TIN TỨC

Những bóng hồng trong thơ Hoài Vũ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-07-03 18:21:59
mail facebook google pos stwis
2117 lượt xem

 NGÔ XUÂN HỘI

Vàm Cỏ Đông”, “Anh ở đầu sông em cuối sông”, “Đi trong hương tràm”, “Chia tay hoàng hôn”… những bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Hoài Vũ về miền hạ, về đồng bằng sông Cửu Long, cụ thể là về con sông Vàm Cỏ và tỉnh Long An viết trong những thời gian và hoàn cảnh khác nhau, bài nào cũng thấp thoáng những bóng hồng. Ông “thân cư thiên di”, thơ ông đào hoa hơn bậc sinh thành, “cư giới quần thoa”.

Đầu tiên là Vàm Cỏ Đông. Dầu trước đó, những năm 1954 - 1955 khi tham gia gánh đất đắp nền đường sắt Hà Nội – Lào Cai, Hà Nội – Lạng Sơn anh thanh niên Nguyễn Đình Vọng có làm thơ, nhưng những bài thơ ồn ào câu chữ ấy không cần cho ai, không in ở đâu và anh lập tức quên chúng. Chỉ đến khi vào chiến trường, trực tiếp tham gia chiến trận, chứng kiến những tấm gương dũng cảm hy sinh của quân dân Nam bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ một mất một còn, thơ mới như cỏ bật dậy sau mưa trong tâm hồn anh và Vàm Cỏ Đông giống như một tác phẩm đầu tay vậy.

Khoảng giữa năm 1963 - Hoài Vũ bồi hồi nhớ lại - Sau một thời gian tập luyện ở Hòa Bình, đoàn phóng viên chiến trường gồm các nhà thơ Hoài Vũ, nhà viết kịch Ngô Y Linh, nhà báo Trần Đình Vân, nghệ sĩ điện ảnh Kim Chi, đạo diễn Hồng Sến, nghệ sĩ múa Thái Ly… được lệnh lên đường đi B, tăng cường cho chiến trường miền Nam. Bốn tháng trời đêm nghỉ ngày đi, đến cuối năm 1963 các anh đặt chân tới căn cứ Trung ương cục miền Nam. Đầu năm 1964 ta đánh bốt Hiệp Hòa, Hoài Vũ và Giang Nam được Trung ương cục phái xuống chiến trường Long An công tác. Trong đêm tối, đoạn sông Vàm nơi các anh băng qua tàu tuần tiễu của Mỹ bắn xối xả. Mặc, cô gái giao liên vẫn bình tĩnh bơi xuồng. Hình ảnh cô giao liên trẻ thoăn thoắt bơi chèo trong tiếng gầm của bom súng địch, khiến các nhà thơ cảm phục. Giang Nam mở bồng lấy giấy bút viết bài thơ Qua sông Vàm Cỏ, Hoài Vũ viết Vàm Cỏ Đông.

Bài thơ theo lối thủ vĩ ngâm, 44 câu thất ngôn chia làm 11 khổ. Mở đầu và kết thúc là câu hỏi:“Ở tận sông Hồng, em có biết/ Quê hương anh cũng có dòng sông...” Hỏi mà không cần nghe trả lời; là để giãi bày. Viết một mạch xong bài thơ, đề phòng thất lạc ông chép làm hai bản. Một bản nhét xuống đáy bồng, một bản nhờ giao liên chuyển lên Đài phát thanh Giải Phóng. Khi ông dừng bút cũng là lúc giao liên đến đón. “Mình trao ngay một bản chép tay cho giao liên, không ngờ sau đó không lâu đài phát bài thơ này. Rồi bài thơ ngược đường Trường Sơn ra tới miền Bắc và đăng trên báo Văn nghệ”. Năm 1966 Vàm Cỏ Đông được nhạc sĩ Trương Quang Lục phổ thành bài hát cùng tên, được Đài Tiếng nói Việt Nam giới thiệu trên làn sóng vô tuyến điện qua giọng hát của các ca sĩ Trần Thụ, Tuyết Nhung và tốp ca nữ với phần đệm của dàn nhạc dân tộc Đài Tiếng nói Việt Nam, lập tức trở nên nổi tiếng, đến mức suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, cô giáo Hoàng Kim Vinh dạy văn ở trường cấp 3 Thạch Thành, Thanh Hóa say mê thi phẩm, say mê luôn người làm thơ dù chưa một lần gặp mặt. Năm 1975 đất nước thống nhất, từ Thanh Hóa  cô đã lặn lội vào Sài Gòn, đến cơ quan báo Văn nghệ Giải phóng đóng ở đường Công Lý tìm gặp tác giả. Không may cho cô, những ngày ấy Hoài Vũ bận dự cuộc họp của cơ quan Trung ương cục bên kia cầu Bình Triệu. Trong thư gửi ông trước khi về Bắc, cô cho biết  mình còn son rỗi, rất mong được gặp ông, hình dung ông là một người trai anh tuấn, có nước da trắng, với mái tóc bồng nghệ sĩ. Chao ôi là tình yêu, là sự lãng mạn. Nó có thể nâng con người lên chót đỉnh hạnh phúc, nhưng cũng có thể biến con người thành những kẻ lỡ tàu trên sân ga số phận. Nhà thơ Nguyễn Duy, đồng hương Thanh Hóa của cô giáo Kim Vinh và anh chị em ở tòa soạn hôm ấy, đã chăm lo chu đáo chỗ ăn nghỉ cho cô. Một sự an ủi đầy nhân tính.

Bóng hồng tiếp theo hiện ra rõ nét hơn trong bài thơ Đi trong hương tràm tác giả viết năm 1968. Năm ấy chiến dịch Mậu Thân đợt 1, Hoài Vũ theo chân bộ đội vào Sài Gòn, trên đường đi bị sốt phải nằm lại trạm, được cô giao liên tên Lan chăm sóc tận tụy, bắt cá nấu cháo cho ăn, móc võng nằm cạnh giữa rừng tràm để động viên anh mau bình phục. Ít lâu sau khi tham gia chiến dịch Mậu Thân đợt 2 trở ra, trên đường về đi qua nơi ở cũ nhìn thấy cảnh rừng tràm tan hoang, Hoài Vũ gặp và nhận ra ngay hai cô gái của trạm, anh hỏi hai cô tin tức của Lan. Hai cô sụt sùi nói trong nước mắt: “Sau khi đưa anh qua sông trở về. Lan bị máy bay địch bắn chết dưới gốc cây tràm”. Hoài Vũ chết điếng cả người, xúc động viết bài thơ Đi trong hương tràm:“Em gửi gì trong gió trong mây/ Ðể sáng nay lên Vàm Cỏ Tây/ Hoa tràm e ấp trong vòm lá/ Mà khắp nơi mây hương toả bay!...”. 

Cũng năm 1968, nhà thơ xuống địa bàn tổ chức trại viết văn cho Long An. Trại có 25 người, sau này hy sinh hết. Cô gái tên Bảy Nhàn, quê Tân Trụ giúp anh chuyển bài và trả lại bài đã chấm cho học viên. Bảy Nhàn đẹp lắm, gặp, Hoài Vũ mê ngay. Cô trồng rau muống, sáng nào cũng đi ngang qua nơi anh ở để ra ruộng tưới rau. Đợi cô tưới xong, Hoài Vũ ra vườn nhìn dấu chân. Hôm nào cô tưới thoảng, dấu chân còn; hôm nào cô tưới đẫm, dấu chân mất nhìn không được Hoài Vũ buồn. Từ đó anh làm bài thơ Dấu chân em đâu?: “Chiều nay ra vườn rau / Muống lên xanh một màu/ Đất ấm tình người xới / Mà dấu chân em đâu?/ Đất vui nhiều lắm đất / Nhớ chia ta một phần / Để tim này như đất / Được in lên bàn chân….”. Xong, anh chép để kèm trong đống bài của học viên rồi đưa cho cô. Ngày sau không thấy cô ra ruộng, anh hỏi thăm nhà thơ Lê Giang ở cùng. Lê Giang kêu trời: “Đêm qua đọc bài thơ mày tặng, con nhỏ trùm mền khóc miết. Mày làm thơ gì mà ác ôn dữ.” 

Lớp học kết thúc, Hoài Vũ và Bảy Nhàn chia tay, cô về miền hạ, nhà thơ về miền thượng. Nhớ cô, Hoài Vũ viết bài thơ Em ở đầu sông anh cuối sông gửi gắm tình cảm sâu nặng của mình: “Anh ở đầu sông em cuối sông / Uống chung dòng nước Vàm Cỏ Đông / Thương nhau đã chín ba mùa lúa/ Chưa ngày gặp lại nhớ mênh mông.... Ý thơ trùng với một ý trong bài thơ Trường tương tư của Lương Ý Nương, theo truyền thuyết sống vào cuối nhà Đường, thời Hậu Chu (907-955) bên Trung Quốc: Quân tại Tương giang đầu/ Ngã tại Tương giang vĩ/ Tương tư bất tương kiến/ Đồng ẩm Tương giang thuỷ”. Nhưng đây không phải là một bài thơ tình thuần túy, tác giả đặt câu chuyện rung động của đôi nam nữ trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, từ những tâm tình sâu kín đến công việc thường ngày và nhờ đó nâng tầm nó lên:“…Ngày em đi cấy, đêm du kích/ Một nắng hai sương, má rám hồng/ Chẳng được cùng em vào chiến dịch/ Nghĩ dạo này thêm nhớ mênh mông…” Ít lâu sau, Bảy Nhàn bị địch bắt trong một trận phục kích, bị đày ra Côn Đảo. Từ đó hai người bặt tin nhau. Năm 1978 “Anh ở đầu sông em cuối sông” được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc. Khi lên sóng đài phát thanh, đã gây chấn động dữ dội trong những người yêu thơ nhạc đất nước, trở thành một bài ca đi cùng năm tháng.

Đi và đi, mỗi đợt xuống cơ sở của Hoài Vũ thường kéo dài vài ba tháng. Trở về, hành trang nhà thơ mang nặng thêm bởi khoảng chục bài thơ và một tập truyện, ký. Trong điều kiện chiến đấu thắt ngặt, sức làm việc ấy thật đáng nể.

Một lần Hoài Vũ vượt lộ 10 (đoạn giáp ranh giữa Hóc Môn và Long An) về căn cứ. Đang mùa gặt, rơm rạ chất đống trên đường. Trong đêm không ai trong đoàn phát hiện ra những chiếc xe thiết giáp của địch ngụy trang dưới những đống rơm, vì thế khi băng qua lộ các anh bị địch bắn xối xả. Mạnh ai nấy chạy. Hoài Vũ chạy qua lau lách, qua bãi mía và các bụi rậm, cả thân hình trầy xước, bầm dập tướp máu, cuối cùng anh dừng chân trước một ngôi nhà nằm trong ấp chiến lược. Nhà có hai cô gái, hai chị em. Cô chị tên Hạnh, cô em tên Duyên. Anh gõ cửa xin vào tá túc. Một cô lên tiếng: “Ông là ai mà gõ cửa giờ này, không nghe tiếng súng ngoài kia sao?…”. Hoài Vũ trả lời trong tuyệt vọng: “Thưa cô, tôi chính là người trong cuộc đang bị tiếng súng truy sát”. Do dự một hồi, cô gái mở cửa. Nhìn bộ dạng của anh, cô buột thốt: “Thôi đúng là mấy anh rồi!” . May cho Hoài Vũ, anh đã gõ trúng cửa nhà một cơ sở cách mạng. Hai chị em bắt tay ngay vào việc chăm sóc các vết thương cho anh, vừa làm vừa khóc. Biết không thể ở lâu, dù còn đau đớn Hoài Vũ vẫn phải từ biệt hai cô để tìm về căn cứ. Buổi chiều muộn, trong vai một cặp vợ chồng Hoài Vũ khoác bộ quần áo trắng mới được hai cô trang bị vác cuốc đi trước, cô Hạnh trong vai người vợ xách giỏ đi sau, theo lối mòn ra khỏi ấp chiến lược. Dù rất hồi hộp nhà thơ vẫn kịp nhìn thấy lối đi dưới chân mình rụng đầy hoa khế tím. Bài thơ Chia tay hoàng hôn ra đời như thế: “Anh phải về thôi xa em thôi / Ngoài kia phiên chợ vãn lâu rồi / Giọt nắng cuối ngày rơi xuống tóc / Mà lời từ biệt chẳng lên môi…”  Sau đại thắng mùa Xuân 1975 nhạc sĩ Thuận Yến đã phổ nhạc bài thơ. Và Chia tay hoàng hôn, đoạt Giải bài hát được nhiều người ưa thích năm 1992-1993 của Đài Tiếng nói Việt Nam...

Trải qua cuộc kháng chiến cô Duyên hy sinh, cô Hạnh - hạt gạo trên sàng còn lại đến hôm  nay.

*

Là nhà thơ, phóng viên chiến trường, Hoài Vũ thường đi giảng bài trong các trại sáng tác văn học do thành đoàn Sài Gòn tổ chức. Để bảo đảm bí mật, học viên ngồi nghe giảng phải bịt mặt, khi có công việc, trao đổi với nhau bằng bút đàm. Một hôm ông Năm Xuân (Mai Chí Thọ), Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định bảo ông:

“Này Hoài Vũ, có con bé này hay lắm. Mày ưng, tao làm mai cho.”

Hoài Vũ gật đầu, vì năm ấy (1972) ông đã 37 tuổi, không còn trai trẻ nữa. Điều kiện Năm Xuân đặt ra là Hoài Vũ phải ưng thì ông mới bảo cô gái mở mạng cho xem mặt. Điều kiện oái oăm, nhưng Hoài Vũ vẫn chấp nhận. Vì “Con bé ấy” ông chưa thấy mặt, mà dáng hình thì đã thấy. Người có dáng hình như thế, không thể mang gương mặt xấu. Kết quả chứng minh dự cảm của ông đúng. Khi tấm mạng che mặt được mở ra, cha mẹ ơi, đứng trước Hoài Vũ là cả một núi sông diễm lệ! Ít lâu sau, đám cưới của hai người diễn ra, ông mai Năm Xuân đứng vai chủ hôn. Sự kiện quan trọng này của cuộc đời được Hoài Vũ kể trong bài thơ Qua cầu tre nghiêng nghiêng:Người tôi yêu, một cô giáo Sài Gòn/ Ngày nàng đến chiến khu đồng còn trắng nước/ Tôi, người giao liên, dìu nàng qua cầu tre nghiêng nghiêng/ Có ngờ đâu, cây cầu tre, bỗng thành cầu Ô Thước…” Thành cầu Ô Thước, vì khi vợ ông có bầu, tổ chức bố trí cho cô về lại Sài Gòn hoạt động hợp pháp. Từ đó hai vợ chồng xa nhau.

Ba năm sau, ngày 30/4/1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Hoài Vũ về Sài Gòn  làm việc trong cơ quan Văn nghệ Giải phóng đóng ở đường Công Lý (Nam Kỳ Khởi Nghĩa ngày nay). Một hôm ông Thanh Nho, Giám đốc Đài phát thanh Giải phóng bảo ông:

“Này Hoài Vũ, tao vừa gặp vợ mày ở chỗ cầu Thị Nghè. Cô ấy hỏi thăm mày. Sao mày không về thăm cổ?”.

“Em có biết chỗ nào đâu mà về thăm, anh Hai?”.

“Dễ ợt! – Thanh Nho bảo ông - Từ đây mày đi xuôi Sở thú, qua cầu Thị Nghè hỏi thăm về ấp Nhất Trí là ra liền à.”

Theo lời chỉ dẫn của Thanh Nho, Hoài Vũ tức tốc lên đường. Qua khỏi cầu Thị Nghè gặp trạm gác của bộ phận Quân quản giải phóng, ông chưa kịp ghé vào hỏi thăm thì mấy thanh niên trong trạm đã xông ra chặn đường, hỏi ông đi đâu? Ông nói lý do.

“Vậy ông tìm nhà ai ở ấp Nhất Trí?”

“Nhà bà Thơm”

“Bà Thơm có con không?”

“Có, cô Thơ”

“Cô Thơ có chồng chưa?”

“Có rồi. Tôi là chồng của cô ấy nè!”

“A, thằng Trung úy ngụy trốn cải tạo. Bắt lại!”

Một quân quản mừng rỡ kêu to. Lập tức ông bị bắt vào giam trong một ngôi nhà sau bốt từ đó cho đến hết đêm, không có cách gì để bày tỏ. Sáng hôm sau có người đến mở khóa phòng đưa cho ông một cái khăn, bảo ra ngoài rửa mặt. Nhìn sang bên kia đường ông chợt thấy Hữu Đạo, lãnh đạo quân quản quận Bình Thạnh đi ngang qua. Hữu Đạo quê Đồng Tháp, từng nhiều lần nghe ông giảng bài ở chiến khu. Mừng quá, ông la to:

“Đồng Tháp! Đồng Tháp! Vào đây, vào đây mau!”

Hữu Đạo đi vào, ngạc nhiên hỏi ông:

“Sao thầy lại ở đây?”

Ông kể vắn tắt sự tình. Hữu Đạo kêu trời:

“Nhầm rồi, nhầm rồi. Thả thủ trưởng tôi ra ngay!”

Thế là ông được thả. Khi ông về tới nhà, con gái ông, đứa con duy nhất của vợ chồng ông đến nay đã được hơn hai tuổi, ngơ ngác nhìn cha.

Hóa ra là thế này, năm 1972 lúc cô Thơ vác cái bụng bầu về lại Sài Gòn. Không sao giải thích được với bà con lối xóm về việc con gái mình không dưng có chửa, má cô mới bày một đám cưới giả, sau đó ra chợ mua  mấy món đồ về giả làm quà cưới tặng bà con trong vùng, rồi bịa ra chuyện chồng con gái bà là Trung úy quân biệt động, đang “uýnh” nhau với Việt cộng ngoài Quảng Trị. Cả phía địch và ta ghi nhận điều này, vì thế khi nhà thơ tự giới thiệu mình là chồng cô Thơ, ông bị bắt là chuyện tất nhiên.

Ngẫm kỹ việc bé cái nhầm của các quân quản giải phóng buổi thành phố hỗn quân hỗn quan, càng thấy Hoài Vũ là người có chữ “Thọ” to tày đình. Bởi lúc ấy nếu có một quân quản nào đó nổi hứng cách mạng “cách cái mạng ông” thì cũng bằng huề.

Còn từ việc ông lấy vợ, lại thấy cần nhắc lại một chân lý có từ thời ông Ađam và bà Eva ăn trái cấm: “Ngọt ngào không có gì bằng tình yêu, nhưng cay đắng cũng không có gì bằng tình yêu”. Ấy là đoạn kết câu chuyện tình giữa ông và Bảy Nhàn. Ngày Côn Đảo giải phóng, Bảy Nhàn ra tù. Khi cô về lại đất liền, biết tin Hoài Vũ đến thăm. Đón ông, cô bảo: “Anh chờ em một lát”, rồi đi vào phòng trong. Lát sau cô trở ra, trên tay cầm một tờ giấy nứa đã úa vàng, ấy là bài thơ “Dấu chân em đâu?” ông viết tặng ngày nào. Bài thơ đã theo cô ra ở tù Côn Đảo. Nâng bài thơ trên tay, Bảy Nhàn nói giọng run run: “Của anh. Giờ em xin trả lại cho anh!”

Nhận lại bài thơ kỷ vật nhà thơ ngồi lặng im, thấy cay cay nơi khóe mắt.

 TP Hồ Chí Minh, ngày 5-12-2018
(
Nguồn: Tuần báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam số 4+5+6 (2019) Tết Kỷ Hợi)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm