TIN TỨC

Thời đương đại nghe lời thơ lục bát ru tình

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-24 08:45:04
mail facebook google pos stwis
1073 lượt xem

Bằng cảm quan nhạy bén của một người đọc thơ và nghiên cứu văn chương, tiến sĩ Hà Thanh Vân đã có bài viết tinh tế về tập thơ Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau – tập thơ thứ ba của nhà thơ Đoàn Thị Diễm Thuyên, hội viên Hội Nhà văn TP. HCM, vừa ra mắt bạn đọc vào sáng 22/6/2025.

Chọn thể thơ lục bát – thể thơ truyền thống tưởng chừng cũ kỹ – Diễm Thuyên không làm cách tân hình thức, mà thổi vào đó một ngữ khí mới, chất liệu đời thường, nhịp điệu nữ tính hiện đại, để thơ vừa mềm mại vừa day dứt, vừa ru vừa rưng.

Diễm Thuyên không chỉ viết về tình yêu, mà còn khắc họa thân phận người phụ nữ đương thời – khao khát yêu, chủ động yêu, chịu đựng và bao dung, với tất cả sự mỏng manh và bản lĩnh. Bài viết của TS Hà Thanh Vân chỉ ra: dù thơ Diễm Thuyên có mượn giọng “ru” truyền thống hay ngôn ngữ “phi thơ” đời thường, thì điểm đến cuối cùng vẫn là tình cảm chân thành và vẻ đẹp nội tâm thầm thì của một người nữ làm thơ giữa đời sống hiện đại.

Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết này đến quý độc giả.
 

Tiến sĩ HÀ THANH VÂN

Người nữ làm thơ lục bát giữa lằn ranh truyền thống và hiện đại

Đoàn Thị Diễm Thuyên là một tác giả nữ đã gặt hái một số thành công trong lĩnh vực thơ ca. Cô sinh năm 1980, quê quán tại huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Hiện nay Diễm Thuyên làm biên kịch phim ở TPHCM. Cô là hội viên Hội Văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu – Bến Tre và là Hội viên Hội Nhà văn TPHCM.

Đoàn Thị Diễm Thuyên làm thơ từ khá sớm, khi mới 19 tuổi và đã có nhiều tác phẩm trong các tập thơ in chung. Nhưng khá lặng lẽ và kỹ lưỡng, cầu toàn với thơ ca, Diễm Thuyên chỉ mới cho ra mắt hai tập thơ “Để con về nhà hỏi má” (2017) và “Trời mưa cho ướt” (2018). Tuy vậy, khả năng văn chương của Đoàn Thị Diễm Thuyên đã được ghi nhận qua các giải thưởng như: Giải Ba cuộc thi Thơ Lục bát 2019 do Tập san Áo Trắng và Nhà xuất bản Trẻ tổ chức, giải Ba cuộc thi Thơ và Tạp bút “45 năm rực rỡ tên vàng” năm 2021 của Báo Người Lao Động, giải Tư cuộc thi thơ “Nhân nghĩa đất phương Nam” năm 2021, giải Ba cuộc thi thơ dành cho phụ nữ trên Tạp chí Lang Bian lần III năm 2022. Gần đây Diễm Thuyên nhận giải Nhì đồng hạng (không có giải Nhất) cuộc thi Thơ 1-2-3 năm 2025 do Trang Văn học Sài Gòn và Trang Nhịp sống Văn học tổ chức. Có thế mạnh ở thể thơ lục bát và bản thân cũng chọn lục bát là thể thơ yêu thích để sáng tác, năm 2025, Diễm Thuyên cho ra mắt độc giả tập thơ thứ ba mang tên “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau” do NXB Hội Nhà văn ấn hành.

Theo lời của chính tác giả, tập thơ này có hai chủ đề: RU và MƯỢN, mà hàm ý của nó đã thể hiện ở ngay nhan đề của tập thơ. Chọn một thể thơ truyền thống, quen thuộc, dễ làm, nhưng lại khó làm cho hay, Đoàn Thị Diễm Thuyên đã tự thách thức chính mình. Thật ra thể thơ lục bát - một thể thơ dân tộc rất đặc trưng của Việt Nam - hoàn toàn có thể làm theo phong cách hiện đại, cách tân. Trên thực tế, nhiều nhà thơ đương đại của Việt Nam đã và đang thử nghiệm điều này. Có người thành công và cũng có người chưa gây được ấn tượng. Song điều quan trọng là những thể nghiệm đó chứng tỏ thơ lục bát vẫn có sức sống mãnh liệt và có vị trí quan trọng trong cảm hứng sáng tác, tư duy nghệ thuật của những nhà thơ đương đại.

Và Đoàn Thị Diễm Thuyên đã nỗ lực mang hơi thở mới mẻ của đời sống, tâm tư, tình cảm của con người đương đại để thổi hồn vào thể thơ lục bát truyền thống. Thơ lục bát của Đoàn Thị Diễm Thuyên mang đậm chất nữ tính, kết hợp giữa những yếu tố truyền thống và màu sắc hiện đại. Cô sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi nhưng không kém phần sâu sắc, thể hiện qua những hình ảnh đời thường và cảm xúc chân thành.

Giữ khung luật truyền thống nhưng làm mới nội dung theo kiểu “phi thơ” và phá cách ngôn từ

Đoàn Thị Diễm Thuyên giữ đúng niêm luật thơ lục bát truyền thống. Cô không phá cách lục bát như nhiều nhà thơ hiện đại, mà vẫn tôn trọng nhịp 2/2/2 hoặc 3/3, gieo vần bằng ở chữ 6, vần chân ở chữ 8. Điều này giúp thơ cô dễ đọc, dễ thuộc, gần với dân ca và ca dao.


Nhà thơ Đoàn Thị Diễm Thuyên và Tiến sĩ Hà Thanh Vân (phải)

Khi ra mắt tập thơ thứ ba “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau”, Đoàn Thị Diễm Thuyên đã chia tập thơ thành hai chủ đề, với hai phần rõ rệt. Phần một “Lục bát ru anh” gồm 34 bài, mỗi bài thơ đều được mang tên chung là “Ru anh” và đánh số thứ tự từ 1 đến 34. Phần hai là “Lục bát mượn” gồm 30 bài thơ thì trong nhan đề mỗi bài thơ đều có một chữ “mượn”. Chẳng hạn như “Cho em mượn một bờ vai”, “Cho em mượn thử lá gan”, “Cho em mượn cánh tay này”, “Cho em mượn chiếc răng khôn”… Có khá nhiều bài thơ lục bát của Diễm Thuyên đề cập đến việc mượn một bộ phận thân thể của nhân vật “anh”, từ bờ vai, bờ môi, vòng tay, máu tim, lá gan, ngón tay v.v… Sự độc đáo và khác lạ này có lẽ là bắt nguồn từ ý tưởng và cảm quan nghệ thuật của nhà thơ muốn thể hiện sự gắn bó, giao hòa giữa hai con người “em” và “anh”, trong đó nhân vật nữ xưng em là ở thế chủ động. Chủ động đến với tình yêu, chủ động vun đắp tình cảm, chủ động sống, chủ động gắn bó đời mình… để không hối tiếc vì đã sống như thế, cho dù ngày mai, ngày sau có thể là chia xa, ly biệt.

Cho em mượn một bờ vai

Tựa vào đêm tận rồi mai trả người.

(Cho em mượn một bờ vai)

Và:

Em mượn một chút rồi thôi

Cho qua cơn bão ngang đời em đang…

(Cho em mượn phía sau lưng)

Thơ lục bát có luật rất đặc trưng: dòng 6 và dòng 8, gieo vần lưng. Đoàn Thị Diễm Thuyên vẫn giữ khung luật này, thậm chí vẫn mượn một cảm hứng truyền thống là “lời ru”, nhưng thổi hồn tình cảm vào thành “lời ru anh”. Từ đó nhà thơ viết về những đề tài hiện đại như: chuyện kinh doanh, chiến tranh hờn ghen tinh thần, thời đại số hóa, sự cô đơn hiện sinh, những bi hài trong đời sống thường nhật, chút vô thường Phật giáo… tất cả được lồng ghép trong những lời ru tình yêu dành cho đối tượng “anh” như một cách tạo ra những nghịch lý thơ rất thú vị:

Em trở lại là “đàn bà”

Để mong anh trở lại là “đàn ông”

Thế mà sắc sắc không không

Em ru anh giữa đêm đông buốt lời

(Ru anh 16)

Hay:

Ru anh lòng bớt nhỏ nhen

Từ khi vườn mộng biết ghen úa tàn.

(Ru anh 18)

Nhưng tất cả những đề tài hiện đại ấy đều in đậm dấu ấn đời thường và cảm xúc cá nhân của nhà thơ về tình yêu nam nữ, đặc biệt là những tình cảm gian truân, dang dở, từ đó vẽ nên thân phận người phụ nữ: chịu thương, chịu khó, cam chịu nhưng cũng đầy bản lĩnh và nhân hậu, bao dung. Những trăn trở nội tâm như nỗi cô đơn, mất mát, khát vọng yêu thương và được thấu hiểu được gửi gắm vào những lời ru anh như là những ước nguyện.

Dùng từ ngữ đời thường và đưa những chất liệu “phi thơ” vào là cách để nhà thơ Đoàn Thị Diễm Thuyên lạ hóa tác phẩm của mình. Cho nên mới có những câu lục bát với những thuật ngữ rất “kinh tế thị trường” như:

- Cho anh mượn “Quỹ niềm tin”

“Đầu tư nhanh” chỗ cuộc tình còn non

- Chỉ e quỹ rót rất giòn

Mà em hụt vốn lại còn nợ hoang?

(Cho anh mượn cả niềm tin)

Nhưng dù có “phi thơ” như thế, thì điểm đến cuối cùng vẫn là tình yêu, là sự gắn kết:

Nếu vốn của anh là… em

Tụi mình nhập lại là thêm… lãi ròng.

(Cho em mượn vốn để dành)

Thế nên cho dù có cách tân hay đổi mới ngôn từ, thì cảm xúc của Diễm Thuyên vẫn trước sau như một: cảm xúc yêu thương mê đắm và hết mình vì tình yêu.

“Tự sự đời sống” trong từng câu lục bát

Tính chất “tự sự đời sống” thể hiện khá rõ trong thơ của Diễm Thuyên. Thơ cô không quá mang nặng tính triết lý hay biểu tượng. Thay vào đó, nó giống như nhật ký bằng thơ, đầy ắp chất tự sự nhẹ nhàng, đôi khi là tâm sự nhỏ nhẹ, đôi khi là tiếng lòng bật khóc không lời, thông qua những lời ru dịu dàng. Nhiều câu thơ thể hiện sự tinh tế trong cách diễn đạt cảm xúc, sử dụng hình ảnh quen thuộc để nói về tình yêu và sự chia ly. Phong cách của cô không chỉ giữ được nét truyền thống của thể thơ lục bát mà còn mang hơi thở hiện đại, phản ánh tâm hồn và suy nghĩ của người phụ nữ trong xã hội đương đại.​ Thơ lục bát của Đoàn Thị Diễm Thuyên là một sự kết tinh giữa vẻ đẹp truyền thống mang màu sắc văn hóa dân gian Nam Bộ và cảm quan hiện đại, cá nhân hóa của người sáng tác, như những câu thơ sau:

Em mượn để cười du côn

Cù nhây một trận vô ngôn hữu hình

Trả anh vết cắn bội tình

Để cho khôn dại của mình huề nhau…

(Cho em mượn chiếc răng khôn)

Ngôn từ rất giản dị nhưng đau đáu nỗi niềm, cho thấy khả năng chắt lọc xúc cảm sắc sảo. Ngôn ngữ thơ Diễm Thuyên mộc mạc, thuần Việt, mang phong vị Nam Bộ. Diễm Thuyên chọn lối viết tự nhiên, không kiểu cách, không cầu kỳ. Đây là điều làm nên bản sắc riêng của tập thơ “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau”. Nhà thơ dùng những hình ảnh quen thuộc và không ngại đưa vào thơ những cụm từ đời sống, khẩu ngữ, thậm chí hơi... dân gian, dân dã một chút.

Ví như thương nhớ chết chìm

Xin đừng trục vớt kiếm tìm làm chi…

(Ru anh 28)

Ngôn ngữ thơ bình dân, đại chúng nhưng ẩn chứa một sức biểu đạt cảm xúc rất mãnh liệt. Trong thơ Diễm Thuyên, câu lục bát ngắn mà nặng, nhiều câu mang lại dư ba sâu lắng. Đặc biệt là cô biết “giấu nước mắt” dưới bề mặt từ ngữ, gợi nhiều hơn tả với sự nhấn nhá từ ngữ ấn tượng.

Buồn lơ lửng buồn ngẩn ngơ

Buồn trầy trật buồn vật vờ buồn tênh

Ru anh buồn rất tênh hênh

Lõa lồ cái chỗ chênh vênh rất buồn.

(Ru anh 10)

Tuy vẫn tuân theo niêm luật, nhưng Diễm Thuyên biết nhấn ở đúng chỗ để tạo điểm rơi cảm xúc, thường là ở những câu 8, hoặc dùng câu kết để lật ý, hoặc tạo sự đứt mạch cảm xúc nhẹ, khiến người đọc có biến đổi cảm xúc. Sự biến tấu linh hoạt và nhấn nhá tạo ra một giọng điệu thơ dịu dàng, tha thiết, giàu nữ tính. Thơ RU và MƯỢN của Diễm Thuyên giống như lời của một người phụ nữ Nam Bộ tâm tình thủ thỉ, đầy yêu thương nhưng không thiếu uẩn ức, phức tạp. Có lúc tha thiết như một câu ru, có lúc rưng rức như tiếng khóc, nhưng đều rất chân thành. Thơ Diễm Thuyên thường không lên gân, không “cường điệu hóa cảm xúc” như một số cây bút hiện nay, mà đặt mình giữa truyền thống và hiện đại. Dùng hình thức truyền thống, nhưng lại viết về tâm sự của con người thời hiện đại: một người phụ nữ làm nghề biên kịch, sống ở thành phố, có quá khứ quê nghèo và trái tim luôn "trôi ngược về phía yêu thương". Thơ Diễm Thuyên vì thế chênh vênh giữa lằn ranh cổ và kim, giữa quá vãng và hiện tại, giữa chân quê và thành thị. Tập thơ “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau” cho thấy một phong cách thơ lục bát của Đoàn Thị Diễm Thuyên với nội dung chứa chan tình cảm, đầy tính nữ. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, đậm chất Nam Bộ, gần với khẩu ngữ. Vần và nhịp thơ giữ đúng luật lục bát, mềm mại, có điểm rơi cảm xúc. Giọng điệu thơ tha thiết, sâu lắng, nhẹ nhàng mà ám ảnh. Đồng thời tập thơ vẫn mang một sắc thái hiện đại là viết cho đời sống hôm nay bằng “giọng nói cổ kim kết hợp” của thơ.

Tập thơ “Ru say mượn tỉnh, ru tình mượn nhau” đúng như tên gọi, là những bài thơ không gào thét, không gồng gượng, mà thầm thì, thì thầm, tạo nên một chất thơ thủ thỉ như tiếng nói của lòng mình với lòng người. Chính điều đó khiến nhiều bài thơ của Diễm Thuyên có thể đọc thành tiếng, đọc trong lòng, hoặc để lại trong trí nhớ như một bài hát không giai điệu. Bởi lẽ bất cứ ai trong số chúng ta cũng từng yêu, từng cần tình yêu, từng hạnh phúc hay đau khổ vì yêu và có thể thấy thấp thoáng bóng mình qua một vài câu thơ của Diễm Thuyên trong tập thơ này.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm