TIN TỨC

Trái tim còn đập ngoài hoang dã

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-08-15 16:56:20
mail facebook google pos stwis
2759 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Gần 20 năm, sau những tập phê bình văn học nảy lửa, nhà thơ Trần Mạnh Hảo mới có dịp tái ngộ công chúng thi ca bằng một tuyển tập dày 500 trang, do nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ấn hành.

Mức độ nổi tiếng của nhà thơ Trần Mạnh Hảo thì không cần phải bàn cãi. Ông tung tẩy ở nhiều thể loại thơ với những thành tựu không thể phủ nhận về lục bát hoặc tứ tuyệt. Riêng thể loại trường ca, nhà thơ Trần Mạnh Hảo rất được yêu mến qua “Mặt trời trong lòng đất” (1981) “Ba cặp núi đôi và một hòn núi lẻ” (1986) và “Đất nước hình tia chớp” (1994).

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo là một cá tính văn chương. Sự ngạo nghễ có chút cắc cớ “Sao cha mẹ đặt tên con là Hảo/ Đất nước mình người tốt trốn vào đâu” cũng khiến ông vướng mắc không ít hệ lụy và thị phi. Thế nhưng, vượt qua tất cả, Trần Mạnh Hảo vẫn có thể vãn hồi tình cảm của đám đông bằng chính tài thơ của mình.

Những bài thơ đầu tiên viết từ năm 17 tuổi, đã chứng minh Trần Mạnh Hảo có thiên bẩm thi sĩ: “Khi vui mười ngón chia đều/ Hai bàn tay vỗ lên nhiều bài ca/ Lạ lùng quá bàn tay ta/ Nắm vào là đất, mở ra là trời”. Suốt hơn nửa thế kỷ qua, Trần Mạnh Hảo vẫn viết không ngừng. Vì vậy, tuyển thơ Trần Mạnh Hảo chỉ 500 trang cũng đã phải đắn đo và gạn lọc rất nhiều. Bởi lẽ, chỉ cần in lại tất cả những tập thơ trước đây của ông cũng đã thành một tuyển tập ngàn trang.

Tuyển tập thơ Trần Mạnh Hảo, do hai nhà thơ Lê Minh Quốc và Trương Nam Hương xung phong chăm chút morat, hầu như không có bố cục gì. Bài thơ viết cách đây 55 năm được in lẫn với những bài thơ mới viết trong đợt ứng phó Covid-19. Tác giả cố tình sắp xếp như vậy chăng? Có thể, bởi nhà thơ Trần Mạnh Hảo thừa tự tin để biết rằng độc giả của mình thì họ thưởng thức từng bài thơ một cách ngẫu hứng mà vẫn giữ nguyên cảm xúc hâm mộ dạt dào.

Cả đời thơ Trần Mạnh Hảo gói ghém trong một tuyển tập, thì không thể đọc nhanh và đọc vội. Tuy nhiên, đọc chậm sẽ nhận ra chân dung Trần Mạnh Hảo khá rõ ràng. Thi ca có cái kỳ diệu ấy. Nếu đã là nhà thơ đích thực, dù viết đề tài gì hay phản ánh góc độ nào thì cuộc đời và cốt cách của tác giả vẫn không cách nào che giấu được.

Có thể dùng ba đoạn thơ khác nhau để hiểu quan hệ của Trần Mạnh Hảo với mẫu thân, từ lúc ông chào đời “Đêm chiến tranh mẹ sinh con trong tiếng gầm đại bác/ Sông Hồng đau đẻ quặn phù sa/ Sông Đáy bị tiếng súng trường xé rách/ Chợt lặng im trăng nõn mọc sau nhà” đến khi ông vào bộ đội “Mẹ ở lại với mái nhà giột nóc/ Ếch tháng ba kêu xót ruột người già/ Mẹ khóc, mùi hoa xoan cũng khóc/ Đêm đen từ tro bếp lạnh đen ra”, và khi ông mồ côi “Con không bằng một vạt cỏ tươi/ Cỏ làm chăn đắp ấm mộ Người/ Mẹ nuôi con, chưa từng nuôi cỏ/ Báo hiếu mẹ giờ chỉ cỏ thôi”.

Năng lực sáng tạo tiêu biểu nhất của nhà thơ là khả năng sử dụng hình ảnh. Trần Mạnh Hảo rất giàu hình ảnh và không ngần ngại tung tẩy hình ảnh trên hành trình sáng tạo, từ không gian thân thuộc “Đêm tôi học Sử trong nhà/ Nghe sóng sông Hồng như tay lật sách” đến dặm dài trải nghiệm “Hoa súng nở ngoài ao bí mật/ Tôi tập đi theo cô Tấm cô Kiều/ Tôi được vịn vào câu ca dao lấm đất/ Tổ quốc là một chỗ hẹn người yêu”.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo được xếp vào thế hệ chống Mỹ cứu nước. Ngay từ giai đoạn chiến đấu ở miền Đông Nam bộ, Trần Mạnh Hảo đã có những câu thơ bay bổng như “Ai xui tiếng chim gù/ Kéo trời lên xanh thẳm”. Thế nhưng, bom đạn tàn khốc đã khiến ông xót xa “Anh thương em, anh thương đồng đội/ Suốt một thời mưa giội nắng nung/ Đêm ngủ đất, cánh tay làm chiếc gối/ Bắt con cua đỡ đói lửa đêm rừng/ Khi ngã xuống chẳng một lời trăn trối/ Giấu tên mình vào với vạn tên chung”. Và những ký ức một thời áo lính theo ông đến tuổi già, ám ảnh: “Đồng đội ngả thành gốc cây ụ mối/ Trong đất còn mơ sống cuộc đời thường/ Tình yêu ấy bây giờ ai phản bội/ Mùi hoa rừng sao lại dối lừa ong?”.

Trần Mạnh Hảo quan niệm: “Nhà thơ là ông già nghìn tuổi/ Ở trong đứa trẻ mới ra đời/ Trí khôn mà giống niềm thơ dại/ Như mắt tinh đời hóa khóe môi” nên ông cũng viết khá nhiều thơ chia sẻ thao thức với các bậc thi nhân tiền bối. Ông đau đáu cùng Bạch Cư Dị “Lá vàng thay trăng đổ/ Trường Giang thành rượu khướt con đò” và ông đắm đuối cùng Nguyễn Du thương nàng Kiều “Ta nhờ vãi Giác Duyên ngồi gác/ Đón em về từ cuối màn sương”.

Rất khéo léo trong tư duy hình ảnh, thơ Trần Mạnh Hảo vượt trội nhiều người nhờ sức khái quát. Ví dụ, ông viết về những dòng sông Nam bộ phóng túng “Những dòng sông như những người chạy bộ/ Cứ đuổi theo bóng dáng chân trời/ Sông khỏe quá chạy hoài thành châu thổ/ Chạy qua rồi sông để lại lúa khoai” hoặc viết về con sông ở Bắc Trung bộ “Sông Lam ăn cát mà xanh, uống trời mà mát/ Trăng chảy hết lòng sâu quyết liệt cả cơ hàn/ Người giàu có nên đất nghèo khô khát/ Kìa gió Lào thổi cong sông Lam”.

Thậm chí, khi đi nước ngoài, Trần Mạnh Hảo cũng có sự phô diễn kiểu riêng ông. Một lần nhìn Trung Hoa qua cửa sổ máy bay thì ông phát hiện “Kìa sông Hoài dưới mười nghìn mét lừ đừ vệt máu bầm quá khứ/ Tam giáo vỡ đê trời chìm nghỉm những pho kinh/ Giáo gươm Đường Tống tang thương trổ bừng bừng thi tứ/ Sông máu núi xương Trung Hoa nhấp nhô chằng chịt chữ tượng hình”, hoặc một lần tình cờ phát hiện con kiến trong ba lô mình mang từ Việt Nam sang xứ sở bạch dương đã biến mất thì ông cồn cào “Nước Nga rộng, chắc là kiến đi lạc/ Tôi ngồi lo rụng hết lá ngô đồng/ Tổ quốc có bao giờ người hóa thân thành kiến/ Lặng lẽ bò qua sự vĩ đại của mình/ Như những đứa con vượt Trường Sơn ra thế giới/ Không còn thích đóng vai người hùng cứu chuộc hành tinh”.

Cách nói uyển chuyển và hào hoa cũng là ưu điểm của Trần Mạnh Hảo ở mảng thơ tình. Bên cạnh những bài thơ viết cho vợ mình – Tôn Nữ Giáng Tiên với tinh thần tôn thờ như “Một bàn tay chìa ra ánh trăng/ Một gương mặt ngủ rồi tôi mới gặp/ Một bờ môi chưa có thật trên đời/ Một da thịt không phải là da thịt/ Một mùi hương ở chỗ có em ngồi” thì Trần Mạnh Hảo cũng rất đắm đuối trong các bài thơ viết cho bóng hồng hư ảo nào đó.

Thiếu nữ lãng mạn không thể không xao xuyến trước những câu thơ của Trần Mạnh Hảo, lúc mông lung “Cỏ xanh hết một gầm trời đắm đuối/ Dáng em gầy thon lại cả mùa xưa/ Mưa bụi yêu trời đất cũng không vừa/ Em dắt cỏ tìm tôi chưa kịp gió”, lúc ỡm ờ “Em là trái sầu riêng đánh đu cùng mùa hạ/ Trái em rơi lúc chẳng ai ngờ/ Lúc mặt đất và anh đi ngủ cả/ Đêm trong làng hòn sỏi cũng nằm mơ” và cả lúc xa vắng “Dòng đời con nước vèo qua/ Trái tim mắc cạn trong tà áo bay/ Cỏn con một sợi lông mày/ Mà đem cột trái đất này vào anh”.

Những năm 30 tuổi, Trần Mạnh Hảo thổ lộ “Trưa lặng tiếng gà như kẹo kéo/ Cuốn anh chặt lại với dòng kinh/ Đến quá nửa đời anh mới hiểu/ Những cái vu vơ cột chặt mình”. Và thực sự, ông không thể nào tránh được những cái vu vơ của nhân gian bủa vây tâm hồn thi sĩ, để thường xuyên rung động “Nửa đêm đi ngược về xưa/ Thoảng mùi hương lạ em vừa quá giang” để thường xuyên đau đáu “Xin quá khứ đừng bắt anh nhốt lại/ Trong giấc mơ anh thèm được làm người/ Thèm được khóc được cười như trẻ dại/ Ai đã làm thời đại hóa đười ươi?”.

Trần Mạnh Hảo bây giờ đã 73 tuổi “Ngẩng đầu trời vẫn mênh mông/ Cúi xuống chợt thấy anh không còn gì/ Anh còn con đường chưa đi/ Anh còn vạt cỏ sắp ghì ôm anh”. Ông đã từng ru con “Mai này con lớn nên người/ Hoa hèn cỏ nội ai lời bướm ong/ Ngủ như bông súng ngoài đồng/ Xé bùn lên vẫn sợ lòng bùn đau” và ông đã từng cõng cháu “Mai này ông khuất trăng sao/ Gửi lưng cho giấc chiêm bao cõng dùm”. Thế nhưng, sự rạo rực của ông vẫn nguyên vẹn trước thi ca “Trái tim còn đập ngoài hoang dã/ Rét mướt xin thề cưới gió đông”.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo sớm tạo được giọng điệu trong làng thơ. Ông luôn chinh phục công chúng bằng ngọn lửa rừng rực cháy bỏng. Ngay cả cách ông đại ngôn hay cách ông điệu đà, cũng có ấn tượng không nhầm lẫn với ai. Tuyển thơ Trần Mạnh Hảo là một cơ hội để độc giả được đọc lại và được hiểu thêm một gương mặt thi ca hàng đầu văn học Việt Nam đương đại “Trót hò hẹn với mênh mông/ Một đời ngóng vọng mây lồng xanh cao”.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm