TIN TỨC

Thế giới kỳ vĩ của thơ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-11-17 10:04:31
mail facebook google pos stwis
918 lượt xem

(Mời click vào logo trên đây để truy cập thư mục)

Bài viết “Thế giới kỳ vĩ của thơ” của nhà văn Nguyễn Quế (từ Bình Dương cũ) là một cuộc dạo bước qua nhiều miền thi ca Việt Nam – từ ánh trăng ca dao, vẻ cổ điển của Kiều, tiếng thơ Hồ Xuân Hương, đến những câu thơ đã thành “ký ức tinh thần” của thời kháng chiến. Qua từng trích dẫn và phân tích, tác giả cho thấy thơ không chỉ là nghệ thuật ngôn từ mà còn là nguồn sức mạnh nâng đỡ con người trong mọi thời điểm lịch sử.
 

NGUYỄN QUẾ

Nhân loại có hàng trăm định nghĩa về thơ. Có thể hiểu: Thơ là sự kết tinh tư tưởng, cảm xúc, trải nghiệm của con người về thế giới và cuộc sống, được biểu đạt bằng nghệ thuật ngôn từ.

Thế giới của thơ, với thi sỹ là bến đậu của tâm hồn, là cánh đồng gieo trồng cảm xúc và chữ nghĩa, là bầu trời để cất cánh ước mơ và thả hồn phiêu lãng; với đọc giả là nhịp cầu kết nối con tim, là dòng sông soi rọi, tắm táp tâm hồn để được nâng đỡ và bay cao.

Khó có thể đưa ra con số thống kê cụ thể, nhưng chắc chắn, hàng ngày nhân loại sản xuất ra một lượng thơ ca không hề nhỏ. Chỉ riêng ở Việt Nam, một đất nước được xem “mỗi người dân là một nhà thơ”, con số ấy có lẽ đã khó đong đếm. Trong cái kho tàng ấy, chất lượng mỗi sản phẩm cũng mỗi khác. Việc xem xét giá trị một tác phẩm văn học nghệ thuật nhiều khi còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quan điểm thẩm mỹ, khả năng cảm thụ của mỗi người… Tuy nhiên, một bài thơ hay sẽ góp phần bồi đắp nên một thế giới kỳ vĩ, được đông đảo người đọc đón nhận. Đó cũng là cơ hội giúp đọc giả khám phá những miền sâu thẳm trong tư tưởng, cảm xúc và cảm thụ các giá trị chân, thiện, mỹ để làm giàu cho tâm hồn mình. Từ nhận thức sẽ đi tới hành động. Đó là con đường tất yếu và là sức mạnh của thơ ca.

Chúng ta đã từng được chứng kiến thế giới kỳ vĩ ấy qua các áng thơ bất hủ. Trước hết nói về thơ dân gian. Một trong những hình ảnh vừa thơ mộng, vừa gần gũi và thân thiết với con người, đã sớm đi vào ca dao là ánh trăng. Trăng tạo mối giao hòa giữa trời, đất và lòng người. Sự kết nối ấy diễn ra ở nhiều khung cảnh khác nhau của cuộc sống, cả trong lời “trách” của chàng trai đối với cô thôn nữ trong một buổi tối lao động:

“Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”

Câu ca dao trên đây cho ta một cảm nhận vừa lãng mạn, vừa tinh tế: trong từng gàu nước của cô gái trẻ có ánh trăng vàng lung linh. Từ một dạng vật chất bình thường, không có hương vị, màu sắc, dưới sự tác động của ánh trăng, nước chợt hóa thân thành một thực thể vừa sống động, vừa huyền ảo. Chính vì vậy, đêm tát nước của cô thôn nữ tưởng chừng như rất mệt nhọc lại mang một sắc thái nhẹ nhàng và rất đáng yêu. Câu ca dao không miêu tả hình ảnh cô gái nhưng người đọc có thể cảm nhận được sự tươi trẻ, dịu dàng và thanh thoát của cô trong một đêm lao động miệt mài dưới ánh trăng huyền diệu. Bối cảnh ấy lại diễn ra “bên đàng”, nơi nhiều người có thể đi ngang qua và thưởng ngoạn. Qua câu ca dao trên đây, hoạt động lao động sản xuất của con người được thi vị hóa và tôn vinh, làm cho ta cảm thấy trân trọng và thêm yêu cuộc đời này.  

Truyện Kiều của Nguyễn Du là thế giới kỳ vỹ của lục bát thơ. Đắm mình trong thế giới ấy, ta được tiếp cận rất nhiều câu thơ tuyệt tác mà sau đây là một ví dụ:

“Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”.

Với hai câu thơ nhẹ nhàng, uyển chuyển, đại thi hào đã vẽ nên một bức tranh tuyệt mỹ về thiên nhiên. Ở đó, ta được tiếp cận mặt nước trong veo, tĩnh lặng như chiếc gương soi để trời in bóng xuống tận đáy. Trời và nước vốn là hai thế giới xa cách, đối lập, bỗng giao hòa với nhau trong một khung cảnh thật hữu tình và nên thơ. Kế cận bức tranh trên là hai tuyệt tác khác, một của con người, một của thiên nhiên, huyền ảo và rực rỡ như thực, như mộng. “Thành xây khói biếc” mang một vẻ đẹp vừa gần gũi, vừa cổ kính, linh thiêng, gợi tả không khí yên ả, thanh bình và một nền nếp, một trật tự xã hội vững chãi, tồn tại từ lâu đời. Còn“non phơi bóng vàng” là một thực thể vừa uy nghi, vừa lộng lẫy. Cái “bóng vàng” được “phơi” trên non ấy là sắc thái kỳ diệu của trời đất, đẹp như một bức tranh sơn dầu khổng lồ, tỏa rạng khắp không gian. Với các tính từ tả sắc thái sự vật, hiện tượng (“long lanh”, “biếc”, “vàng”) và việc sử dụng biện pháp nhân cách hóa (“in”, “xây”, “phơi”), hình ảnh thiên nhiên hiện lên trong câu thơ càng thêm sống động, lung linh.

Trong lịch sử văn học nước nhà, thơ Hồ Xuân Hương là một hiện tượng rất độc đáo. Dương Quang Hàm cho rằng: “Là một nữ sỹ thiên tài và giàu tình cảm nhưng vì số phận hẩm hiu, thân thế long đong, nên trong thơ bà hoặc có ý lẳng lơ, hoặc có giọng mỉa mai, nhưng bài nào cũng chứa chan tình tự”. Xuân Diệu gọi Hồ Xuân Hương là Bà chúa thơ Nôm và khẳng định, kể về sự độc đáo thì thơ bà đứng vào bậc nhất trong nền văn học Việt Nam. Ông cho rằng, một khi người đàn bà ấy đã cất tiếng lên thì đố ai đã nghe một lần lại có thể quên được: “Thứ thơ ấy không chịu ở trong khuôn khổ thông thường, một thứ thơ muốn lặn sâu vào sự vật, vào những đáy rất kín thắm của tâm tư, nhưng đáy kín thắm ấy không phải lạc lõng, cô đơn, cá nhân chủ nghĩa, mà trái lại, đã được hàng vạn, hàng vạn người đồng tình, thông cảm”. Mỗi bài thơ của nữ sĩ họ Hồ là một thế giới riêng. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của bà là bài Bánh trôi nước:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dù tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

Tác giả mượn hình ảnh của bánh trôi nước để ẩn dụ cho số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, ngắn gọn, cấu trúc chặt chẽ, súc tích, kết hợp với việc sử dụng ngôn ngữ của ca dao (“thân em”, “bảy nổi ba chìm”, “tấm lòng son”), tạo nên sự trang nhã mà sâu sắc, bình dị và gần gũi. Hình ảnh chiếc bánh trôi nước “vừa trắng lại vừa tròn” mang nghĩa tả thực, đồng thời tượng trưng cho vẻ đẹp hình thể và phẩm chất trong sáng, duyên dáng, đầy nữ tính của người phụ nữ. Tuy vậy, thân phận của họ cũng rất mong manh, dễ bị ảnh hưởng bởi tác động từ bên ngoài. Thành ngữ “Bảy nổi ba chìm” đã diễn tả cuộc đời lênh đênh, bất định của họ dưới xã hội phong kiến tàn bạo và bất công. Dù vậy, họ thể hiện thái độ cam chịu nhưng không khuất phục. Mặc cho “tay kẻ nặn” có bạo liệt thế nào, họ quyết “vẫn giữ tấm lòng son”, tức tấm lòng trung thực, thủy chung, son sắt của người phụ nữ Việt Nam.

Nói đến nền văn học nước nhà, mỗi chúng ta lại sung sướng và tự hào khi nhắc tới các tác phẩm của Bác Hồ kính yêu. Là nhà văn, nhà thơ lớn đồng thời là lãnh tụ thiên tài và vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Bác đã để lại cho dân tộc ta những tác phẩm văn học đặc sắc, trong đó có thơ chúc tết. Từ cái tết đầu tiên sau khi trở về Tổ quốc đến cái tết cuối cùng trước khi từ giã cõi đời này, vào lúc giao thừa, Bác thường đọc thơ chúc tết đồng bào, chiến sỹ cả nước. Đó là những phút giây vô cùng quý báu, có ý nghĩa to lớn, tạo nên không gian văn hoá trang trọng, thiêng liêng gắn kết lãnh tụ với nhân dân. Nhiều người cho rằng sự kiện ấy cần được củng cố, giữ gìn như một báu vật đặc biệt của quốc gia để đáp ứng tình cảm sâu nặng cùng ước nguyện tha thiết của các tầng lớp nhân dân hôm nay và mãi mãi mai sau. Các bài thơ chúc tết của Bác, mỗi bài đều có ý nghĩa to lớn và sâu sắc, gắn liền với các thời điểm lịch sử của dân tộc. Ở đây, một lần nữa xin nói về bài Mừng Xuân 1969, bài thơ chúc tết cuối cùng của Người:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang

Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to

Vì độc lập, vì tự do

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào

Tiến lên! Chiến sỹ, đồng bào

Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn.”

Viết cho đồng bào và chiến sỹ, Bác sử dụng thể thơ truyền thống của dân tộc. Hai câu đầu nói về kết quả kháng chiến trong năm qua và triển vọng của năm tới mà lời thơ bình dị, tự nhiên như lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân. Nhưng chính điều đó đã tạo nên sức khẳng định to lớn về quy luật tất yếu của cuộc kháng chiến. Hai câu tiếp theo, chỉ với 14 chữ, Người đã xây nên một toà lâu đài ngôn ngữ với các trục kiến trúc thật cân đối, hài hoà và vững chãi. Tòa lâu đài ấy chứa đựng những giá trị tư tưởng, nghệ thuật vĩ đại, khẳng định mục tiêu cao cả của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là vì độc lập, vì tự do, đồng thời chỉ rõ, để thực hiện mục tiêu ấy, các nhiệm vụ chiến lược, các bước đi cụ thể của cách mạng và phương thức kết thúc chiến tranh là “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”. Câu thơ đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng. Hai câu cuối vừa là mệnh lệnh tiến công, vừa chỉ ra tương lai tươi đẹp của dân tộc khi đất nước hoà bình, thống nhất. Bài thơ chỉ có sáu câu lục bát mà đã tạo nên một tuyệt tác có ý nghĩa to lớn về nhiều mặt: văn hoá, chính trị, quân sự, ngoại giao; và qua đó thể hiện cách xử thế cao cả của Con Người.

Có người cho rằng, so với Nguyễn Du, Nguyễn Trãi của Việt Nam hay Gớt của Đức, Pushkin của Nga chẳng hạn, tên tuổi của Xuân Diệu còn rất khiêm tốn. Nhưng nếu chọn từ thơ của Xuân Diệu và thơ của các đại thi hào kia mỗi người hai câu tiêu biểu nhất thì không ai có thể qua được hai câu thơ của “ông hoàng thơ tình Việt Nam”:

“Trái đất ba phần tư nước mắt

Trôi như giọt lệ giữa không trung”.

Ở đây, xin không bàn tới câu chuyện to tát là so sánh thơ của các bậc tiền bối lừng danh nói trên. Tuy nhiên, chúng ta có thể bày tỏ lòng yêu quý và kính phục trước tầm vốc hai câu thơ của Xuân Diệu.

Với câu thơ đầu, từ thực tế bề mặt trái đất có ba phần tư là biển cả, sông suối, ao hồ, nhà thơ ví đó như là “ba phần tư nước mắt”. Có lẽ không còn cách diễn đạt nào tuyệt vời hơn thế. Bởi, bên cạnh những niềm vui sướng và hạnh phúc đã đạt được, còn có biết bao gian truân, mất mát, thương đau loài người trên trái đất này phải gánh chịu. Nỗi niềm ấy do nhiều nguyên nhân gây ra, không phải một vài địa  điểm mà ở nhiều nơi, dai dẳng không dứt. Từ các cuộc thế chiến lôi kéo cả nhân loại vào vòng chết chóc, nghèo đói, đến các cuộc xung đột vũ trang đẫm máu. Từ các đại dịch đến các loại bệnh hiểm nghèo. Từ những  đợt sóng thần, động đất kinh hoàng đến những trận bão lụt, hạn hán tàn khốc. Rồi tai nạn lao động, đụng độ giao thông… Sự so sánh ấy không chỉ đúng ở thì hiện tại mà còn chính xác khi nhìn nhận lại suốt chiều dài lịch sử nhân loại và cả dự báo trong tương lai. Oái oăm thay, những tấn bi kịch ấy, trực tiếp hoặc gián tiếp, phần lớn đều do con người gây ra. Càng oái oăm hơn, khi trái đất đầy nước mắt này đang “Trôi như giọt lệ giữa không trung”. Nghĩa là nhân loại đã và đang thờ ơ, thụ động trước sinh mệnh của chính mình. Chữ “trôi” vừa là động từ, vừa là tính từ chỉ trạng thái, đã diễn tả thực trạng ấy. Hai câu thơ của Xuân Diệu như một lời cảnh tỉnh đối với cả loài người trên trái đất.

Có lần, một nhà thơ nói rằng: Người xưa quan niệm đường chân trời là nơi đất và trời tiếp giáp nhau. Đó là chốn xa xôi đến vô cùng, người ta có thể nhìn thấy trước mặt nhưng đi mãi, đi hoài không bao giờ tới. Vậy mà trong bài thơ Vạn lý tình, Huy Cận lại viết:

“Người ở bên trời, ta ở đây

Chờ mong phương nọ, ngóng phương này”.

Đọc câu thơ trên đây, anh nghĩ:“ở bên trời” nghĩa là xa hơn cả chân trời. Anh cho rằng đây là một khái niệm hoàn toàn mới. Có lẽ vì hai người cách chia bởi một khoảng không gian mênh mông quá, thời gian xa nhau dằng dặc quá nên đã không biết bao nhiêu lần tác giả đứng trông chờ người thân, và mỗi lần nhìn mãi về phương dự kiến người thân sẽ trở về mà không thấy, tác giả lại ước, biết đâu người ấy sẽ xuất hiện từ một phương khác chăng, nên mới có câu “Chờ mong phương nọ, ngóng phương này” ? - Anh suy luận nhưng không giám khẳng định và “bị” câu thơ ám ảnh mãi. Để giải tỏa nỗi niềm, đồng thời với lòng kính yêu, trân trọng nhà thơ lớn, anh mong một ngày ra Hà Nội để tới thăm và xin được hỏi chuyện ông, nhưng anh chưa kịp thực hiện ý định của mình thì tác giả Lửa thiêng đã đi xa.

Thơ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến có nhiều tác phẩm đặc sắc. Một trong số đó là bài thơ Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây của Phạm Tiến Duật. Nhiều người đã thể hiện lòng yêu thích tác phẩm này, nhất là khổ thơ sau:

“Từ nơi anh đưa sang bên nơi em

Những binh đoàn nối nhau ra trận tuyến

Như tình yêu nối lời vô tận

Đông Trường Sơn nối Tây Trường Sơn”.

Khi được phổ nhạc, bài thơ trên càng cất cánh bay cao, bay xa. Dù đã nghe nhiều lần, nhưng mỗi khi bài hát được ngân lên, chúng ta lại bị thu hút bởi cái đẹp, cái hay của bài hát, nhất là chữ lời trong câu “Như tình yêu nối lời vô tận”. Nếu xem ngôn từ trong bài thơ là một chuỗi hạt thì chữ lời tựa hạt ngọc lung linh làm sáng bừng lên cả chuỗi hạt ấy. Khi người con trai và người con gái yêu nhau, họ thường trao nhau những “lời” yêu nồng ấm. Dù ban ngày mới gặp gỡ, tối đến họ vẫn ước ao được cùng nhau tâm sự đến thâu đêm. Có thể chỉ là những câu chuyện không đầu không cuối, nhưng giữa họ lời cứ nối lời vô tận. Ngôn ngữ của tình yêu cũng rất phong phú, đa dạng. Có khi là những câu nói ngọt ngào thốt ra từ hai con tim rạo rực. Lại có khi là những cử chỉ vuốt ve âu yếm, hay là “tiếng ngón tay anh thủ thỉ, trong bàn tay em chiếc lá non mềm”… Cứ như vậy, những “binh đoàn” ngôn ngữ tình yêu cứ điệp điệp trùng trùng nối tiếp nhau, tưởng chừng không bao giờ dứt. Vậy mà chàng trai lại ví “Từ nơi anh đưa sang bên nơi em/Những binh đoàn nối nhau ra tiền tuyến/ Như tình yêu nối lời vô tận” thì quá tuyệt vời.

Cũng viết về Trường Sơn những năm đánh Mỹ, tác phẩm Sợi nhớ, sợi thương của Thúy Bắc khắc họa bức tranh tinh tế và sâu sắc về tâm hồn người phụ nữ Việt Nam, được thể hiện qua khúc tình ca tuyệt đẹp, mang màu sắc huyền thoại. Thiên nhiên hiện lên trong bài thơ thật khắc nghiệt:

“Trường Sơn Đông

Trường Sơn Tây

Bên nắng đốt

Bên mưa quây”

Trước hoàn cảnh ấy, nữ tác giả “giang tay”, “xoè tay” muốn ôm ấp, chở che người thương của mình là người chiến sỹ đang làm nhiệm vụ nơi tiền tuyến nhưng đành bất lực. Tuy vậy, với tình yêu rực cháy cùng niềm thủy chung son sắt và sự  hy sinh to lớn, chị muốn “Rút sợi thương/ Chằm mái lợp”, “Rút sợi nhớ/ Đan vòm xanh”, rồi dùng sức mạnh thần kỳ từ tình cảm thiêng liêng ấy, hoá thân vào thiên nhiên, “nghiêng sườn Đông”, “nghiêng sườn Tây” để “che mưa”, “xòa  bóng mát” nhằm che chắn cho người thân. Kết quả - dù chỉ là trong ước vọng - chị đã tạo nên một khung cảnh dịu êm và thơ mộng: “Rợp trời thương/Màu xanh suốt”. Giữa không gian huyền diệu ấy, người phụ nữ vui mừng và hạnh phúc thể hiện ý chí của mình: “Em nghiêng hết/ Về phương anh”. Đó là một hình ảnh tuyệt đẹp của tình yêu, biểu thị sự toàn tâm toàn ý dâng hiến cho người mình yêu thương nơi chiến hào của phụ nữ Việt Nam. Để khắc hoạ bức tranh trên đây, tác giả đã sử dụng thể thơ ba chữ, mỗi khổ hai câu, tạo nên hệ thống ngôn từ ngắn gọn, súc tích và thống nhất; nhịp điệu thơ dịu dàng, nữ tính nhưng nhanh và dứt khoát. Ngôn ngữ thơ được chọn lọc kỹ. Chữ “đốt” và chữ “quây” được sử dụng đắc địa, đặc tả tính chất khắc nghiệt của thiên nhiên. Tác giả cũng đã dùng các hình ảnh đối lập như “nắng đốt” - “mưa quây”, hoặc ẩn dụ như “sợi nhớ” - “sợi thương”, “chằm mái lợp” - “đan vòm xanh” đầy sáng tạo và đọc đáo, tạo nên hồn cốt tác phẩm. Tuy các yếu tố thực, hư đan xen nhau và chủ yếu là sự tưởng tượng của nữ nhà thơ nhưng ta cảm thấy trân trọng tư tưởng, tình cảm của tác giả và tin rằng, trước tấm lòng cao đẹp ấy, người thân của chị và các đồng đội sẽ vượt qua mọi thử thách, gian truân để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

Dù thế giới rộng mở, thơ không bị giới hạn thời gian, không gian và không hề đơn độc. Có khi tác phẩm tạo sức hút mạnh mẽ bởi chất thơ được kết hợp nhuần nhuyễn với âm nhạc, hội hoạ, điện ảnh, tạo nên âm hưởng dạt dào, say đắm như các câu thơ trong bài thơ viết về đất nước bạn của Tố Hữu:

“Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan

Đường bạch dương sương trắng, nắng tràn”.

Cũng có khi sự lôi cuốn đến từ các màu sắc của sự sống và hạnh phúc hiện lên một cách tươi đẹp, thần kỳ từ những mất mát, hy sinh của biết bao đồng bào, đồng chí trong cuộc chiến chống quân thù như ở tác phẩm Hoan hô chiến sỹ Điện Biên của tác giả:

“Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam

Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng”.

Trong gia tài thơ của các tác giả, nhất là những tác giả lớn, nhiều khi chỉ cần một vài bài, thậm chí một vài câu đã có thể gợi nên cả một chân trời suy tưởng. Với Nguyễn Đình Thi, đó là bài thơ Đất nước nổi tiếng cùng hai câu kết hào sảng: “Nước Việt Nam từ máu lửa/ Giũ bùn đứng dậy sáng lòa”. Một trong những lý do để Chế Lan Viên chiếm được tình cảm của người đọc là sức lan toả của hai câu thơ trong tác phẩm Tiếng hát con tàu: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”. Hoàng Trung Thông khẳng định vị thế của mình qua Bài ca vỡ đất với hai câu kết bất hủ: “Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”. Chính Hữu lưu danh bằng bút pháp tả thực và lãng mạn với hình ảnh độc đáo trong tác phẩm Đồng chí: “Đầu súng trăng treo”

Thế giới của thơ rất kỳ vĩ, đa dạng và phong phú, trong phạm vi một bài viết không thể nói hết. Một điều chắc chắn là sức mạnh và sự lan tỏa từ thế giới kỳ vĩ ấy đã góp phần tạo nên “nền tảng tinh thần của xã hội”. Từ “nền tảng” cao đẹp và vững bền ấy, bao thế hệ người Việt Nam đã không quản ngại vất vả hy sinh, vững bước lên đường ra tiền tuyến chống giặc hoặc tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ của mình trên các mặt trận lao động sản xuất, công tác và học tập. Thế giới kỳ vĩ của thơ đã góp phần tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn, giúp họ lập nên những kỳ tích trong Cách mạng tháng Tám, các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước.

Các nhà thơ không phải tự nhiên sinh ra để làm thơ. Phần lớn họ tự gắn cái “nghiệp” làm thi sỹ lên vai mình, mặc dù, thời nào cũng vậy, hầu như ít ai có thể đủ sống bằng cái “nghiệp” ấy. Như thân tằm rút ruột nhả tơ, các nhà thơ đào xới trong cõi lòng mình để khai quật ra từng con chữ tạo nên những đứa con tinh thần góp làm của cái chung cho nhân quần. Để làm được điều đó, cũng như bao nghệ sỹ khác, các nhà thơ phải đổ mồ hôi và nhiều khi cả máu nữa. Nhờ sự hy sinh thầm lặng ấy, tình yêu thương giữa con người với con người ngày một nảy nở, thế giới càng thêm tươi xanh, cái đẹp đơm hoa kết trái, cuộc sống thêm tươi vui, an bình và hạnh phúc. Cũng chính vì vậy, vai trò, sự đóng góp của họ cho cuộc đời không hề nhỏ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm