TIN TỨC

Roman Jakobson định nghĩa “Thế nào là thơ?”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-06-06 07:07:28
mail facebook google pos stwis
3488 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

Roman Jakobson (1986-1982) là nhà Thi pháp học lừng danh người Mỹ, gốc Nga. Chuyện tôi đọc và kể lại dưới đây về định nghĩa THƠ của Roman Jakobson là từ sách THƠ, THI PHÁP VÀ CHÂN DUNG của Đặng Tiến, (Nxb Phụ nữ, 2009) và sách PHÊ BÌNH VĂN HỌC THẾ KỶ XX của Thụy Khuê, (Nxb Hội Nhà văn, 2018). Riêng về Ngữ học, tôi dẫn theo Ferdinand de Saussure (1857-1913), sách GIÁO TRÌNH NGÔN NGỮ HỌC ĐẠI CƯƠNG, (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973).

Theo Đặng Tiến, Roman Jakobson cho rằng: “Muốn biết thơ là gì, thì phải đối lập với cái không phải là thơ”. Đặng Tiến dẫn tiếp: Roman Jakobson nêu câu hỏi, “Thi tính phát hiện cách nào?”. Và lý giải: “Một từ được cảm nhận như một từ, chứ không phải cái thay thế cho sự vật được gọi tên, hay một bùng vỡ cảm xúc.Rằng là: từ pháp và cú pháp, ý nghĩa, ngoại hình và nội hình của chúng không phải là những chỉ dấu dửng dưng của thực tại, mà chúng có trọng lượng riêng và giá trị nội tại.”

“Tóm lại, thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”. (Đặng Tiến. Sđd, tr.26).

Nhắc lại ý kiến này của Roman Jakobson: “Khi thi tính, chức năng thi ca chiếm vị thế chủ đạo trong một tác phẩm văn chương, thì ta gọi là thơ”, là để lưu ý rằng, Roman Jakobson đang truy vào “cái nên Thơ”, cũng tức là đang truy vào NỘI DUNG của cái gọi là thơ, nhằm trả lời câu hỏi “Thế nào là Thơ”, để tìm cách định nghĩa Thơ. Như vấn đề mà Roman Jakobson nêu, thì tôi nghĩ, cái mà ông đang truy tìm là THI TÍNH. Nhưng, rốt cuộc, THI TÍNH là cái gì và nó tồn tại như thế nào trong Thơ?

1.

Những trích dẫn ý kiến của Roman Jakobson nêu trên, thật không dễ hiểu. Câu hỏi là tại sao Roman Jakobson lại cho rằng: “Một TỪ (tôi viết hoa) được cảm nhận như một TỪ, chứ không phải cái thay thế cho sự vật được gọi tên, hay một bùng vỡ cảm xúc…”, lại là dấu hiệu để căn dựa vào, nhằm phát hiện ra THI TÍNH?

Khi khẳng định như vậy, có phải chăng là Roman Jakobson muốn nói rằng, Thi pháp là cái khiến THI TÍNH được bộc lộ ra?! Nói dễ hiểu hơn, chất thơ, hay một tác phẩm văn chương chỉ được xác định là Thơ, khi THI TÍNH giữ vai trò chủ đạo. Và, mà để có nó, tức là để có THI TÍNH, thì phương pháp sử dụng TỪ (từ pháp), phương pháp tạo lập câu thơ (cú pháp), phải bằng/ là một cơ chế đặc biệt sáng tạo thế nào đó, để ý nghĩa “ngoại hình” và “nội hình” của chúng (của TỪ định danh Sự vật – Hiện tượng – Quan hệ... trong thực tại), “không phải là chỉ dấu dững dưng”, mà tạo ra một giá trị mới, “có trọng lượng riêng và giá trị nội tại”.

2.

Vậy THI TÍNH là cái gì? Nó xuất hiện ra sao và tồn tại như thế nào trong Thơ?

2.1. Chính Roman Jakobson đã nói: “Thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mỹ” (Thụy Khuê. Sđd, tr.239). Cũng chính Roman Jakobson còn nhấn mạnh rằng, khác với văn xuôi, “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”. (Đặng Tiến. Sđd, tr.16). Phổ biến hơn, cũng là nôm na dễ hiểu hơn, người ta thường nói, “Thơ là nghệ thuật ngôn từ”!

Tất cả những cách tiếp cận thơ như trên, rút lại đều cùng hướng đến nhận thức rằng THI TÍNH trước hết là cái nằm ở trong ngôn ngữ Thơ, chứ không phải ngôn ngữ nói chung. Nhưng “Thế nào là ngôn ngữ Thơ?”. Trả lời câu hỏi này, rõ ràng không có cách nào khác hơn, là phải tìm đến tính ĐA NGHĨA HÀM ẨN của TỪ, cũng là của ngôn ngữ nói chung.

2.2. Ferdinand de Saussure cho rằng: “Tín hiệu ngôn ngữ là võ đoán” (F.de Saussure, Sđd, tr.122), tức là không lý do, là không tìm được căn nguyên mối liên hệ giữa vỏ âm thanh (cái biểu hiện) và ý nghĩa (cái được biểu hiện) trong một tín hiệu ngôn ngữ (TỪ), cũng như căn nguyên mối liên hệ với các tín hiệu ngôn ngữ khác (TỪ khác). Riêng tôi thì cho rằng: TÍN HIỆU NGÔN NGỮ RA ĐỜI THEO CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN – NHẬN BIẾT. ĐẠI DIỆN cho cái gì, và căn cứ vào cái gì để NHẬN BIẾT cái gì, là những điều tôi sẽ trình bày dưới đây.

2.2.1. Trước tiên, tôi tán đồng luận đề của Ferdinand de Saussure, rằng TỪ là một tín hiệu ngôn ngữ gồm hai mặt âm và ý gắn bó với nhau “như hai mặt của một tờ giấy” (F.de Saussure, Sđd, tr.197). Một mặt là hình thức công cụ chuyển tải, chính là âm thanh (lời nói), hoặc là ký tự (chữ viết); một mặt là nội dung thông điệp, chính là ý nghĩa của TỪ, được ký hiệu của TỪ ấy chuyển tải.

Lời nói, hoặc chữ viết, thì như là cái vỏ hình thức, mang tính ĐẶC TRƯNG DÂN TỘC; còn nghĩa là cái ruột nội dung, thì mang tính PHỔ NIỆM NHÂN LOẠI. Thí dụ người Việt nói “cái bàn ăn”, thì người Anh nói “Dining table”, tiếng nói và chữ viết khác nhau là thế, nhưng ý nghĩa khái niệm về sự vật, cơ bản không có gì khác nhau cả.

2.2.2. Tính ĐẠI DIỆN thể hiện ở cái hình thức vỏ âm thanh, hoặc kiểu ký tự. Đó là tùy vào sở thích, có chất lượng văn hóa của mỗi dân tộc, mà dân tộc đó chọn một loại âm thanh, và/ hoặc một kiểu chữ viết nhất định, để định danh (đặt – gọi tên) cho Sự vật – Hiện tượng – Quan hệ... của thực tại; sao cho, khi âm thanh, hoặc chữ viết đó, được gọi lên bằng lời, hoặc viết ra thành chữ, theo cách của dân tộc đó, thì phần ý nghĩa, được ký hiệu bằng âm thanh, hoặc bằng chữ viết ấy, sẽ được tái hiện trong cảm thức, trong nhận thức ngôn ngữ của người ta, cho người ta NHẬN BIẾT Sự vật – Hiện tượng – Quan hệ... đã được đặt – gọi tên ra, bằng chính âm thanh, hoặc bằng chính chữ viết ấy.

Nhưng tại sao lại chọn âm thanh để làm ký hiệu ngôn ngữ? Đây là vấn đề không thuộc câu chuyện mà tôi đang kể ở đây. Chỉ nói gọn là vì, theo tôi, âm thanh là một loại vật chất dạng sóng, có giải phổ tần tách biệt nhận biết vô cùng rộng lớn và cực kỳ linh hoạt cho năng lực mô tả đủ mọi sắc thái tồn tại của Sự vật – Hiện tượng – Quan hệ... trong tồn tại, nên mới biệt phân, mới định biệt... tồn tại được, tức là mới đặt – gọi tên cho sự tồn tại theo CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN – NHẬN BIẾT, để mới NHẬN BIẾT tồn tại được.

2.2.3. Trở lại vấn đề đang nói ở đây, rằng CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN – NHẬN BIẾT, tức là Đại diện để Nhận biết cái Đại diện đó, cho thấy TÍN HIỆU NGÔN NGỮ (TỪ) chỉ như là một dấu hiệu âm thanh, mà không phải là toàn bộ âm thanh có thể phải có, cũng không cần phải gồm toàn bộ âm thanh như thế, vì chỉ cần một chỉ dấu biệt phân - định là đủ.

Vì thế, nên không phải tín hiệu ngôn ngữ cụ thể ấy (TỪ) là toàn bộ ý nghĩa, tức là nội dung, của chính nó. TÍN HIỆU NGÔN NGỮ MANG TÍNH ĐẠI DIỆN – NHẬN BIẾT, nên chỉ khi được sử dụng, tức là khi tham gia vào hoạt động ngôn ngữ, vào hoàn cảnh ngôn ngữ (ngữ cảnh) nào đó, thì một nét ý nghĩa cụ thể nào đó, gồm chứa trong tín hiệu ngôn ngữ đó (trong TỪ ấy), sẽ được thể hiện ra.

CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN – NHẬN BIẾT trong thành tạo Từ, tức tín hiệu ngôn ngữ, đã lý giải vì sao tên gọi Sự vật – Hiện tượng – Quan hệ... trong tồn tại, không đồng nhất một – một với chính Sự vật – Hiện tượng – Quan hệ... được tín hiệu ngôn ngữ (TỪ) ấy định danh. Vì vậy, nghĩa của TỪ, luôn là một khối HÀM ẨN, do vỏ âm thanh, hoặc ký tự (chữ viết), được cộng đồng ngôn ngữ lấy làm đại diện, để khi nói hoặc viết sẽ đượcgợi ra, sẽ phát tác ra, một cách phù hợp với hoàn cảnh, mà TỪ đó xuất hiện.

HÀM ẨN nghĩa, do vậy, chính là đối tượng của Thơ; chính là cơ sở để Roman Jakobson khẳng định “Thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”; HÀM ẨN nghĩa đó cũng chính là THI TÍNH.

2.2.4. Như vậy là nếu TỪ không được thành tạo theo CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN – NHẬN BIẾT, để một cách khách quan, một cách mặc nhiên, TỪ luôn là một ĐA NGHĨA HÀM ẨN, thì Thơ sẽ không có đối tượng khai thác, không tìm được công cụ để phản ánh, nghĩa là sẽ không có ngôn ngữ thơ, tức là sẽ không có Thơ, như một nghệ thuật phản ánh.

Ngôn ngữ Thơ, do vậy là ngôn ngữ HÀM ẨN, ngôn ngữ ẨN DỤ, nói khái quát, thì đó là ngôn ngữ HÌNH TƯỢNG (hình tượng của ngôn ngữ).

Mặt khác, như trên tôi đã nói đến hoàn cảnh ngôn ngữ (ngữ cảnh), tức là nói đến tín hiệu ngôn ngữ (TỪ) khi và trong hoạt động ngôn ngữ của nó, là tôi muốn nói rằng, chỉ trong hoạt động ngôn ngữ, như trong nói năng giao tiếp, ở đây là trong tác phẩm thơ, thì những tín hiệu ngôn ngữ ấy mới trở thành những ẨN DỤ, ẨN NGỮ, những HÌNH TƯỢNG NGÔN NGỮ; cũng chính là tôi muốn nói rằng, khi và chỉ khi tham gia làm nên các cấu trúc, như câu thơ, bài thơ, thì các tín hiệu ngôn ngữ đó, trong cấu trúc ấy, mới trở thành ẨN DỤ, ẨN NGỮ, thành HÌNH TƯỢNG NGÔN NGỮ THƠ.

Hay nói khác đi, thì chính là các cấu trúc kia, bằng sức mạnh tổ chức (cú pháp) “quái đản” (chữ dùng của GS Phan Ngọc) của nó, đã khiến ý nghĩa tàng ẩn trong các tínhiệu ngôn ngữ phát tác ra. “Vật chất chỉ bộc lộ thuộc tính khi vận động”, là vậy. Rằng chỉ có cách tổ chức ngôn ngữ “quái đản” của thơ, tức là cách chọn lựa và kết hợp các tín hiệu ngôn ngữ (TỪ) thành câu thơ, bài thơ, một cách khác biệt, đặc trưng, chỉ thơ mới có được, thì mới làm xuất tác ra ẨN DỤ, ẨN NGỮ, ra HÌNH TƯỢNG THƠ, do thơ và vì thơ mà thôi.

3.

Đến đây đã có thể hiểu vì sao Đặng Tiến đã cho biết là ông dễ dàng đồng thuận với Roman Jakobson, rằng: “Về lý thuyết, ngôn ngữ nói chung và văn xuôi nói riêng nhằm phục vụ cho một đối tượng trong đời sống hàng ngày. Thơ trái lại, là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”.

3.1. “Thơ là một ngôn ngữ...” thì đúng rồi, ngôn ngữ nào thơ ấy, nhưng chỉ đúng một nửa! Chỉ chừng nào “một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng” thì mới làm ra Thơ, chính thật Thơ. Thí dụ người Việt, dùng chữ Hán để làm thơ, nhưng vẫn không phải là thơ của người Hán. Vẫn là thơ Việt, vì nó mang theo chữ Hán cái hồn cốt của người Việt. Có thể nêu vô khối những thí dụ cho vấn đề nêu đây bằng dẫn chứng Thơ chữ Hán củacác cụ ta xưa. Cả như vậy, thì ĐỊNH NGHĨA: “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”, như Roman Jakobson định nghĩa, vẫn chẳng dễ hiểu chút nào!

Hiểu sao cho phải khi ai cũng biết, như văn xuôi, Thơ cũng dùng ngôn ngữ để phản ánh hiện thực, tức là hiện thực và nhận thức hiện thực, đều là đối tượng của tư duy, mà Thơ hay văn xuôi, đều lấy ngôn ngữ làm công cụ để phản ánh. Theo Đặng Tiến, có lúc Roman Jakobson còn ĐỊNH NGHĨA thơ cực đoan hơn. Rằng: “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh”. (Đặng Tiến, Sđd, tr.12). Định nghĩa như thế, rõ ràng là đã “gây khó” cho không chỉ người cần được chỉ dẫn “tiêu dùng” Thơ, mà còn chẳng dễ giúp đỡ hướng nghiệp cho người “sản xuất” Thơ. Để phân biệt Thơ với văn xuôi, người xưa, như tại HÁN VIỆT TỰ ĐIỂN của Thiều Chiểu “định nghĩa”: “Văn có vần gọi là thơ” thật đơn giản. Nhưng ngày nay, không ai còn có thể định nghĩa giản đơn như vậy. Vì đã có loại thơ không vần mà lại rất Thơ!

3.2. ĐỊNH NGHĨA: “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”, hẳn là Roman Jakobson muốn đặt thơ làm cơ sở cho Thi pháp học – một bộ môn nghiên cứu về Thơ như một SIÊU ngôn ngữ, không đơn giản nhằm phục vụ “người tiêu dùng Thơ”, cho kẻ thích Thơ, yêu thơ, lấy đó làm căn cứ, để nhận diện Thơ, hiểu thơ, rồi càng yêu Thơ hơn. Với “người tiêu dùng Thơ”, đọc và thưởng thức Thơ, thì chỉ cần dựa vào trực cảm bản thân, dựa vào cảm thức ngôn ngữ của chính mình, là đủ để nhận biết cái gì là thơ, cái gì không phải thơ... thế thôi.

3.3. Có thể truy nguyên ĐỊNH NGHĨA của Roman Jakobson: “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng” không? Được! Và tôi hiểu như sau:

Một là, khi nói: “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”, như Đặng Tiến cũng đã có nhận xét, rằng không có nghĩa là Roman Jakobson nói đối tượng của Thơ không phải là cuộc sống con người, mà trái lại, Thơ trước sau vẫn là một loại công cụ phản ánh; mà rằng cuộc sống con người đã mặc nhiên được cái phản ánh là ngôn ngữ phản ánh trong tín hiệu ngôn ngữ ngay từ khi nó ra đời rồi. Nói cách khác, trong CÁI PHẢN ÁNH là ngôn ngữ, đã chứa đựng CÁI ĐƯỢC PHẢN ÁNH, là tồn tại, chính là nội dung, là ngữ nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ đó rồi.

Hai là, vấn đề ĐẠI DIỆN – NHẬN BIẾT như là CƠ CHẾ RA ĐỜI của tín hiệu ngôn ngữ, chính là để nói rằng, nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ (TỪ) không bao giờ cũng là quan hệ 1/1 với chính bản thân tín hiệu ngôn ngữ đó, kể cả trường hợp đồng âm. (Thí dụ BÀN là cái bàn với BÀN là bàn bạc, luận đàm...). Rằng BIỂU VẬT chỉ là một nét, một tiêu chí để nhận biết TỪ đó với TỪ khác; trong khi BIỂU NIỆM, gọi ra hay chứa đựng trong tín hiệu ngôn ngữ, về BIỂU VẬT, tên gọi Sự vật – Hiện tượng – Quan hệ... trong tồn tại..., thì rộng lớn hơn, đa dạng hơn, nên đa nghĩa hơn. Nói lấy “ngôn ngữ làm đối tượng” chính là nói lấy cái BIỂU NIỆM của tín hiệu ngôn ngữ, trong tín hiệu ngôn ngữ, làm đối tượng.

Ba là, như khi giới thiệu về Roman Jakobson, tại các trang 238-239-240, sách PHÊ BÌNH VĂN HỌC THẾ KỶ XX, Thụy Khuê đã dẫn một quan điểm “bạo liệt” của Roman Jakobson: “Hành động Thơ là hành động cưỡng bức ngôn ngữ”, để tiếp đó bà giới thiệu những quan điểm của Roman Jakobson về “CHỨC NĂNG CỦA THI CA”. Rằng: “Chức năng của nghệ thuật là làm nổi bật thông điệp từ người nói (hay người viết) đến người nghe (hay người đọc). VẬY CHỦ ĐỀ CHÍNH CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU THƠ LÀ SỰ NGHIÊN CỨU NGÔN NGỮ TRONG CHỨC NĂNG LÀM NỔI BẬT THÔNG ĐIỆP (tôi viết hoa). Chức năng này quan trọng hơn cả, nó giúp chúng ta hiểu rõ và phân biệt ngôn ngữ Thơ và ngôn ngữ hàng ngày”. Và tôi còn cho rằng, không chỉ người nghiên cứu, mà ở cấp độ người thưởng thức Thơ, cũng cần đọc cho ra cái “CHỨC NĂNG LÀM NỔI BẬT THÔNG ĐIỆP”, mà không phải chỉ là chức năng chuyển tải THÔNG TIN, thì mới thưởng thức được Thơ như một loại hình nghệ thuật ngôn từ.

Bốn là, Roman Jakobson còn nêu quan điểm đúng đắn rằng: “Nếu nghệ thuật hội họa là sự tạo hình bằng chất liệu thị giác có giá trị tự tại, nếu âm nhạc là sự tạo âm bằng chất liệu âm thanh có giá trị tự tại, và vũ điệu là sự tạo hình bằng chất liệu cử chỉ có giá trị tự tại, thì thơ là sự tạo thể bằng chữ có giá trị tự tại, tự chủ, (…) Thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mỹ”.

Theo Roman Jakobson: “Ngôn ngữ thơ có một thủ pháp cơ bản là sự kết nối hai yếu tố. Về mặt ngữ nghĩa, thủ pháp này xuất hiện dưới các dạng: song song, so sánh (trường hợp đặc biệt của song song), hóa thân (song song chiếu trên thời gian) và ẩn dụ (song song rút gọn thành một điểm). Về mặt hòa âm, thủ pháp chồng đè xuất hiện dưới các dạng: Vần, ép vận hay hiệp vần và láy điệp âm.

Năm là, vấn đề “Chức năng làm nổi bật thông điệp” của nghệ thuật Thơ, là để lấy THÔNG ĐIỆP làm CÔNG CỤ, làm CÁI PHẢN ÁNH TƯ TƯỞNG của Thơ. Đây là cách Thơ hướng đến ngôn ngữ như một đối tượng nhằm thiết lập THÔNG ĐIỆP. Đây là công việc giải mã ký hiệu ngôn ngữ (TỪ), giải mã Cấu trúc – Chức năng (Tổ hợp TỪ, Câu Thơ, Bài Thơ) của Tác phẩm Thơ; nhằm tìm ra Ẩn dụ, Ẩn ngữ, tìm ra HÌNH TƯỢNG Thơ, tức là tìm ra những CÔNG CỤ xây dựng và chuyển tải THÔNG ĐIỆP TƯ TƯỞNG của tác phẩm Thơ, của Thơ, của Nhà Thơ.

4.

Tóm lại, khi ĐỊNH NGHĨA: “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”, mục tiêu của Roman Jakobson, là nhằm đưa ra một định nghĩa về Thơ, đủ cả tính phổ quát về ý nghĩa và tính phổ dụng về công năng. Cái mà ông gọi là THI TÍNH, là “khi thi tính, chức năng thi ca chiếm vị thế chủ đạo trong một tác phẩm văn chương thì ta gọi là thơ.” Ông đã định nghĩaTHI TÍNH bằng cách mô tả tồn tại của nó, đúng hơn là Đặng Tiến và Thụy Khuê đã dịch dẫn Roman Jakobson mô tả cách phát hiện THI TÍNH trong Thơ để xác định Thơ.

4.1. Đó chính là những khía cạnh, của những nội dung đã kể đến ở các mục trên. THI TÍNH CHÍNH LÀ HÀM ẨN NGỮ NGHĨA, do tín hiệu ngôn ngữ đó, và trong tín hiệu ngôn ngữ đó, được “bùng vỡ” ra, bị phát tác ra... dưới tác động của THI PHÁP.

4.2. Nếu không thế thì làm sao ĐỊNH NGHĨA: “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”, để phân biệt cái là Thơ với cái không phải là Thơ như Roman Jakobson đã định nghĩa. “Thơ là một ngôn ngữ...” thì hẳn nhiên rồi. Vì ngôn ngữ nào, Thơ ấy. Ngôn ngữ là công cụ, là cái phản ánh kia mà.

4.3. Như vậy có thể nói rằng ĐỊNH NGHĨA: “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng” của Roman Jakobson đã giúp người đọc hiểu “Thế nào là thơ?” hơn là nhận diện “Thơ là gì?”, nhất là Thơ của người Việt Nam, bằng tiếng Việt. Mỗi một nền thi ca của mỗi một dân tộc, cần có một định nghĩa Thơ của nó, cho riêng nó, chính vì “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng”. Và, bởi Thơ không chỉ là TỪ, là tín hiệu ngôn ngữ, mà đi cùng TỪ, cùng tín hiệu ngôn ngữ là Tâm lý, Văn hóa, là Hồn cốt của Dân tộc sử dụng tín hiệu ngôn ngữ ấy. THI TÍNH, hay CHẤT THƠ ở trong ngôn ngữ thì như nhau, nhưng cách thức làm cho THI TÍNH, làm cho CHẤT THƠ hiện hình thành ngôn ngữ Thơ, trở thành THÔNG ĐIỆP của bài Thơ, thành Phong cách của nhà Thơ..., thì mỗi dân tộc, mỗi một ngôn ngữ lại rất khác nhau.

Thơ Việt Nam, do vậy cần một ĐỊNH NGHĨA để dễ nhận diện Thơ, để “sản xuất và tiêu dùng” Thơ hiệu quả hơn.

Nguồn Văn nghệ số 23/2022

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm