TIN TỨC

Thăm nơi neo đậu quê mình với thơ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-08-01 17:18:53
mail facebook google pos stwis
1710 lượt xem

Nhà thơ ĐỖ XUÂN THU
(Đọc tập thơ “Ru lại lời quê” của nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh)

Con người ta khi tuổi càng cao thì nỗi niềm về quê hương bản quán càng dâng đầy trong tiềm thức, nhất là người đó lại là người tha phương, sống nơi đất khách. Kỷ niệm thời ấu thơ, về những ngày ở quê bất chợt cứ ùa về. Biết bao nhiêu kỷ niệm, ký ức cứ thay nhau hiển hiện trở về. Hơn nữa đây lại là những người thơ, thi sĩ rất dễ rung động, ngập tràn yêu thương và hay trải lòng mình trước cuộc sống. Thiếu tá nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh cũng không nằm ngoài quy luật ấy và anh đã gieo con chữ trên những cánh đồng lãng mạn làm cho ký ức trở về sống động cùng với hôm nay.

Trên tay tôi là bản thảo tập thơ “Ru lại lời quê”, đây là tập thơ thứ sáu và là tác phẩm thứ tám trong đời thơ, đời văn, đời báo của Nguyễn Vũ Quỳnh. Theo thói quen, ban đầu tôi đọc lướt qua để hình dung một cách khái quát toàn bộ nội dung tập thơ. Sau đó tôi đọc lại từ từ một cách chậm rãi, kỹ càng. Càng đọc tôi càng thấy nỗi niềm đau đáu với làng quê của anh cứ dạt dào theo từng câu chữ. Quê gốc ở Nghệ An, sinh ra ở Thanh Hóa, là bộ đội thời chống Mỹ, từng làm báo, viết văn, làm thơ trong quân ngũ, rồi rong ruổi khắp nơi, cuối đời Nguyễn Vũ Quỳnh trụ lại ở thành phố Hồ Chí Minh. Thảo nào, ở cái tuổi U70, vị thiếu tá quân đội có tâm hồn thi sĩ ấy lại đau đáu nhớ quê đến thế! “Cái phận đi xa cả đời phiêu lãng/ Đêm nằm mơ gốc rạ lời ru/ Con cáy đỏ chờn vờn trong giấc ngủ/ Trắng ngọn khoai sau trận mưa rào” (Chật ních cả hôm nay). Và tôi cũng đang theo những bước chân kỷ niệm của anh để nghe anh “Ru lại lời quê” đây.

Sáu mươi bài thơ trong tập thì có quá nửa số bài tác giả trải lòng với quê hương. Từ cánh đồng lúa khoai đến người mẹ tảo tần, từ giếng làng, con đê, đến bến xưa đò xưa lặng lẽ, từ trường học, bè bạn đến người thương dấu yêu...Tất cả cứ lung linh dắt díu nhau hiện về trên trên cánh đồng thơ của anh.

Mở đầu tập thơ là bài “Chất vấn cánh đồng” đầy ám ảnh. “Bên kia cánh đồng làng. Khoai / Bên này cánh đồng làng. Lúa”. Chỉ bằng hai nét bút chấm phá đó mà không gian quê anh, cánh đồng lúa, khoai đã hiện lên rờ rỡ. Chính từ cái nơi lúa, khoai đó anh đã “Lớn lên chúng mình như hương hoa cải/ Bay xa để lại quê nhà”. Hoa cải về trời, hoa cải bay đâu ơi thi sĩ của cánh đồng làng? Để “Bây giờ bóng quê chất đầy chiêm nghiệm/ Nhà xây nhiều cái lên tầng/ Cánh đồng bê tông cốt thép/ Nhà máy khói bay vấp cản mây trời/ Cánh đồng không còn, vắng hẳn bóng cây”. Nhớ về ngày xưa, cái thời “Muối trắng trên vai áo cha/ Mồ hôi ướt đầm sau lưng áo Mẹ”, cái thời “Thương bắp chân trần con gái/ Vội vàng chao giữa cầu ao/ Ống quần vương bùn hương đất”. Thi sĩ đã phải thốt lên xa xót bằng khổ lục bát cuối bài “Đâu rồi bông trắng như mây/ Để cho con cháu về đây thưở nào/ Lạnh về ngọn gió hanh hao/ Con sông không chảy, ồn ào quê xưa/ Làng không còn tiếng võng đưa/ Trẻ con không tắm dưới mưa tồng ngồng/ Chia xa rũ rượi cánh đồng/ Chiều qua quê mất cả dòng sông xưa”. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa...bao nhiêu cái “hóa” khác đã làm bộ mặt quê hương khác xa ngày trước quá. Vẫn biết đổi mới, đi lên là tất yếu mà sao vẫn tiếc nuối cánh đồng làng xưa quá chừng. Phải thế không mà tác giả đã bực mình “Cãi nhau với cả thời gian/ Chất vấn được mất cánh đồng”. Một cuộc cãi nhau, chất vấn thật đáng yêu. Chẳng thể nào khác được đâu thi sĩ của tôi ạ.

“Bao nhiêu ngần ấy với quê/ Vẫn thao thức mãi ngày về đêm nay” (Tự tình với quê). Ngày mai về quê, đêm nay thao thức hay là về quê rồi mà thao thức cả đêm với quê? Kiểu nào thì quê vẫn cứ choán hết cả người thơ. Trăn trở lắm phải không anh? “Bếp nhà một góc vại dưa/ Con rô, con diếc, đồng trưa, chợ làng/ Gió Lào rang cháy cỏ hoang/ Vẫn vang vọng tiếng dộ khoan bến Sòng” (Cánh đồng mẹ tôi). Ôi, nhớ “Tiếng chim gáy vắt qua hàng tre” quá! Nhớ vô cùng “Nơi đồng xa liệu xiêu dáng mẹ/ Vẫn dành con đồng bánh chợ quê mình” (Chật ních cả hôm nay). Nhớ da diết “Nơi tuổi thơ bên cọng rơm gốc rạ/ Nơi tiếng còi tàu vang vọng sân ga/ Nơi trẻ con oẳn tù tì đánh đáo/ Nơi tiếng bom thù xé nát cả làng quê” (Cánh đồng quê ơi). Bao nhiêu là nhớ quê ơi để “Ký ức cứ tràn lên” ào ạt thế này? Để “Nỗi nhớ ùa về chật ních cả hôm nay” phải không anh? Cả đêm thao thức hoài niệm, vả đêm bâng khuâng nôn nao để rồi cuối cùng vẫn cứ nhận ra rằng: “Bao nhiêu phiên khúc đời mình/ Chưa bằng đời ngói sân đình làng tôi”. Thì đúng thế rồi còn gì? Dù vật đổi sao dời thì nhân chứng thời gian của làng vẫn là sân đình, bến nước, cây đa, văn hóa làng quê ngàn năm đó.

Nguyễn Vũ Quỳnh đã viết cho người xa quê, trong đó có anh, bài thơ “Thương miền quê xa”. Điểm đặc biệt của bài thơ này là tác giả dùng điệp từ “quê” liên tục mở đầu cho mỗi câu thơ. Cả bài có 42 câu thơ thì có tới 37 câu mở đầu như thế. Từ những nét đặc trưng chung nhất về quê, anh đi tới quê của các vùng miền khác nhau. “Quê là tất cả niềm tin /Quê nơi hoa gạo về tìm tháng Ba”. Từ Ví dặm Nghệ Tĩnh đến Quan họ Kinh Bắc, từ Chèo cổ Thái Bình, đến Dạ cổ Hoài lang Bạc Liêu, từ Thị Kính, Thị Mầu đến chú hề, quan tướng...từ quê mà ra. Tất cả bản sắc vùng miền, truyền thống địa phương đã làm nên căn cốt quê hương nhắc nhở người đi xa hãy nhớ để “Còn bao nhiêu những đam mê/ Ta gom góp lại đem về với xưa (Đếm khuya). Thì thế mới có bài thơ lục bát đáng yêu “Về nơi neo đậu bến tình với quê” với điệp từ “Về” dày đặc đến vậy chứ. 22 câu trong tổng số 24 câu của bài đều bắt đầu bằng chữ “Về”. Giục giã lắm, da diết lắm. “Về đi em giữa yêu thương/ Về nơi tiếng trống sân trường ngày xưa/ Về nơi ta vấp cơn mưa/ Về nơi có Mẹ võng đưa một thời”. Khúc mở đầu là vậy đó. Tác giả rủ rê, dắt díu cô bạn ngày xưa học chung một lớp về chốn xưa trường cũ, về với Mẹ, với cơn mưa lấm láp thuở nào. Sau đó, anh đã liệt kê ra một loạt các kỷ niệm, từ “đồi tím hoa sim” đến “vạt sắn nương khoai”, từ “giếng nước hàng cau” đến “cửa biển xa khơi”, từ nơi hò hẹn ban đầu đến “nơi ao ước cây cầu em sang”. Nhiều, nhiều lắm. Dồn dập ký ức, chất chồng kỷ niệm. Cái nọ nhắc nhớ níu gọi cái kia để rồi cặp lục bát cuối cùng anh phải tăng thêm một từ “về” nữa thành ba lần “về” để chốt lại: “Về nhé em, về đi thôi/ Về quê lên đỉnh bồi hồi gặp xưa”. Cắt câu lục thành hai nửa, mỗi nửa bắt đầu bằng chữ “về” càng thấy sự cuống quýt, giục giã của anh. Viết như vậy, bạn gái anh đọc được thì làm sao mà không về được cơ chứ?

Về quê trước cái giếng cổ bom Mỹ phá rồi không còn nữa, Nguyễn Vũ Quỳnh đã xót xa tưởng nhớ nơi mà “Giếng quê điểm hẹn nhân tình/ Những đôi trai gái và mình với ta”… “Nơi đây bến đợi những chiều/ Tiếng nhà quê tiếng sáo diều võng đưa (Giếng quê) Thế mà giờ đây, cái giếng ấy đã không còn nữa, sao mà không xót xa được? Thì thế trong đêm anh mới “Khuya về chấp chới chiêm bao/ Nụ cười bên giếng lật nhào trời quê” đấy chứ.

Cùng nỗi niềm chênh chao ấy, Nguyễn Vũ Quỳnh còn dồn nén tâm trạng mình trong ba bài thơ về “Cánh đồng”: “Chất vấn cánh đồng”, “Cánh đồng Mẹ tôi”, “Cánh đồng quê ơi!”. Cũng dễ hiểu thôi, nông thôn Việt Nam, làng quê Việt Nam đều gắn với sản xuất nông nghiệp mà sản xuất nông nghiệp thì lại gắn với cánh đồng. Thế nên, ký ức về quê cha đất tổ nhiều hơn cả đều xuất phát từ cánh đồng. Tuổi thơ lấm láp, cắt cỏ chăn trâu, mẹ cha cày cuốc đều ở đó. Ngay đầu tập thơ tác giả đã giới thiệu “cánh đồng” rồi. Đặc biệt, trước sự đổi thay, biến mất dần của cánh đồng làng khiến anh càng khắc khoải. “Bây giờ làng không còn cánh đồng xanh/ Không bờ tre khi làng lên phố”… “Cánh đồng bê tông, trâu không còn gặm cỏ”… “Làng vắng hát chèo, trẻ bốc mùi rock rap/ Ai cũng bật cười đầu tóc đỏ, tóc xanh”. Làng quê như thế, cánh đồng làng như thế sao mà không trăn trở được phải không anh?

“Quê em nơi khe Dứa, khe Su/ Có tên Phú Lâm ven rừng cổ thụ/ Có đêm khuya ông bà, cha mất ngủ/ Cơm độn lưng nồi Mẹ đơm cả lời ru (Gửi Ánh Sao). Ơi cái vùng quê nghèo ngày xưa sao mà thương đến thế! Tên xóm, tên làng đã theo ta suốt dọc đường đời, khắp cùng đất nước. Và “Cơm độn lưng nồi, Mẹ đơm cả lời ru”. “Đơm cả lời ru” rất ám ảnh đấy thi sĩ ạ. Bây giờ giữa những mâm cao cỗ đầy, bao đặc sản Tây, Tàu các loại liệu có ai còn nhớ đến ngày xưa? Cái ngày mà “cơm độn lưng nồi”, thương ta, Mẹ gạn phần cơm xới cho ta, Mẹ “đơm cả lời ru” trong đó? Câu thơ khiến tôi xúc động nghẹ ngào trào nước mắt và nhớ Mẹ tôi quá chừng thi sĩ ơi! Anh sống có trách nhiệm, nặng lòng với quê hương, bè bạn.

“Ru lại lời quê” được Nguyễn Vũ Quỳnh thể hiện với các thể loại thơ. Từ lục bát truyền thống đến ngũ ngôn, thất ngôn, từ tứ tuyệt chặt chẽ đến tự do tung tẩy. Lời thơ mộc mạc mà đẹp, câu chữ đầy yêu thương lưu luyến, ý tứ sâu sắc nên câu thơ dễ thấm vào lòng người. Độc giả dễ nhớ bởi Nguyễn Vũ Quỳnh đã thi vị hóa ngôn ngữ xa xưa may mà còn trong kỷ niệm, bởi anh đã gieo cái chất quê đẹp đẽ làm mát lòng người  đương đại. “Ru lại lời quê” là nỗi niềm đau đáu với quê của thi sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh. Anh đã nói hộ nhiều người về cùng một nỗi niềm gan ruột đó. Vì sao anh lại lấy tên tập thơ là “Ru lại lời quê” bởi chỉ có lời ru mới nhớ lâu trong tâm trí con người. Lời ru là sự ân tình luôn nhắc nhở mình cả khi lớn lên, đi xa, đến già nua còn nhớ và anh “Ru lại lời quê” ân tình là ý nghĩa nhất. Cả đời mắc nợ quê hương, bằng tập thơ này anh đã trả được phần nào cái nợ ân tình rồi đấy thi sĩ ạ. Xin được hân hoan niềm vui tác phẩm mới của thi sỹ đầy ý nghĩa trong thời buổi ngày nay.

Đ.X.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm