TIN TỨC

Thế giới kỳ vĩ của thơ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-11-17 10:04:31
mail facebook google pos stwis
1236 lượt xem

(Mời click vào logo trên đây để truy cập thư mục)

Bài viết “Thế giới kỳ vĩ của thơ” của nhà văn Nguyễn Quế (từ Bình Dương cũ) là một cuộc dạo bước qua nhiều miền thi ca Việt Nam – từ ánh trăng ca dao, vẻ cổ điển của Kiều, tiếng thơ Hồ Xuân Hương, đến những câu thơ đã thành “ký ức tinh thần” của thời kháng chiến. Qua từng trích dẫn và phân tích, tác giả cho thấy thơ không chỉ là nghệ thuật ngôn từ mà còn là nguồn sức mạnh nâng đỡ con người trong mọi thời điểm lịch sử.
 

NGUYỄN QUẾ

Nhân loại có hàng trăm định nghĩa về thơ. Có thể hiểu: Thơ là sự kết tinh tư tưởng, cảm xúc, trải nghiệm của con người về thế giới và cuộc sống, được biểu đạt bằng nghệ thuật ngôn từ.

Thế giới của thơ, với thi sỹ là bến đậu của tâm hồn, là cánh đồng gieo trồng cảm xúc và chữ nghĩa, là bầu trời để cất cánh ước mơ và thả hồn phiêu lãng; với đọc giả là nhịp cầu kết nối con tim, là dòng sông soi rọi, tắm táp tâm hồn để được nâng đỡ và bay cao.

Khó có thể đưa ra con số thống kê cụ thể, nhưng chắc chắn, hàng ngày nhân loại sản xuất ra một lượng thơ ca không hề nhỏ. Chỉ riêng ở Việt Nam, một đất nước được xem “mỗi người dân là một nhà thơ”, con số ấy có lẽ đã khó đong đếm. Trong cái kho tàng ấy, chất lượng mỗi sản phẩm cũng mỗi khác. Việc xem xét giá trị một tác phẩm văn học nghệ thuật nhiều khi còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quan điểm thẩm mỹ, khả năng cảm thụ của mỗi người… Tuy nhiên, một bài thơ hay sẽ góp phần bồi đắp nên một thế giới kỳ vĩ, được đông đảo người đọc đón nhận. Đó cũng là cơ hội giúp đọc giả khám phá những miền sâu thẳm trong tư tưởng, cảm xúc và cảm thụ các giá trị chân, thiện, mỹ để làm giàu cho tâm hồn mình. Từ nhận thức sẽ đi tới hành động. Đó là con đường tất yếu và là sức mạnh của thơ ca.

Chúng ta đã từng được chứng kiến thế giới kỳ vĩ ấy qua các áng thơ bất hủ. Trước hết nói về thơ dân gian. Một trong những hình ảnh vừa thơ mộng, vừa gần gũi và thân thiết với con người, đã sớm đi vào ca dao là ánh trăng. Trăng tạo mối giao hòa giữa trời, đất và lòng người. Sự kết nối ấy diễn ra ở nhiều khung cảnh khác nhau của cuộc sống, cả trong lời “trách” của chàng trai đối với cô thôn nữ trong một buổi tối lao động:

“Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”

Câu ca dao trên đây cho ta một cảm nhận vừa lãng mạn, vừa tinh tế: trong từng gàu nước của cô gái trẻ có ánh trăng vàng lung linh. Từ một dạng vật chất bình thường, không có hương vị, màu sắc, dưới sự tác động của ánh trăng, nước chợt hóa thân thành một thực thể vừa sống động, vừa huyền ảo. Chính vì vậy, đêm tát nước của cô thôn nữ tưởng chừng như rất mệt nhọc lại mang một sắc thái nhẹ nhàng và rất đáng yêu. Câu ca dao không miêu tả hình ảnh cô gái nhưng người đọc có thể cảm nhận được sự tươi trẻ, dịu dàng và thanh thoát của cô trong một đêm lao động miệt mài dưới ánh trăng huyền diệu. Bối cảnh ấy lại diễn ra “bên đàng”, nơi nhiều người có thể đi ngang qua và thưởng ngoạn. Qua câu ca dao trên đây, hoạt động lao động sản xuất của con người được thi vị hóa và tôn vinh, làm cho ta cảm thấy trân trọng và thêm yêu cuộc đời này.  

Truyện Kiều của Nguyễn Du là thế giới kỳ vỹ của lục bát thơ. Đắm mình trong thế giới ấy, ta được tiếp cận rất nhiều câu thơ tuyệt tác mà sau đây là một ví dụ:

“Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”.

Với hai câu thơ nhẹ nhàng, uyển chuyển, đại thi hào đã vẽ nên một bức tranh tuyệt mỹ về thiên nhiên. Ở đó, ta được tiếp cận mặt nước trong veo, tĩnh lặng như chiếc gương soi để trời in bóng xuống tận đáy. Trời và nước vốn là hai thế giới xa cách, đối lập, bỗng giao hòa với nhau trong một khung cảnh thật hữu tình và nên thơ. Kế cận bức tranh trên là hai tuyệt tác khác, một của con người, một của thiên nhiên, huyền ảo và rực rỡ như thực, như mộng. “Thành xây khói biếc” mang một vẻ đẹp vừa gần gũi, vừa cổ kính, linh thiêng, gợi tả không khí yên ả, thanh bình và một nền nếp, một trật tự xã hội vững chãi, tồn tại từ lâu đời. Còn“non phơi bóng vàng” là một thực thể vừa uy nghi, vừa lộng lẫy. Cái “bóng vàng” được “phơi” trên non ấy là sắc thái kỳ diệu của trời đất, đẹp như một bức tranh sơn dầu khổng lồ, tỏa rạng khắp không gian. Với các tính từ tả sắc thái sự vật, hiện tượng (“long lanh”, “biếc”, “vàng”) và việc sử dụng biện pháp nhân cách hóa (“in”, “xây”, “phơi”), hình ảnh thiên nhiên hiện lên trong câu thơ càng thêm sống động, lung linh.

Trong lịch sử văn học nước nhà, thơ Hồ Xuân Hương là một hiện tượng rất độc đáo. Dương Quang Hàm cho rằng: “Là một nữ sỹ thiên tài và giàu tình cảm nhưng vì số phận hẩm hiu, thân thế long đong, nên trong thơ bà hoặc có ý lẳng lơ, hoặc có giọng mỉa mai, nhưng bài nào cũng chứa chan tình tự”. Xuân Diệu gọi Hồ Xuân Hương là Bà chúa thơ Nôm và khẳng định, kể về sự độc đáo thì thơ bà đứng vào bậc nhất trong nền văn học Việt Nam. Ông cho rằng, một khi người đàn bà ấy đã cất tiếng lên thì đố ai đã nghe một lần lại có thể quên được: “Thứ thơ ấy không chịu ở trong khuôn khổ thông thường, một thứ thơ muốn lặn sâu vào sự vật, vào những đáy rất kín thắm của tâm tư, nhưng đáy kín thắm ấy không phải lạc lõng, cô đơn, cá nhân chủ nghĩa, mà trái lại, đã được hàng vạn, hàng vạn người đồng tình, thông cảm”. Mỗi bài thơ của nữ sĩ họ Hồ là một thế giới riêng. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của bà là bài Bánh trôi nước:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dù tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

Tác giả mượn hình ảnh của bánh trôi nước để ẩn dụ cho số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, ngắn gọn, cấu trúc chặt chẽ, súc tích, kết hợp với việc sử dụng ngôn ngữ của ca dao (“thân em”, “bảy nổi ba chìm”, “tấm lòng son”), tạo nên sự trang nhã mà sâu sắc, bình dị và gần gũi. Hình ảnh chiếc bánh trôi nước “vừa trắng lại vừa tròn” mang nghĩa tả thực, đồng thời tượng trưng cho vẻ đẹp hình thể và phẩm chất trong sáng, duyên dáng, đầy nữ tính của người phụ nữ. Tuy vậy, thân phận của họ cũng rất mong manh, dễ bị ảnh hưởng bởi tác động từ bên ngoài. Thành ngữ “Bảy nổi ba chìm” đã diễn tả cuộc đời lênh đênh, bất định của họ dưới xã hội phong kiến tàn bạo và bất công. Dù vậy, họ thể hiện thái độ cam chịu nhưng không khuất phục. Mặc cho “tay kẻ nặn” có bạo liệt thế nào, họ quyết “vẫn giữ tấm lòng son”, tức tấm lòng trung thực, thủy chung, son sắt của người phụ nữ Việt Nam.

Nói đến nền văn học nước nhà, mỗi chúng ta lại sung sướng và tự hào khi nhắc tới các tác phẩm của Bác Hồ kính yêu. Là nhà văn, nhà thơ lớn đồng thời là lãnh tụ thiên tài và vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Bác đã để lại cho dân tộc ta những tác phẩm văn học đặc sắc, trong đó có thơ chúc tết. Từ cái tết đầu tiên sau khi trở về Tổ quốc đến cái tết cuối cùng trước khi từ giã cõi đời này, vào lúc giao thừa, Bác thường đọc thơ chúc tết đồng bào, chiến sỹ cả nước. Đó là những phút giây vô cùng quý báu, có ý nghĩa to lớn, tạo nên không gian văn hoá trang trọng, thiêng liêng gắn kết lãnh tụ với nhân dân. Nhiều người cho rằng sự kiện ấy cần được củng cố, giữ gìn như một báu vật đặc biệt của quốc gia để đáp ứng tình cảm sâu nặng cùng ước nguyện tha thiết của các tầng lớp nhân dân hôm nay và mãi mãi mai sau. Các bài thơ chúc tết của Bác, mỗi bài đều có ý nghĩa to lớn và sâu sắc, gắn liền với các thời điểm lịch sử của dân tộc. Ở đây, một lần nữa xin nói về bài Mừng Xuân 1969, bài thơ chúc tết cuối cùng của Người:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang

Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to

Vì độc lập, vì tự do

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào

Tiến lên! Chiến sỹ, đồng bào

Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn.”

Viết cho đồng bào và chiến sỹ, Bác sử dụng thể thơ truyền thống của dân tộc. Hai câu đầu nói về kết quả kháng chiến trong năm qua và triển vọng của năm tới mà lời thơ bình dị, tự nhiên như lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân. Nhưng chính điều đó đã tạo nên sức khẳng định to lớn về quy luật tất yếu của cuộc kháng chiến. Hai câu tiếp theo, chỉ với 14 chữ, Người đã xây nên một toà lâu đài ngôn ngữ với các trục kiến trúc thật cân đối, hài hoà và vững chãi. Tòa lâu đài ấy chứa đựng những giá trị tư tưởng, nghệ thuật vĩ đại, khẳng định mục tiêu cao cả của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là vì độc lập, vì tự do, đồng thời chỉ rõ, để thực hiện mục tiêu ấy, các nhiệm vụ chiến lược, các bước đi cụ thể của cách mạng và phương thức kết thúc chiến tranh là “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”. Câu thơ đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng. Hai câu cuối vừa là mệnh lệnh tiến công, vừa chỉ ra tương lai tươi đẹp của dân tộc khi đất nước hoà bình, thống nhất. Bài thơ chỉ có sáu câu lục bát mà đã tạo nên một tuyệt tác có ý nghĩa to lớn về nhiều mặt: văn hoá, chính trị, quân sự, ngoại giao; và qua đó thể hiện cách xử thế cao cả của Con Người.

Có người cho rằng, so với Nguyễn Du, Nguyễn Trãi của Việt Nam hay Gớt của Đức, Pushkin của Nga chẳng hạn, tên tuổi của Xuân Diệu còn rất khiêm tốn. Nhưng nếu chọn từ thơ của Xuân Diệu và thơ của các đại thi hào kia mỗi người hai câu tiêu biểu nhất thì không ai có thể qua được hai câu thơ của “ông hoàng thơ tình Việt Nam”:

“Trái đất ba phần tư nước mắt

Trôi như giọt lệ giữa không trung”.

Ở đây, xin không bàn tới câu chuyện to tát là so sánh thơ của các bậc tiền bối lừng danh nói trên. Tuy nhiên, chúng ta có thể bày tỏ lòng yêu quý và kính phục trước tầm vốc hai câu thơ của Xuân Diệu.

Với câu thơ đầu, từ thực tế bề mặt trái đất có ba phần tư là biển cả, sông suối, ao hồ, nhà thơ ví đó như là “ba phần tư nước mắt”. Có lẽ không còn cách diễn đạt nào tuyệt vời hơn thế. Bởi, bên cạnh những niềm vui sướng và hạnh phúc đã đạt được, còn có biết bao gian truân, mất mát, thương đau loài người trên trái đất này phải gánh chịu. Nỗi niềm ấy do nhiều nguyên nhân gây ra, không phải một vài địa  điểm mà ở nhiều nơi, dai dẳng không dứt. Từ các cuộc thế chiến lôi kéo cả nhân loại vào vòng chết chóc, nghèo đói, đến các cuộc xung đột vũ trang đẫm máu. Từ các đại dịch đến các loại bệnh hiểm nghèo. Từ những  đợt sóng thần, động đất kinh hoàng đến những trận bão lụt, hạn hán tàn khốc. Rồi tai nạn lao động, đụng độ giao thông… Sự so sánh ấy không chỉ đúng ở thì hiện tại mà còn chính xác khi nhìn nhận lại suốt chiều dài lịch sử nhân loại và cả dự báo trong tương lai. Oái oăm thay, những tấn bi kịch ấy, trực tiếp hoặc gián tiếp, phần lớn đều do con người gây ra. Càng oái oăm hơn, khi trái đất đầy nước mắt này đang “Trôi như giọt lệ giữa không trung”. Nghĩa là nhân loại đã và đang thờ ơ, thụ động trước sinh mệnh của chính mình. Chữ “trôi” vừa là động từ, vừa là tính từ chỉ trạng thái, đã diễn tả thực trạng ấy. Hai câu thơ của Xuân Diệu như một lời cảnh tỉnh đối với cả loài người trên trái đất.

Có lần, một nhà thơ nói rằng: Người xưa quan niệm đường chân trời là nơi đất và trời tiếp giáp nhau. Đó là chốn xa xôi đến vô cùng, người ta có thể nhìn thấy trước mặt nhưng đi mãi, đi hoài không bao giờ tới. Vậy mà trong bài thơ Vạn lý tình, Huy Cận lại viết:

“Người ở bên trời, ta ở đây

Chờ mong phương nọ, ngóng phương này”.

Đọc câu thơ trên đây, anh nghĩ:“ở bên trời” nghĩa là xa hơn cả chân trời. Anh cho rằng đây là một khái niệm hoàn toàn mới. Có lẽ vì hai người cách chia bởi một khoảng không gian mênh mông quá, thời gian xa nhau dằng dặc quá nên đã không biết bao nhiêu lần tác giả đứng trông chờ người thân, và mỗi lần nhìn mãi về phương dự kiến người thân sẽ trở về mà không thấy, tác giả lại ước, biết đâu người ấy sẽ xuất hiện từ một phương khác chăng, nên mới có câu “Chờ mong phương nọ, ngóng phương này” ? - Anh suy luận nhưng không giám khẳng định và “bị” câu thơ ám ảnh mãi. Để giải tỏa nỗi niềm, đồng thời với lòng kính yêu, trân trọng nhà thơ lớn, anh mong một ngày ra Hà Nội để tới thăm và xin được hỏi chuyện ông, nhưng anh chưa kịp thực hiện ý định của mình thì tác giả Lửa thiêng đã đi xa.

Thơ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến có nhiều tác phẩm đặc sắc. Một trong số đó là bài thơ Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây của Phạm Tiến Duật. Nhiều người đã thể hiện lòng yêu thích tác phẩm này, nhất là khổ thơ sau:

“Từ nơi anh đưa sang bên nơi em

Những binh đoàn nối nhau ra trận tuyến

Như tình yêu nối lời vô tận

Đông Trường Sơn nối Tây Trường Sơn”.

Khi được phổ nhạc, bài thơ trên càng cất cánh bay cao, bay xa. Dù đã nghe nhiều lần, nhưng mỗi khi bài hát được ngân lên, chúng ta lại bị thu hút bởi cái đẹp, cái hay của bài hát, nhất là chữ lời trong câu “Như tình yêu nối lời vô tận”. Nếu xem ngôn từ trong bài thơ là một chuỗi hạt thì chữ lời tựa hạt ngọc lung linh làm sáng bừng lên cả chuỗi hạt ấy. Khi người con trai và người con gái yêu nhau, họ thường trao nhau những “lời” yêu nồng ấm. Dù ban ngày mới gặp gỡ, tối đến họ vẫn ước ao được cùng nhau tâm sự đến thâu đêm. Có thể chỉ là những câu chuyện không đầu không cuối, nhưng giữa họ lời cứ nối lời vô tận. Ngôn ngữ của tình yêu cũng rất phong phú, đa dạng. Có khi là những câu nói ngọt ngào thốt ra từ hai con tim rạo rực. Lại có khi là những cử chỉ vuốt ve âu yếm, hay là “tiếng ngón tay anh thủ thỉ, trong bàn tay em chiếc lá non mềm”… Cứ như vậy, những “binh đoàn” ngôn ngữ tình yêu cứ điệp điệp trùng trùng nối tiếp nhau, tưởng chừng không bao giờ dứt. Vậy mà chàng trai lại ví “Từ nơi anh đưa sang bên nơi em/Những binh đoàn nối nhau ra tiền tuyến/ Như tình yêu nối lời vô tận” thì quá tuyệt vời.

Cũng viết về Trường Sơn những năm đánh Mỹ, tác phẩm Sợi nhớ, sợi thương của Thúy Bắc khắc họa bức tranh tinh tế và sâu sắc về tâm hồn người phụ nữ Việt Nam, được thể hiện qua khúc tình ca tuyệt đẹp, mang màu sắc huyền thoại. Thiên nhiên hiện lên trong bài thơ thật khắc nghiệt:

“Trường Sơn Đông

Trường Sơn Tây

Bên nắng đốt

Bên mưa quây”

Trước hoàn cảnh ấy, nữ tác giả “giang tay”, “xoè tay” muốn ôm ấp, chở che người thương của mình là người chiến sỹ đang làm nhiệm vụ nơi tiền tuyến nhưng đành bất lực. Tuy vậy, với tình yêu rực cháy cùng niềm thủy chung son sắt và sự  hy sinh to lớn, chị muốn “Rút sợi thương/ Chằm mái lợp”, “Rút sợi nhớ/ Đan vòm xanh”, rồi dùng sức mạnh thần kỳ từ tình cảm thiêng liêng ấy, hoá thân vào thiên nhiên, “nghiêng sườn Đông”, “nghiêng sườn Tây” để “che mưa”, “xòa  bóng mát” nhằm che chắn cho người thân. Kết quả - dù chỉ là trong ước vọng - chị đã tạo nên một khung cảnh dịu êm và thơ mộng: “Rợp trời thương/Màu xanh suốt”. Giữa không gian huyền diệu ấy, người phụ nữ vui mừng và hạnh phúc thể hiện ý chí của mình: “Em nghiêng hết/ Về phương anh”. Đó là một hình ảnh tuyệt đẹp của tình yêu, biểu thị sự toàn tâm toàn ý dâng hiến cho người mình yêu thương nơi chiến hào của phụ nữ Việt Nam. Để khắc hoạ bức tranh trên đây, tác giả đã sử dụng thể thơ ba chữ, mỗi khổ hai câu, tạo nên hệ thống ngôn từ ngắn gọn, súc tích và thống nhất; nhịp điệu thơ dịu dàng, nữ tính nhưng nhanh và dứt khoát. Ngôn ngữ thơ được chọn lọc kỹ. Chữ “đốt” và chữ “quây” được sử dụng đắc địa, đặc tả tính chất khắc nghiệt của thiên nhiên. Tác giả cũng đã dùng các hình ảnh đối lập như “nắng đốt” - “mưa quây”, hoặc ẩn dụ như “sợi nhớ” - “sợi thương”, “chằm mái lợp” - “đan vòm xanh” đầy sáng tạo và đọc đáo, tạo nên hồn cốt tác phẩm. Tuy các yếu tố thực, hư đan xen nhau và chủ yếu là sự tưởng tượng của nữ nhà thơ nhưng ta cảm thấy trân trọng tư tưởng, tình cảm của tác giả và tin rằng, trước tấm lòng cao đẹp ấy, người thân của chị và các đồng đội sẽ vượt qua mọi thử thách, gian truân để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

Dù thế giới rộng mở, thơ không bị giới hạn thời gian, không gian và không hề đơn độc. Có khi tác phẩm tạo sức hút mạnh mẽ bởi chất thơ được kết hợp nhuần nhuyễn với âm nhạc, hội hoạ, điện ảnh, tạo nên âm hưởng dạt dào, say đắm như các câu thơ trong bài thơ viết về đất nước bạn của Tố Hữu:

“Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan

Đường bạch dương sương trắng, nắng tràn”.

Cũng có khi sự lôi cuốn đến từ các màu sắc của sự sống và hạnh phúc hiện lên một cách tươi đẹp, thần kỳ từ những mất mát, hy sinh của biết bao đồng bào, đồng chí trong cuộc chiến chống quân thù như ở tác phẩm Hoan hô chiến sỹ Điện Biên của tác giả:

“Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam

Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng”.

Trong gia tài thơ của các tác giả, nhất là những tác giả lớn, nhiều khi chỉ cần một vài bài, thậm chí một vài câu đã có thể gợi nên cả một chân trời suy tưởng. Với Nguyễn Đình Thi, đó là bài thơ Đất nước nổi tiếng cùng hai câu kết hào sảng: “Nước Việt Nam từ máu lửa/ Giũ bùn đứng dậy sáng lòa”. Một trong những lý do để Chế Lan Viên chiếm được tình cảm của người đọc là sức lan toả của hai câu thơ trong tác phẩm Tiếng hát con tàu: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”. Hoàng Trung Thông khẳng định vị thế của mình qua Bài ca vỡ đất với hai câu kết bất hủ: “Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”. Chính Hữu lưu danh bằng bút pháp tả thực và lãng mạn với hình ảnh độc đáo trong tác phẩm Đồng chí: “Đầu súng trăng treo”…

Thế giới của thơ rất kỳ vĩ, đa dạng và phong phú, trong phạm vi một bài viết không thể nói hết. Một điều chắc chắn là sức mạnh và sự lan tỏa từ thế giới kỳ vĩ ấy đã góp phần tạo nên “nền tảng tinh thần của xã hội”. Từ “nền tảng” cao đẹp và vững bền ấy, bao thế hệ người Việt Nam đã không quản ngại vất vả hy sinh, vững bước lên đường ra tiền tuyến chống giặc hoặc tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ của mình trên các mặt trận lao động sản xuất, công tác và học tập. Thế giới kỳ vĩ của thơ đã góp phần tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn, giúp họ lập nên những kỳ tích trong Cách mạng tháng Tám, các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước.

Các nhà thơ không phải tự nhiên sinh ra để làm thơ. Phần lớn họ tự gắn cái “nghiệp” làm thi sỹ lên vai mình, mặc dù, thời nào cũng vậy, hầu như ít ai có thể đủ sống bằng cái “nghiệp” ấy. Như thân tằm rút ruột nhả tơ, các nhà thơ đào xới trong cõi lòng mình để khai quật ra từng con chữ tạo nên những đứa con tinh thần góp làm của cái chung cho nhân quần. Để làm được điều đó, cũng như bao nghệ sỹ khác, các nhà thơ phải đổ mồ hôi và nhiều khi cả máu nữa. Nhờ sự hy sinh thầm lặng ấy, tình yêu thương giữa con người với con người ngày một nảy nở, thế giới càng thêm tươi xanh, cái đẹp đơm hoa kết trái, cuộc sống thêm tươi vui, an bình và hạnh phúc. Cũng chính vì vậy, vai trò, sự đóng góp của họ cho cuộc đời không hề nhỏ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm