bi kịch

Sông Hồng nóng đỏ phù sa

Con dân lầm bụi tài hoa

Xong giặc giã lại về quét chợ

Về làm đồng thương vợ chăm con

Giêng hai rộn rã hội làng câu hát ầu ơ

Xanh ngăn ngắt đôi bờ sông Đuống


Những bóng người giữa trời lồng lộng

Những bóng người lóp ngóp dưới dòng sâu

Người kề vai kề vai bắc cầu

Cho tướng lĩnh cầm quân đuổi giặc

Người oan trái xương khô ngùn ngụt nỗi đau

                            

Đêm ta ngồi giữa ba dòng sông sâu

Nghe nước thở mấy ngàn năm vẫn thờ

Nghe nước kể chuyện những đời người

Cay đắng và vinh quang

Kiếp sống nhọc nhằn lòng cứ thắm tươi

 

Ban mai mờ ảo góc trời

Đàn vờ giao hoan rồi lao thân xuống nước

Cái chết mãn nguyện phủ trắng mặt sông nâu

Một kiếp sống chỉ tính bằng chớp mắt

Cũng lộng lẫy huy hoàng trời nước giao nhau

         

Ta ngửa mặt nhìn trời cao

Ta sống vậy đã là như sống

Hay phải sống làm sao?

Trời im lặng, ta cúi nhìn mặt nước

Những xác vờ trắng ấm chảy về Đông!


                                                Tháng 6, 7/2017


Tư duy của thơ trong Chuyển Mùa là cách trình những mạch ngầm nổi, chính phản, của bất lực và ẩn tàng. Khinh trọng trong Chuyển Mùa cũng chỉ nôn nao tâm trạng thôi! Cũng được. Thơ tư duy vậy thì thơ đóng góp tích cực. Quan trọng là không nhạt. Và không thường.  

 

CHUYỂN MÙA...

 

Ôi cái mùa sao làm ta trĩu nặng

Nhìn đi đâu cũng gặp nỗi buồn

Người với người cùng chung ước vọng

Giờ sững sờ lạc nhịp vô duyên...

Con đường quen thành con đường lạ

Bài hát cũ nhạt nhòa vô vị

Ru rạc rời trên cùng chuyến xe qua...

Đồng nhân nghĩa bạc mặt người đi mót

Lội phía nào cũng quẩn gió quạnh hiu

Bước chân gần bước chân xa tít tắp

Bải hoải chiều bằn bặt tiếng tin yêu.

Kẻ tài trí bất ngờ ngã ngựa

Người cương trường lịm mỏi tim đau

Biển mới lặng mà cồn lên sóng đỏ

Sông vừa xanh lại với nước đổi màu...

Con cá buồn bơi đi tìm biển khác

Trên cây cao gió rào rào lá cũ

Dưới đáy suối nước bòn từng mạch rẽ

Chờ nôn nao trời đất chuyển mùa đi...


                                      Chuyển mùa thu đông, 2018

Tam đoạn luận của tụng ca, của bài học lịch sử, của khát vọng hoà bình, được ý tứ tài hoa kết lại trong Đất Nước Không Bình Yên. Từ 40 năm trước, mấy anh em nghệ sĩ hay nói với nhau, nếu cứ cách biệt giàu nghèo, cứ để nông thôn nghèo túng, thì hãy coi chừng cho sự an ninh và môi sinh. Ngẫm câu thơ Tố Hữu  năm 1961 “Đời trẻ lại tất cả đều cách mạng/Rũ sạch cô đơn, riêng lẻ, bần cùng” được hồi ức phóng sự: “ Khi chính quyền lần đầu ra mắt/Giữa Ba Đình mây dừng lại che cho/Nghe rõ không? Đồng bào ơi, Bác hỏi/Nắng bỗng hiền, dịu mát đầu thu./Người giàu có dựng kỳ đài độc lập/Kẻ đói nghèo đứng bảo vệ xung quanh /Quần soóc xám, mũ ca lô, xe đạp/Đủ uy nghi, tin cậy, vững bền.” 4 câu trên chỉ cái đinh lịch sử để treo chiếc áo choàng tư duy cho bình đẳng xã hội. Ý ngầm chỉ tiện tay phết phẩy.

 

ĐẤT NƯỚC KHÔNG BÌNH YÊN

 

Người ta dựng một chương trình rất lớn

Dàn nhạc dây, ca sỹ hàng đầu

Nhà hát Lớn sáng bừng ánh sáng

Để nhắc về quá khứ thương đau...


"Có một bài ca không bao giờ quên

Là lời đất nước tôi chẳng phút bình yên"...

Không, không phải hát về quá khứ

Mà là chính hôm nay, hiện thực nhãn tiền...


Khi chính quyền lần đầu ra mắt

Giữa Ba Đình mây dừng lại che cho

Nghe rõ không? Đồng bào ơi, Bác hỏi

Nắng bỗng hiền, dịu mát đầu thu.


Người giàu có dựng kỳ đài độc lập

Kẻ đói nghèo đứng bảo vệ xung quanh

Quần soóc xám, mũ ca lô, xe đạp

Đủ uy nghi, tin cậy, vững bền.

                            
Người lớp lớp giữ đất đai bờ cõi

Đất nước tôi không bao giờ quên.

Máu đã đổ bao năm dài vệ quốc

Vẫn là nỗi đợi chờ năm tháng bình yên!

                                     Ngày 9/1/2020
 

Tự sự luận cảm còn rất nhiều, nhưng tôi muốn trích một bài nữa để nói cái ngẫm ngôn của Nguyễn Thành Phong. Thực ra, lịch sử ghi thêm tầng lớp bình dân bắt đầu từ các cuộc Cách mạng Tư sản, như ở Anh (1646), Pháp (1789), đặc biệt là Cách mạng Vô sản Nga tháng Mười năm 1917. Nhân văn lớn nhất, theo tôi, là nhân văn chính trị thuộc về số đông trong xã hội. Trao quyền chính trị cho số đông và lập hiến bảo vệ số đông, là nhân văn văn dân chủ nhất.

Trở lại bài thơ. Các số phận khác nhau sau chiến tranh được khắc hoạ, cũng là lẽ tự nhiên nhi nhiên. Mỗi khổ là một luận cảm. Nhưng các số phận cá thể ấy, ở vào thời “dửng dừng dưng” ấy, bây giờ lại không ngồi được với nhau (!), không thể sống được với nhau. Như thế, theo Nguyễn Quang Thân từ năm 1980, là “Không thể được!”. Nguyễn Thành Phong lại bất lực, dù chỉ tài hoa đặt nghi vấn mà thôi.        

 

NHỮNG NHÀ THƠ CHIẾN TRƯỜNG

 

Những câu thơ chiến trận tưng bừng

Nhập thế chích thân lễ hội reo mừng

Những câu thơ cháy chiến hào lửa đạn

Sao bây giờ bỗng dửng dừng dưng?

 

Có nhà thơ chiến trường đã ngồi bên trên ghế

Ghế kê cao, sang trọng, an lành

Ở trong tủ, huân huy chương xếp gọn

Đợi đến mùa lễ lạt lại vang danh.

 

Có nhà thơ chiến trường theo ngày thường nhập cuộc

Lần hồi xoay bút viết văn buôn

Bữa rượu cạn trăng rơi hồ sũng ướt

Anh la đà xuống vớt để theo luôn.

                            

Ở làng quê có những cựu binh buồn

Đêm trở gió vẫn đau rừng sốt rét

Giấy chứng chiến đã bay đâu mất hết

Kêu phía nào bạc lẻ vẫn tay không

                  

Có nhà thơ chiến trường giờ đi lang thang

Việc của anh là cố ghìm cơn mửa

Hiện thực này bội phản với thi ca

Tay động bút là ngực sôi máu vỡ

                            

Ngoài chợ lộng hành thương bình giả

Trên diễn đàn nguy anh hùng thớ lợ

Ngụy quân từ vênh vang chém gió

Rừng rực cờ hoa ngày quốc lê...

 

Có nhà thơ chiến trường rời quan trường lặng lẽ

Đêm dài lạnh nghe lá cờ vẫy gió

Nghe cả quẫy trong dòng sông cũ

Nhân tình giờ đã quá khác xưa

                            

Có nhà thơ chiến trường bỏ nước mà đi

Bởi số phận đã xếp anh đối tuyến

Hơn mười năm đọa đày nơi rừng thẳm

Thơ ngân lên đau xé nỗi ta về...

                            

Đất đã liền mà lòng vẫn phân ly

Người khốn khó vẫn nguyên người khôn khó

Bọc trăm trứng vẫn hồng trong tâm tưởng

Khắp địa cầu giăng mắc mịt mờ xa...

(bài này tôi xin phép nhà thơ tách khổ cho dễ đọc, chứ trong tác phẩm thì liền mạch).
Nhưng cũng có những luận cảm đáng yêu làm mát rượi hồn ta. Đấy là Những Hàng Dừa Nước của em gái, chị gái, bà má miền Nam.

Năm 1990. Từ Sài Gòn xuống biên giới Mộc Hoá, tôi đi trên con đường 49 cây số Tân An – Tân Thạnh hai bên ngợp rừng tràm và lò nấu dầu tràm. Hai bờ sông Vàm Cỏ là san sát những hàng dừa nước. Không biết có trùng với hàng dừa nước của Nguyễn Thành Phong không, nhưng bài thơ là cả một sự khẳng định của biểu tượng Mẫu Thuỷ nhân dân của dân tộc ta.

         

Những hàng dừa nước

 

Như đội quân kỳ
Những lá cờ biểu trưng cho sức sống
Xanh ngút ngàn dọc các triền kênh rạch
Châu thổ Cửu Long giang tràn tầm mắt...

Người đã sống với những hàng dừa nước
Học được nhiều những phóng khoáng xanh tươi
Học được những nhẫn nại và bền bỉ
Để làm nên Nam Bộ chẳng nhiều lời...

Em đã sống với những hàng dừa nước
Mơn mởn giữa đời bên sóng gió thiên nhiên
Chị đã sống với những hàng dừa nước
Khuôn mặt luôn ngẩng cao kiêu hãnh dịu dàng
Má đã sống với những hàng dừa nước
Là bóng mát chan hoà da diết ấp iu con!

          (Xin phép được chuyển sang những bài thơ về Trường Sa của Nguyễn Thành Phong).

Bắt đầu là bài Những Tấm Ảnh Trường Sa.

Không thể bắt chước câu thơ chép trong trí nhớ “Đã yêu nhau đâu cần chi tặng ảnh/Cái quý nhất không thể nào có được/Là bức hình chụp được ở trong tim”. Hoa ngôn vậy thôi, chứ nếu mà có một kỷ niệm về khoảng khắc của cái thực, và đẹp nữa, thì quý giá biết bao.

Ở Trường Sa thật không đơn giản. Trường sa đẹp về hình tượng, trở thành biểu tượng, còn thực tế thì khắc nghiệt lắm. Nếu tính về diện tích thì đảo ở đây chỉ xấp xỉ đảo theo luật về đảo của thế giới. Chưa có đảo nào vượt qua năm cây số vuông, nên cũng cưỡng cầu xếp vào loại đảo nhỏ. Nhưng đó là thực thể của Tổ quốc. Nhưng đó là quyền và chủ quyền của Tổ quốc. Biết bao mồ hôi, xương máu, tuổi trẻ đổ xuống mới làm cho Trường Sa có diện mạo hôm nay.

 

Những tấm ảnh Trường Sa

 

Những mặt đá phập phồng như giọt máu

Đang neo chặt lại giữa biển trời

Những cánh chim bay mát lành mặt cát

Nhịp bồi hồi cùng nhịp trái tim tôi

 

Trường Sa dữ dằn sóng gió chẳng xa xôi

Lá phong ba xanh mắt người lính đảo

Cát Trường Sa trắng màu vai áo

San hô đỏ màu máu đỏ

Chảy nồng nàn từ dòng máu mẹ cho

 Anh đã mang về từ Trường Sa

những tấm ảnh hiện lên từ lốc cát

Từ bão xô gió giật

Từ sương mù đậm đặc

Từ khói súng bất ngờ […]

 

Như người lính kiên nhẫn lặng im

Anh đặt tay lên nút

bấm máy ảnh như đặt vào cò súng

Trường Sa trồi lên, Trường Sa chìm xuống

Trái tim đã chọn đúng tầm nhìn

Trường Sa đầy một dáng đứng yêu thương
 

Những tấm ảnh treo ở phố Ngô Quyền

Đâu còn là của riêng người nghệ sĩ

Trường Sa đau thương, Trường Sa gian khổ

Gần kề vừa trong một cánh tay ôm.

Những năm qua, nhắc đến liệt sỹ biển Đông, trong văn thơ hay dùng biểu tượng mộ gió. Đây là một hình ảnh đậm chất bi thương. Thời xưa là da ngựa bọc thây. Thời những năm 1980 là mộ gió. Nhưng vẫn có nghĩa trang liệt sỹ trên đảo của đất nước ta. Đó là sự khẳng định chủ quyền. Đó còn là sự khẳng định về chủ tài nguyên. (theo luật tài nguyên môi trường thì nghĩa trang là phần đất tài nguyên thuộc về tài sản đất công). (Tôi bám theo mạch tư tưởng, nên không dừng ở từng câu thơ. Cả bài thơ đọc đã thấy nhân vật trữ tình, cảnh, tình, ảnh, nhạc, và cảm xúc).   

 

Trước mồ liệt sỹ trên đảo Nam Yết


Các em nằm lại đây trước mênh mông biển sóng
Những chân hương bạc trắng vì muối mặn
Trên mộ chí nghẹn ngào ngày sinh tháng mất
Có em nằm xuống mới tròn năm...

Các em chết khi còn quá trẻ
Mười tám, mười chín, hai mươi...
Các em chết không phải vì súng bắn
Mà chết vì sóng đánh
Vì gió quật, mưa tuôn
Vì xây nhà giữ biển...

Ở xa kia dưới đáy đại dương
Có hài cốt của bao người lớp trước
Thành những mỏ neo thiêng
Ghì đảo vào Tổ Quốc...

Và ngay dưới thềm san hô dập dềnh mép nước
Những Gạc Ma, Cô Lin
Còn bao thân xác cha anh
Họ tôn lên quần đảo hiện hình
Trên Biển Đông sừng sững...

Đảo đá giờ đây đã bao nhiêu người đến
Đã xanh xanh màu xanh cây lá
Các em nằm lại đây
Để thôi thúc cát bỏng hoá phù sa
Dáng vóc các em đã tan vào trong gió
Hát yên lành trên những tầng cây.

Một mai
Rạng rỡ dưới trời
Trường Sa nhộn nhịp chân người dựng xây
Lặng yên nghiêng mình phút giây
Tuổi tên mãi nhắc nơi này linh thiêng...


                            Đảo Nam Yết, Trường Sa, tháng 4/2013

Giải phóng đảo từ năm 1975, đến lúc này, Nguyễn Thành Phong đã có một đại ý sáng tạo: Làng mình!
Đã đến mức làng, đối với người Việt mình là thân thuộc, chôn nhau cắt rốn lắm rồi. Theo sự phân tích của các nhà nghiên cứu, hơn một nghìn năm Bắc thuộc mà người Tàu không đồng hoá được nước ta như họ đã đồng hoá các tộc Man Di Nhung Địch chính là do tiếng Việt và làng Việt. Tô nhớ khi học về kinh tế chính trị năm 1980 ở khoa Triết học – Đại học Tổng hợp Hà Nội, Giảng viên có nói, hàng triệu tấn bom do Mỹ thả xuống miền Bắc Việt Nam, chẳng đánh tan được kinh tế làng xã nước ta, lại làm cái ao chuôm cho bà con ta nuôi bèo thả cá. Tôi miên man vậy, vì tứ thơ nó vậy, đến chịu Nguyễn Thành Phong.

 

Trường Sa làng mình


Trưa ngồi quanh gốc phong ba
Ríu ran bàn chuyện cửa nhà nông tang:
- Lợn nái vừa đẻ bầy con
Lứa gà đang ấp, vịt đàn sinh sôi
Ngửa mặt ngóng gió trông trời
Mong cho mưa xuống để tôi thả bò
Rồi đi giồng đậu giồng cà
Hoa gạo không xuống vẫn tra hạt vừng...

Câu ca vun xới gieo trồng
Xôn xao đảo đá sóng lừng nghe không
Nước, phân, cần, giống… đã tường
Trường Sa ấm chuyện mùa màng quê ta.

Buổi trưa ngồi gốc phong ba
Rưng rưng tôi gọi: Trường Sa làng mình...

                              Quần đảo Trường Sa, tháng 4/2013

Nhưng còn ghê gớm hơn khi Nguyễn Thành Phong dựng nên cả một tượng đài ngang ngửa với các cuộc thi sắc đẹp ở đất liền. Đó là Gót Chân Hồng Trên Biển Cả. Ở đâu mà có phụ nữ thì ở đó có tình yêu và sự sống. Quan yếu hơn, ở đó có phấn đấu và bảo vệ. Và, tất nhiên rồi, ở đó có văn minh!

 

Gót chân hồng trên biển cả
 

Những hải trình dằng dặc
Xuyên qua nhiều trăm năm
Những hải đội ra khơi bóng người hoà sóng bể
Biển rập rờn những vỉa san hô
Đảo tượng hình những mỏm đá mồ côi...

Giữa đại dương vươn dậy những dáng người
Vượt qua cái chết không thành mồi cá dữ
Bỏ lại sau lưng bạn chài thân chìm sâu đáy biển
Những chàng trai đất Việt
Níu thuyền xuống san hô
Đá mồ côi trở thành neo buộc
Ngày mở mang bờ cõi...

Rồi tiếp nối bao đời
Sắt thép xuyên vào lòng biển
Rùa bê tông bám vào lòng biển
Mọc những nhà chân cao, nhà giàn
Mọc nơi ở bền gan nhô lên trên sóng gió
Giữa mênh mông thăm thẳm biển trời xa...

Sáng nay những gót chân hồng đã đi ra nơi biển cả
Các em vượt qua những cơn say sóng
Bước thênh thang mát lành trên đảo đá
Bữa cơm trưa có hương vị quê nhà
Khi các em sà xuống dịu dàng bên bếp lính.

Các em vượt qua nỗi sợ hãi thường tình 
Treo mình trên dây lên với nhà giàn
Các em ôm vào lòng những chàng trai biển
Nước mắt oà trên áo lính
Nỗi thiết tha nhung nhớ của đất liền.

Biển động quá ngăn không cho em đến
Xuồng thả xuống mấy lần rồi xuồng lại câu lên
Tàu phải chạy vòng quanh để em vang tiếng hát
Vượt qua đầu sóng cả
Tiếng hát dệt yêu thương
Thành ngọn gió bắc cầu...

Mỗi các em một nét mẹ Âu Cơ
Ngày mang nửa đàn con đi ra nơi biển cả
Các em đến nhà giàn và đảo đá
Mang theo nhớ thương, tươi mát, ngọt lành
Các em thoả nỗi khát khao đất liền
Đảo đá mềm dưới bước chân con gái
Dải san hô muốn hoá bờ đất bãi
Vạt cát mặn muốn mọc lên cây trái
Đảo đá sẽ xanh tươi, đảo đá mãi vững bền!

                    Trường Sa, nhà giàn ĐK1, tháng 4/2013

Tôi xin sang phần thứ 3 của tiểu luận này: Trữ tình quan chiêm ngoại vi. (nhân đây cũng nhắc lại, tôi dùng ngoại vi để chỉ những sự, những việc, những vật khách quan tạo thành cảm hứng cho thơ, còn nội hàm là nội dung hàm chứa những tư duy cấu trúc suy tưởng để cảm xúc theo đó mà tổ chức ngôn từ. Thực ra đó là đại thể. Làm thơ mà như vậy khác chi làm lúa, cứ gieo mùa thì phần lớn có thu hoạch – Làm thơ thuộc về tài hoa của nhà thơ).

Bài thơ Em Vô Tư tả cái tình của các thanh niên đôi tám. Đây thuộc dạng tả tâm lý sinh học. Anh khôn hơn, còn em vờ như không biết, kiểu như con dế vô tư mà ca sĩ Hồng Nhung hát rất hay từ 30 năm trước. Nguyễn Thành Phong làm bài này từ năm 1981. (Con người tài hoa mà). Thôi thì cứ giả lộng thành chân, mà say, mà ước, nghe thơ!

 

EM VÔ TƯ...

 

Em vô tư đến làm tôi sốt ruột

Nắng cứ rơi vàng ngõ phố nhà em

Cây bàng xanh tơ non em đứng tựa chiều êm

Em ngây thơ đến làm tôi nghi ngại.

 

Chiều buông xuống em đứng ngắm trời mê mải

Em quen gửi ánh mắt mình tới những ngôi

                                                          sao cao biếc

Tôi thì như một giọt mực tím

Muốn giây vào trang giấy trắng là em.

 

Giữa mùa đông em ấm mặt trời riêng

Tôi như người đứng giữa ngã ba tồng tuềnh

                                                          gió lạnh

Tôi tìm đến em khao khát làm hành trang

Đường dẫu gập ghềnh xa khao khát chẳng

                                                          lấm chút bụi nào.

Chiếc hộp thư con treo trước cửa nhà em

                                                          có nhiều lá thư rồi

Các chàng trai nói lời yêu nồng nhiệt

Tôi thả vào đây một khoảng giấy nhỏ xinh

Bên bao nhiêu bức thư mà em chưa hề đọc

Lời thầm thì vọng lại nơi tôi:

 

- Xin đừng thôi vô tư

Dẫu vô tư có phút làm sốt ruột

Xin đừng thôi ngây thơ

Dẫu ngây thơ có phút làm nghi ngại!

                  

Trong tình yêu không thể làm người

                                                từng trải

Để tôi còn tìm đến em!


                                                1981

Trữ tình còn bắt đầu từ trạng ngữ thời gian trong Tháng Tư Gõ Cửa. Biến thời tiết – thời gian thành chủ ngữ để nói một chuyện tình. Biến một chuyện tình sang biểu tượng lá đỏ của Trường Sơn “vai áo bạc quàng súng trường”. Rồi liên hệ với tri ân, trước là người lính, sau là em đã nhắc nhở, về lòng biết ơn, về sự trân trọng. Từ một chuyện tình biến thành quan chiêm về vật thể và phi vật thể.

 

THÁNG TƯ GÕ CỬA

 

Bỗng ngỡ ngàng gặp vòm trời hoa xoan

Tháng tư đến như em không hẹn trước

Quyển lịch treo lật một trang nắng biếc

Lấp lánh màu đôi mắt đang yêu.

 

Em mới từ Hà Bắc về buổi chiều

Đêm nhè nhẹ để cho ta đi dạo

Cây bằng lăng tơ non cuối đường

                                      Thợ Nhuộm

Em gọi tên: cây lá đỏ của mình.

 

Cây lá đỏ trong bài hát Trường Sơn

Em vừa gọi tên lên đã về trong thành phố

Để lòng anh rạo rực với tháng tư

Trái tim rung như là mình đang hát.

 

Sau đêm nay, thanh âm của đất trời

                                      nồng nhiệt

Cây sẽ xanh hơn vốn có của mình

Tình yêu đã gõ vào cánh cửa tháng tư

Sau khoảng nắng ban mai là ngập

                                      tràn mùa hạ...


Xin cảm ơn bài hát về lá đỏ

Người lính đã mang theo đến đích

                                      cuối cùng

Như cảm ơn em đã gõ vào cánh cửa

Gọi tình yêu với mùa hạ đi cùng!

                                                4-1982

 

Nguyễn Thành Phong, trong đời và văn nghiệp của mình, gắn bó rất nhiều với Tây Bắc. Tây Bắc là của Thái Mèo. Bài thơ Gặp Em Gái Thái Ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng là tri ân sâu lắng. Trong đời có những khoảng trong veo và mênh mang cảm động. Đâu chỉ là chuyện nam nữ bắt tình. Có những chuyện ngoài lứa đôi, còn là đồng hiện hồi ức đẹp đẽ.

 

GẶP EM GÁI THÁI

Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Anh đã từng lội suối trèo nương

Ăn măng đắng suốt mùa mưa lũ

Đã xuống sông Đà bắt con cá đá

Chảm chấu * còn cay ngọt suốt đời anh.

 

Bàn chân qua bao miền đất trắng đất xanh

Còn say mãi rượu cần tay em vít ống

Quả còn đón hội mùa xuân

Tay anh vẫn nồng nỗi nhớ

Đêm xoè chân có lửa

Bước bập bùng qua tháng qua năm


Khi nhớ về Tây Bắc

Môi ngọt ngào câu xống chụ xôn xao

Là con trai qua bao gian lao

Nhớ Tây Bắc giờ trắng xoá hoa ban

                            

Rực hồng hoa đào ven suối

Hoa pặc - piền tím ngát mắt em thương...


Đêm nay anh gặp lại em

Thành phố phương nam em chưa từng

                                                mơ đến

Anh gặp lại một miền kỷ niệm

Gặp lại khoảng đời sống động

Gió ngàn phóng đãng với non cao

Gặp hồi ức một tình yêu vời vợi

Giữa rừng non sao trời.


Em vào đây giữa bao người

Giữa bao nhiêu tấm lòng nồng hậu

Không kịp có kèn môi anh thổi

Mềm suối mát Nậm La

Không kịp có pí pặp, pí đôi *

Mượt giọng nhà sàn đêm lửa

Đôi bàn tay anh xoè như cánh lá

Và ánh mắt xưa này, em có nhận ra anh ?


                                                1987

 

* Chảm chấu: Một món ăn giản dị của người Thái

* Kèn môi, pí pặp, pí đôi: Các nhạc cụ dân gian của người Thái


Cũng như Bản Phiềng Ngùa. Hồi ức thật đẹp. Tiếc nuối thật đẹp. Quan chiêm thật đẹp. Và tài hoa. Đã là tài hoa thì không sở hữu, cũng không nên sở hữu, phải vậy không?

 

BẢN PHIỀNG NGÙA

 

Phiêng Ngùa Phiêng Ngừa

Sương lâng lâng trắng ngực bản xa mờ

Tuổi thơ ta vẫn còn nguyên ở đó

Lòng suối sâu giữ một viên sỏi đỏ

Ta đánh rơi rồi giờ vẫn tiếc ngẩn ngơ.


Phiêng Ngùa Phiêng Ngùa

Hoa bí trổ những triền đồi xao xác

Mùi cơm lam thơm lựng trước mùa trăng

Ta lớn vổng lên rồi không kịp biết

Sao lại hay buồn, cô bạn gái ngày xưa.

 

Phiêng Ngùa Phiêng Ngùa

Thế giới bé con ngun ngút trời núi đá

Ta không hiểu vì sao ta trèo cây thật giỏi

Những chùm quả chín vàng dưới những

                                                vòm lá tối

Như ám ảnh thần kỳ đi suốt ấu thơ.

         
Phiêng Ngùa Phiêng Ngùa

Ta một mảng của rừng về thành phố

Chuyện săn gấu, chuyện rừng ma vẫn luôn

                                                về trong giấc ngủ

Những chùm quả trong đời không dễ hái

Mà bản Phiêng Ngùa vẫn đang gọi tên ta!

 

                                                          1993

Nguyễn Thành Phong ít làm thơ lục bát. Cái làm báo phóng sự nó cứ hay khuôn khổ. Nhưng Nỗi Nhớ Từ Rừng bắt buộc phải thơ vần điệu. Vần điệu mới tải được nỗi tình. (Nguyễn Thành Phong cũng hay dung từ “nỗi”. Cũng là một nhãn tự, ông hay lựa chọn dấu ngã nếu có thể phân tâm ba dấu huyền, ngã, nặng). Và ông khéo dùng điển. “Cái lá rừng chạm vai tôi rất mềm!”. Chuyện rằng con hổ không thoát ly rừng, vì đang đi, chạm vào lá rừng, là quên mất mình định đi đâu. Nguyễn Thành Phong không quên. Nỗi nhớ ấy, như chiếc lá mềm chạm vai. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo rất thân với Nguyễn Thành Phong, trong bài Uống Rượu Với Nguyễn Du, đảo câu thơ Kiều “Mai sau còn có bao giờ” thành câu kết, đổi chữ còn thành chữ dù, từ nghi vấn, thành nghi vấn mặc định:

Bao giờ

       dù có

               mai sau…

Cái tài hoa của tác giả bài hát Làng Quan Họ Quê Tôi (thơ Nguyễn Phan Hách) và Khúc Hát Sông Quê (thơ Lê Huy Mậu), thì khỏi phải bàn. Đều là hồi ức tái hiện để mà nhớ mãi không nguôi!          

        

NỖI NHỚ TỪ RỪNG


Bài thơ tôi viết ở rừng.

Vần gieo sao cứ ngập ngừng... lời xa

Cánh rừng này đã từng qua

Nôn nao... giờ mới hiểu là nhớ đây!


Cái lá rừng cứ lay lay

Như tay em vẫy sáng ngày tôi đi

- Bông hoa đỏ lạ, tên gì?

Gió rừng như cũng thẩm thì giọng em

Tiếng chim khắc-khảm * trưa mềm

Gọi nhau rồi liệu có tìm thấy nhau?


Lên núi cao vào rừng sâu

Ước sao mình ở bên nhau đi cùng

Bàn chân vừa chạm đỉnh rừng

Gọi tên em vang lòng thung đấy rồi...

 

Biết em còn ở xa xôi

Cái lá rừng chạm vai tôi, rất mềm!

Dốc Cao Pha, 26-6-1982

* Chim khắc khảm: Chim từ quy.

 

Nguyễn Thành Phong ở bên ta, bản lĩnh như một sự tin tưởng. Thời gian dẫu có lúc làm ông buồn, nhưng cả hành trình của thơ ông là một cuộc bền bỉ với cái đẹp, với nhân sinh. Ông luôn là sự phức tạp thăng hoa của tri thức – tri huệ - tri ân…

Nguyễn Thành Phong làm thơ như là thiên chức. Ông tự ý thức chính mình để mà luận lý bằng văn chương. Có thể nói, mỗi bước đi của ông vừa là quan giác, vừa là hành thiện, vừa là giới mĩ cho sáng tác và cuộc đời. Và cứ như thế ông cần mẫn khoái hoạt mà bước.

Và ông cảm động cái nghĩa tận của con người. Không có đại bác lễ trọng. Không có rầm rộ hàng dài xe nọ xe kia. Chỉ là sự đưa tiễn cuối cùng bình dị của những người bình thường đến mức vô cùng là bình thường. Nhưng Nguyễn Thành Phong vẫn định vị luận cảm mình trong mưa bụi Ngày cuối năm đi giữa trời mưa bụi /Ta ảo mờ một hạt nước đang bay...”

 

BAY TRONG MƯA BỤI
 

Mưa bụi bay bay giăng kín đường làng

Những tiếng nói cười vấn vít nghĩa trang

Sáng nay bao bước chân từ phía ấy

Khói nhang thơm lan tỏa nóng nàn...


Trong tỏ mờ đóng cuối đông quẩn gió

Lặng cúi đầu nơi cốt xương khuất lấp

Xin âm dương mở lối an lành

Người nay đón người xưa về gặp mặt.


Những con người tận tụy và cay đắng

Trải phận mình trong binh lửa, nông tang

Những hạt nước tụ hình bao khuôn mặt

Thành bụi mưa bay vương vẫn khắp làng.


Trên thôn xóm cha ông muôn đời lộng lẫy

Những ngôi nhà dưới những tầng cây

Đất vườn cũ bao dấu chân người cũ

Gió thanh lành nguyên khí ấm nơi đây...


Người tiếp người sinh ra trên đất này

Người tiếp người bền bỉ bước chân xa

Người tiếp người khổ đau và hạnh phúc

Cứ ra đi rồi lại trở về...


Ta đã sống như bao người đi trước

Đầy nhọc nhằn tin cậy với mê say

Ngày cuối năm đi giữa trời mưa bụi

Ta ảo mờ một hạt nước đang bay...

Cảm ơn bạn đọc đã cùng tôi theo thơ Nguyễn Thành Phong đến giờ. Thơ, đôi khi đi cùng cái ngoài thơ. Đời có thể đôi lúc vắng thơ, nhưng thơ không thể vắng đời. Tôi nghĩ, đời sống tinh thần và non nước cảnh tình là những bức ảnh đẹp nhất mà thơ Nguyễn Thành Phong dâng tặng!

Hà Nội, tháng 8/2025.

B.V.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm