TIN TỨC

Roman Jakobson định nghĩa “Thế nào là thơ?”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-06-06 07:07:28
mail facebook google pos stwis
3926 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

Roman Jakobson (1986-1982) là nhà Thi pháp học lừng danh người Mỹ, gốc Nga. Chuyện tôi đọc và kể lại dưới đây về định nghĩa THƠ của Roman Jakobson là từ sách THƠ, THI PHÁP VÀ CHÂN DUNG của Đặng Tiến, (Nxb Phụ nữ, 2009) và sách PHÊ BÌNH VĂN HỌC THẾ KỶ XX của Thụy Khuê, (Nxb Hội Nhà văn, 2018). Riêng về Ngữ học, tôi dẫn theo Ferdinand de Saussure (1857-1913), sách GIÁO TRÌNH NGÔN NGỮ HỌC ĐẠI CƯƠNG, (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973).

Theo Đặng Tiến, Roman Jakobson cho rằng: “Muốn biết thơ là gì, thì phải đối lập với cái không phải là thơ”. Đặng Tiến dẫn tiếp: Roman Jakobson nêu câu hỏi, “Thi tính phát hiện cách nào?”. Và lý giải: “Một từ được cảm nhận như một từ, chứ không phải cái thay thế cho sự vật được gọi tên, hay một bùng vỡ cảm xúc.Rằng là: từ pháp và cú pháp, ý nghĩa, ngoại hình và nội hình của chúng không phải là những chỉ dấu dửng dưng của thực tại, mà chúng có trọng lượng riêng và giá trị nội tại.”

“Tóm lại, thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”. (Đặng Tiến. Sđd, tr.26).

Nhắc lại ý kiến này của Roman Jakobson: “Khi thi tính, chức năng thi ca chiếm vị thế chủ đạo trong một tác phẩm văn chương, thì ta gọi là thơ”, là để lưu ý rằng, Roman Jakobson đang truy vào “cái nên Thơ”, cũng tức là đang truy vào NỘI DUNG của cái gọi là thơ, nhằm trả lời câu hỏi “Thế nào là Thơ”, để tìm cách định nghĩa Thơ. Như vấn đề mà Roman Jakobson nêu, thì tôi nghĩ, cái mà ông đang truy tìm là THI TÍNH. Nhưng, rốt cuộc, THI TÍNH là cái gì và nó tồn tại như thế nào trong Thơ?

1.

Những trích dẫn ý kiến của Roman Jakobson nêu trên, thật không dễ hiểu. Câu hỏi là tại sao Roman Jakobson lại cho rằng: “Một TỪ (tôi viết hoa) được cảm nhận như một TỪ, chứ không phải cái thay thế cho sự vật được gọi tên, hay một bùng vỡ cảm xúc…”, lại là dấu hiệu để căn dựa vào, nhằm phát hiện ra THI TÍNH?

Khi khẳng định như vậy, có phải chăng là Roman Jakobson muốn nói rằng, Thi pháp là cái khiến THI TÍNH được bộc lộ ra?! Nói dễ hiểu hơn, chất thơ, hay một tác phẩm văn chương chỉ được xác định là Thơ, khi THI TÍNH giữ vai trò chủ đạo. Và, mà để có nó, tức là để có THI TÍNH, thì phương pháp sử dụng TỪ (từ pháp), phương pháp tạo lập câu thơ (cú pháp), phải bằng/ là một cơ chế đặc biệt sáng tạo thế nào đó, để ý nghĩa “ngoại hình” và “nội hình” của chúng (của TỪ định danh Sự vật – Hiện tượng – Quan hệ... trong thực tại), “không phải là chỉ dấu dững dưng”, mà tạo ra một giá trị mới, “có trọng lượng riêng và giá trị nội tại”.

2.

Vậy THI TÍNH là cái gì? Nó xuất hiện ra sao và tồn tại như thế nào trong Thơ?

2.1. Chính Roman Jakobson đã nói: “Thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mỹ” (Thụy Khuê. Sđd, tr.239). Cũng chính Roman Jakobson còn nhấn mạnh rằng, khác với văn xuôi, “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”. (Đặng Tiến. Sđd, tr.16). Phổ biến hơn, cũng là nôm na dễ hiểu hơn, người ta thường nói, “Thơ là nghệ thuật ngôn từ”!

Tất cả những cách tiếp cận thơ như trên, rút lại đều cùng hướng đến nhận thức rằng THI TÍNH trước hết là cái nằm ở trong ngôn ngữ Thơ, chứ không phải ngôn ngữ nói chung. Nhưng “Thế nào là ngôn ngữ Thơ?”. Trả lời câu hỏi này, rõ ràng không có cách nào khác hơn, là phải tìm đến tính ĐA NGHĨA HÀM ẨN của TỪ, cũng là của ngôn ngữ nói chung.

2.2. Ferdinand de Saussure cho rằng: “Tín hiệu ngôn ngữ là võ đoán” (F.de Saussure, Sđd, tr.122), tức là không lý do, là không tìm được căn nguyên mối liên hệ giữa vỏ âm thanh (cái biểu hiện) và ý nghĩa (cái được biểu hiện) trong một tín hiệu ngôn ngữ (TỪ), cũng như căn nguyên mối liên hệ với các tín hiệu ngôn ngữ khác (TỪ khác). Riêng tôi thì cho rằng: TÍN HIỆU NGÔN NGỮ RA ĐỜI THEO CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN – NHẬN BIẾT. ĐẠI DIỆN cho cái gì, và căn cứ vào cái gì để NHẬN BIẾT cái gì, là những điều tôi sẽ trình bày dưới đây.

2.2.1. Trước tiên, tôi tán đồng luận đề của Ferdinand de Saussure, rằng TỪ là một tín hiệu ngôn ngữ gồm hai mặt âm và ý gắn bó với nhau “như hai mặt của một tờ giấy” (F.de Saussure, Sđd, tr.197). Một mặt là hình thức công cụ chuyển tải, chính là âm thanh (lời nói), hoặc là ký tự (chữ viết); một mặt là nội dung thông điệp, chính là ý nghĩa của TỪ, được ký hiệu của TỪ ấy chuyển tải.

Lời nói, hoặc chữ viết, thì như là cái vỏ hình thức, mang tính ĐẶC TRƯNG DÂN TỘC; còn nghĩa là cái ruột nội dung, thì mang tính PHỔ NIỆM NHÂN LOẠI. Thí dụ người Việt nói “cái bàn ăn”, thì người Anh nói “Dining table”, tiếng nói và chữ viết khác nhau là thế, nhưng ý nghĩa khái niệm về sự vật, cơ bản không có gì khác nhau cả.

2.2.2. Tính ĐẠI DIỆN thể hiện ở cái hình thức vỏ âm thanh, hoặc kiểu ký tự. Đó là tùy vào sở thích, có chất lượng văn hóa của mỗi dân tộc, mà dân tộc đó chọn một loại âm thanh, và/ hoặc một kiểu chữ viết nhất định, để định danh (đặt – gọi tên) cho Sự vật – Hiện tượng – Quan hệ... của thực tại; sao cho, khi âm thanh, hoặc chữ viết đó, được gọi lên bằng lời, hoặc viết ra thành chữ, theo cách của dân tộc đó, thì phần ý nghĩa, được ký hiệu bằng âm thanh, hoặc bằng chữ viết ấy, sẽ được tái hiện trong cảm thức, trong nhận thức ngôn ngữ của người ta, cho người ta NHẬN BIẾT Sự vật – Hiện tượng – Quan hệ... đã được đặt – gọi tên ra, bằng chính âm thanh, hoặc bằng chính chữ viết ấy.

Nhưng tại sao lại chọn âm thanh để làm ký hiệu ngôn ngữ? Đây là vấn đề không thuộc câu chuyện mà tôi đang kể ở đây. Chỉ nói gọn là vì, theo tôi, âm thanh là một loại vật chất dạng sóng, có giải phổ tần tách biệt nhận biết vô cùng rộng lớn và cực kỳ linh hoạt cho năng lực mô tả đủ mọi sắc thái tồn tại của Sự vật – Hiện tượng – Quan hệ... trong tồn tại, nên mới biệt phân, mới định biệt... tồn tại được, tức là mới đặt – gọi tên cho sự tồn tại theo CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN – NHẬN BIẾT, để mới NHẬN BIẾT tồn tại được.

2.2.3. Trở lại vấn đề đang nói ở đây, rằng CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN – NHẬN BIẾT, tức là Đại diện để Nhận biết cái Đại diện đó, cho thấy TÍN HIỆU NGÔN NGỮ (TỪ) chỉ như là một dấu hiệu âm thanh, mà không phải là toàn bộ âm thanh có thể phải có, cũng không cần phải gồm toàn bộ âm thanh như thế, vì chỉ cần một chỉ dấu biệt phân - định là đủ.

Vì thế, nên không phải tín hiệu ngôn ngữ cụ thể ấy (TỪ) là toàn bộ ý nghĩa, tức là nội dung, của chính nó. TÍN HIỆU NGÔN NGỮ MANG TÍNH ĐẠI DIỆN – NHẬN BIẾT, nên chỉ khi được sử dụng, tức là khi tham gia vào hoạt động ngôn ngữ, vào hoàn cảnh ngôn ngữ (ngữ cảnh) nào đó, thì một nét ý nghĩa cụ thể nào đó, gồm chứa trong tín hiệu ngôn ngữ đó (trong TỪ ấy), sẽ được thể hiện ra.

CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN – NHẬN BIẾT trong thành tạo Từ, tức tín hiệu ngôn ngữ, đã lý giải vì sao tên gọi Sự vật – Hiện tượng – Quan hệ... trong tồn tại, không đồng nhất một – một với chính Sự vật – Hiện tượng – Quan hệ... được tín hiệu ngôn ngữ (TỪ) ấy định danh. Vì vậy, nghĩa của TỪ, luôn là một khối HÀM ẨN, do vỏ âm thanh, hoặc ký tự (chữ viết), được cộng đồng ngôn ngữ lấy làm đại diện, để khi nói hoặc viết sẽ đượcgợi ra, sẽ phát tác ra, một cách phù hợp với hoàn cảnh, mà TỪ đó xuất hiện.

HÀM ẨN nghĩa, do vậy, chính là đối tượng của Thơ; chính là cơ sở để Roman Jakobson khẳng định “Thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”; HÀM ẨN nghĩa đó cũng chính là THI TÍNH.

2.2.4. Như vậy là nếu TỪ không được thành tạo theo CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN – NHẬN BIẾT, để một cách khách quan, một cách mặc nhiên, TỪ luôn là một ĐA NGHĨA HÀM ẨN, thì Thơ sẽ không có đối tượng khai thác, không tìm được công cụ để phản ánh, nghĩa là sẽ không có ngôn ngữ thơ, tức là sẽ không có Thơ, như một nghệ thuật phản ánh.

Ngôn ngữ Thơ, do vậy là ngôn ngữ HÀM ẨN, ngôn ngữ ẨN DỤ, nói khái quát, thì đó là ngôn ngữ HÌNH TƯỢNG (hình tượng của ngôn ngữ).

Mặt khác, như trên tôi đã nói đến hoàn cảnh ngôn ngữ (ngữ cảnh), tức là nói đến tín hiệu ngôn ngữ (TỪ) khi và trong hoạt động ngôn ngữ của nó, là tôi muốn nói rằng, chỉ trong hoạt động ngôn ngữ, như trong nói năng giao tiếp, ở đây là trong tác phẩm thơ, thì những tín hiệu ngôn ngữ ấy mới trở thành những ẨN DỤ, ẨN NGỮ, những HÌNH TƯỢNG NGÔN NGỮ; cũng chính là tôi muốn nói rằng, khi và chỉ khi tham gia làm nên các cấu trúc, như câu thơ, bài thơ, thì các tín hiệu ngôn ngữ đó, trong cấu trúc ấy, mới trở thành ẨN DỤ, ẨN NGỮ, thành HÌNH TƯỢNG NGÔN NGỮ THƠ.

Hay nói khác đi, thì chính là các cấu trúc kia, bằng sức mạnh tổ chức (cú pháp) “quái đản” (chữ dùng của GS Phan Ngọc) của nó, đã khiến ý nghĩa tàng ẩn trong các tínhiệu ngôn ngữ phát tác ra. “Vật chất chỉ bộc lộ thuộc tính khi vận động”, là vậy. Rằng chỉ có cách tổ chức ngôn ngữ “quái đản” của thơ, tức là cách chọn lựa và kết hợp các tín hiệu ngôn ngữ (TỪ) thành câu thơ, bài thơ, một cách khác biệt, đặc trưng, chỉ thơ mới có được, thì mới làm xuất tác ra ẨN DỤ, ẨN NGỮ, ra HÌNH TƯỢNG THƠ, do thơ và vì thơ mà thôi.

3.

Đến đây đã có thể hiểu vì sao Đặng Tiến đã cho biết là ông dễ dàng đồng thuận với Roman Jakobson, rằng: “Về lý thuyết, ngôn ngữ nói chung và văn xuôi nói riêng nhằm phục vụ cho một đối tượng trong đời sống hàng ngày. Thơ trái lại, là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”.

3.1. “Thơ là một ngôn ngữ...” thì đúng rồi, ngôn ngữ nào thơ ấy, nhưng chỉ đúng một nửa! Chỉ chừng nào “một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng” thì mới làm ra Thơ, chính thật Thơ. Thí dụ người Việt, dùng chữ Hán để làm thơ, nhưng vẫn không phải là thơ của người Hán. Vẫn là thơ Việt, vì nó mang theo chữ Hán cái hồn cốt của người Việt. Có thể nêu vô khối những thí dụ cho vấn đề nêu đây bằng dẫn chứng Thơ chữ Hán củacác cụ ta xưa. Cả như vậy, thì ĐỊNH NGHĨA: “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”, như Roman Jakobson định nghĩa, vẫn chẳng dễ hiểu chút nào!

Hiểu sao cho phải khi ai cũng biết, như văn xuôi, Thơ cũng dùng ngôn ngữ để phản ánh hiện thực, tức là hiện thực và nhận thức hiện thực, đều là đối tượng của tư duy, mà Thơ hay văn xuôi, đều lấy ngôn ngữ làm công cụ để phản ánh. Theo Đặng Tiến, có lúc Roman Jakobson còn ĐỊNH NGHĨA thơ cực đoan hơn. Rằng: “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh”. (Đặng Tiến, Sđd, tr.12). Định nghĩa như thế, rõ ràng là đã “gây khó” cho không chỉ người cần được chỉ dẫn “tiêu dùng” Thơ, mà còn chẳng dễ giúp đỡ hướng nghiệp cho người “sản xuất” Thơ. Để phân biệt Thơ với văn xuôi, người xưa, như tại HÁN VIỆT TỰ ĐIỂN của Thiều Chiểu “định nghĩa”: “Văn có vần gọi là thơ” thật đơn giản. Nhưng ngày nay, không ai còn có thể định nghĩa giản đơn như vậy. Vì đã có loại thơ không vần mà lại rất Thơ!

3.2. ĐỊNH NGHĨA: “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”, hẳn là Roman Jakobson muốn đặt thơ làm cơ sở cho Thi pháp học – một bộ môn nghiên cứu về Thơ như một SIÊU ngôn ngữ, không đơn giản nhằm phục vụ “người tiêu dùng Thơ”, cho kẻ thích Thơ, yêu thơ, lấy đó làm căn cứ, để nhận diện Thơ, hiểu thơ, rồi càng yêu Thơ hơn. Với “người tiêu dùng Thơ”, đọc và thưởng thức Thơ, thì chỉ cần dựa vào trực cảm bản thân, dựa vào cảm thức ngôn ngữ của chính mình, là đủ để nhận biết cái gì là thơ, cái gì không phải thơ... thế thôi.

3.3. Có thể truy nguyên ĐỊNH NGHĨA của Roman Jakobson: “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng” không? Được! Và tôi hiểu như sau:

Một là, khi nói: “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”, như Đặng Tiến cũng đã có nhận xét, rằng không có nghĩa là Roman Jakobson nói đối tượng của Thơ không phải là cuộc sống con người, mà trái lại, Thơ trước sau vẫn là một loại công cụ phản ánh; mà rằng cuộc sống con người đã mặc nhiên được cái phản ánh là ngôn ngữ phản ánh trong tín hiệu ngôn ngữ ngay từ khi nó ra đời rồi. Nói cách khác, trong CÁI PHẢN ÁNH là ngôn ngữ, đã chứa đựng CÁI ĐƯỢC PHẢN ÁNH, là tồn tại, chính là nội dung, là ngữ nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ đó rồi.

Hai là, vấn đề ĐẠI DIỆN – NHẬN BIẾT như là CƠ CHẾ RA ĐỜI của tín hiệu ngôn ngữ, chính là để nói rằng, nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ (TỪ) không bao giờ cũng là quan hệ 1/1 với chính bản thân tín hiệu ngôn ngữ đó, kể cả trường hợp đồng âm. (Thí dụ BÀN là cái bàn với BÀN là bàn bạc, luận đàm...). Rằng BIỂU VẬT chỉ là một nét, một tiêu chí để nhận biết TỪ đó với TỪ khác; trong khi BIỂU NIỆM, gọi ra hay chứa đựng trong tín hiệu ngôn ngữ, về BIỂU VẬT, tên gọi Sự vật – Hiện tượng – Quan hệ... trong tồn tại..., thì rộng lớn hơn, đa dạng hơn, nên đa nghĩa hơn. Nói lấy “ngôn ngữ làm đối tượng” chính là nói lấy cái BIỂU NIỆM của tín hiệu ngôn ngữ, trong tín hiệu ngôn ngữ, làm đối tượng.

Ba là, như khi giới thiệu về Roman Jakobson, tại các trang 238-239-240, sách PHÊ BÌNH VĂN HỌC THẾ KỶ XX, Thụy Khuê đã dẫn một quan điểm “bạo liệt” của Roman Jakobson: “Hành động Thơ là hành động cưỡng bức ngôn ngữ”, để tiếp đó bà giới thiệu những quan điểm của Roman Jakobson về “CHỨC NĂNG CỦA THI CA”. Rằng: “Chức năng của nghệ thuật là làm nổi bật thông điệp từ người nói (hay người viết) đến người nghe (hay người đọc). VẬY CHỦ ĐỀ CHÍNH CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU THƠ LÀ SỰ NGHIÊN CỨU NGÔN NGỮ TRONG CHỨC NĂNG LÀM NỔI BẬT THÔNG ĐIỆP (tôi viết hoa). Chức năng này quan trọng hơn cả, nó giúp chúng ta hiểu rõ và phân biệt ngôn ngữ Thơ và ngôn ngữ hàng ngày”. Và tôi còn cho rằng, không chỉ người nghiên cứu, mà ở cấp độ người thưởng thức Thơ, cũng cần đọc cho ra cái “CHỨC NĂNG LÀM NỔI BẬT THÔNG ĐIỆP”, mà không phải chỉ là chức năng chuyển tải THÔNG TIN, thì mới thưởng thức được Thơ như một loại hình nghệ thuật ngôn từ.

Bốn là, Roman Jakobson còn nêu quan điểm đúng đắn rằng: “Nếu nghệ thuật hội họa là sự tạo hình bằng chất liệu thị giác có giá trị tự tại, nếu âm nhạc là sự tạo âm bằng chất liệu âm thanh có giá trị tự tại, và vũ điệu là sự tạo hình bằng chất liệu cử chỉ có giá trị tự tại, thì thơ là sự tạo thể bằng chữ có giá trị tự tại, tự chủ, (…) Thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mỹ”.

Theo Roman Jakobson: “Ngôn ngữ thơ có một thủ pháp cơ bản là sự kết nối hai yếu tố. Về mặt ngữ nghĩa, thủ pháp này xuất hiện dưới các dạng: song song, so sánh (trường hợp đặc biệt của song song), hóa thân (song song chiếu trên thời gian) và ẩn dụ (song song rút gọn thành một điểm). Về mặt hòa âm, thủ pháp chồng đè xuất hiện dưới các dạng: Vần, ép vận hay hiệp vần và láy điệp âm.

Năm là, vấn đề “Chức năng làm nổi bật thông điệp” của nghệ thuật Thơ, là để lấy THÔNG ĐIỆP làm CÔNG CỤ, làm CÁI PHẢN ÁNH TƯ TƯỞNG của Thơ. Đây là cách Thơ hướng đến ngôn ngữ như một đối tượng nhằm thiết lập THÔNG ĐIỆP. Đây là công việc giải mã ký hiệu ngôn ngữ (TỪ), giải mã Cấu trúc – Chức năng (Tổ hợp TỪ, Câu Thơ, Bài Thơ) của Tác phẩm Thơ; nhằm tìm ra Ẩn dụ, Ẩn ngữ, tìm ra HÌNH TƯỢNG Thơ, tức là tìm ra những CÔNG CỤ xây dựng và chuyển tải THÔNG ĐIỆP TƯ TƯỞNG của tác phẩm Thơ, của Thơ, của Nhà Thơ.

4.

Tóm lại, khi ĐỊNH NGHĨA: “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”, mục tiêu của Roman Jakobson, là nhằm đưa ra một định nghĩa về Thơ, đủ cả tính phổ quát về ý nghĩa và tính phổ dụng về công năng. Cái mà ông gọi là THI TÍNH, là “khi thi tính, chức năng thi ca chiếm vị thế chủ đạo trong một tác phẩm văn chương thì ta gọi là thơ.” Ông đã định nghĩaTHI TÍNH bằng cách mô tả tồn tại của nó, đúng hơn là Đặng Tiến và Thụy Khuê đã dịch dẫn Roman Jakobson mô tả cách phát hiện THI TÍNH trong Thơ để xác định Thơ.

4.1. Đó chính là những khía cạnh, của những nội dung đã kể đến ở các mục trên. THI TÍNH CHÍNH LÀ HÀM ẨN NGỮ NGHĨA, do tín hiệu ngôn ngữ đó, và trong tín hiệu ngôn ngữ đó, được “bùng vỡ” ra, bị phát tác ra... dưới tác động của THI PHÁP.

4.2. Nếu không thế thì làm sao ĐỊNH NGHĨA: “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”, để phân biệt cái là Thơ với cái không phải là Thơ như Roman Jakobson đã định nghĩa. “Thơ là một ngôn ngữ...” thì hẳn nhiên rồi. Vì ngôn ngữ nào, Thơ ấy. Ngôn ngữ là công cụ, là cái phản ánh kia mà.

4.3. Như vậy có thể nói rằng ĐỊNH NGHĨA: “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng” của Roman Jakobson đã giúp người đọc hiểu “Thế nào là thơ?” hơn là nhận diện “Thơ là gì?”, nhất là Thơ của người Việt Nam, bằng tiếng Việt. Mỗi một nền thi ca của mỗi một dân tộc, cần có một định nghĩa Thơ của nó, cho riêng nó, chính vì “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”. Và, bởi Thơ không chỉ là TỪ, là tín hiệu ngôn ngữ, mà đi cùng TỪ, cùng tín hiệu ngôn ngữ là Tâm lý, Văn hóa, là Hồn cốt của Dân tộc sử dụng tín hiệu ngôn ngữ ấy. THI TÍNH, hay CHẤT THƠ ở trong ngôn ngữ thì như nhau, nhưng cách thức làm cho THI TÍNH, làm cho CHẤT THƠ hiện hình thành ngôn ngữ Thơ, trở thành THÔNG ĐIỆP của bài Thơ, thành Phong cách của nhà Thơ..., thì mỗi dân tộc, mỗi một ngôn ngữ lại rất khác nhau.

Thơ Việt Nam, do vậy cần một ĐỊNH NGHĨA để dễ nhận diện Thơ, để “sản xuất và tiêu dùng” Thơ hiệu quả hơn.

Nguồn Văn nghệ số 23/2022

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm