TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Trúc Linh lan, nhà thơ của những thân phận đàn bà đa truân miền sông nước

Trúc Linh lan, nhà thơ của những thân phận đàn bà đa truân miền sông nước

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-09-23 20:45:21
mail facebook google pos stwis
497 lượt xem

BẢO BÌNH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Thơ ca - một thế giới thi ảnh đầy ma lực - bên cạnh sự truyền cảm sâu xa, thơ chính là sợi dây thần vô hình đầy linh động, kéo con người đứng lên từ bờ vực của vô vọng, khổ đau. Cái lạ kỳ của kẻ ăn thơ uống chữ là dù ở những khúc quanh nào của cuộc đời, họ cũng có thể tìm được một hướng đi. Dù trời có đổ lửa thì họ vẫn từ tốn tìm được cho mình một bóng râm. Và nhà thơ, không cần khua chiên gõ trống, họ lặng lẽ xới đất trồng hoa cho khu vườn nghệ thuật đầy giá trị nhân sinh của mình.

Nhà thơ Trúc Linh Lan

Là vậy đó, khi ta sâu nặng với thế giới thi ca mới thấy hết cái hàm sâu ẩn chứa huyền diệu mà nó mang lại. Cái cẩn mật, biến hoá của ngôn từ thật là diễm tuyệt lắm thay! Và, Trúc Linh Lan - nhà thơ của đồng bằng - luôn trăn trở về muôn trùng nhân thế, buồn thương cho số phận đa đoan người đàn bà cùng những thăng trầm, đổi thay cuộc sống.

 “Một đời mẹ vất vả

Đi qua bao mùa đông

Đi qua nhiều cơn gió

Đi qua nhiều dòng sông

(Một ngày xin đừng đến)

Với đời, có lẽ thứ khiến chị đau đáu, suy tư vẫn là thân phận người đàn bà, kẻ hồng nhan giữa những đoạn trường của cuộc bể dâu. Vì lẽ đó, tiếng thơ chị khi trầm lắng, nỉ non; lúc bi ai, bất lực… đầy thương cảm. “Kiếp hường nhan lắm lao đao/ Luồn kim se chỉ nghẹn ngào tâm tư/ À ơi! ngọn gió “mùa thu…”/ Năm canh mẹ thức để ru đời mình” (Tiếng ru buồn), Chị đúng là nhà thơ của những thân phận đàn bà đa truân miền sông nước.

Khi đứng trước một tấm ảnh ở bảo tàng, cảm xúc trong chị rung lên, tràn dâng một sự đắng chát, nghèn nghẹn “Đập vào mắt tôi là một bàn chân/bàn chân lam lũ,nứt nẻ, sần sùi/ bàn chân của mẹ/đi suốt chiều dài chiến tranh”(ấn tượng từ một tấm ảnh ở bảo tàng Bến Tre). Nếu là bạn, bạn sẽ thế nào trong hoàn cảnh ấy? khi ngắm một bức ảnh? Thực ra, với nhà thơ, lúc đó không phải là một bức ảnh nữa, mà là cả một cuộc đời. Cuộc đời của một người đàn bà, và những người đàn bà bi đát, bất hạnh, khốn cùng bởi tội ác chiến tranh. Tất cả đang hiện ra, trải dài ra trước mắt chị. Điều đó khiến nhà thơ phẫn uất, đau xót và thương cảm.   

“Bàn tay mẹ gầy như nhánh lá kia

 Mùa đi qua mẹ nhớ thương bạc tóc

Hát bài ca của lá

Những đứa con đi mãi không về…”

(Lời hát của bà mẹ Kam-Pu-Chia)

Thơ không phải là thứ để dạy đời, để đánh tráo… nếu “cố rặn” thì thứ “rặn ra” chỉ là thứ giống với thơ thôi, tôi nghĩ vậy. Nên hơn hết, tôi chỉ có thể cảm được những gì được rung rẩy, thành khẩn từ tim từ óc của người thơ. Và ở đây, chính trong thơ Trúc Linh Lan, tôi đã nhìn thấy điều đó, cảm được điều đó, một trái tim thấm đẫm tình yêu thương dành cho kiếp người truân chuyên, lận đận. “Mẹ tần tảo, mẹ gian truân/ Một đời mưa nắng lưng chừng sắc hương/ Cánh cò chịu khó chịu thương/ Hai vai nặng gánh nhân thường đục-trong (Tiếng ru buồn). Chị cũng không quên dành cho phận hồng nhan bạc mệnh những ngậm ngùi “Tôi chạm vào em, giọt lệ hoàng phi/ Đêm sáng lửa đưa người về với Phật/ Ai rơi lệ xuống thuyền xuôi cố quốc! Gửi lại một thiên thần mang mệnh đế vương? (Chiều Mỹ Sơn). Với đàn bà khổ hạnh, kém phần may mắn, chị dành cho họ niềm cảm thương sâu sắc “Mẹ chồng hy sinh bỏ chị lại giữa đời/ con gởi cô bác, chị lao vào công tác/ đất nước và con-hai vai gánh vác/ lúc một mình chị cắn nát nỗi cô đơn” (Chị). Từ ngữ nhà thơ chọn dùng không quá trau chuốt, chẳng cần bóng bẩy; nhưng tinh tường, sắc sảo. Giọng thơ như lời ru, nhẹ nhàng mà chạm vào ta, thấm thía đến rát đau.

Chưa lần nhận miếng trầu say
Pháo hồng áo cưới – rủi may sang đò
Tình nồng còn ủ lớp tro
Bếp chưa bén lửa… đâu ngờ mưa rơi!

(Năm canh mẹ thức để ru đời mình)

Lứa đôi với những chuyện tình, những ngọt ngào, mất mát; những sum vầy, ly tan… luôn là nỗi niềm rách xước ở mỗi trái tim đi trong cuộc đời này. “Chưa lần nhận miếng trầu say” bước chân theo chồng khi trái tim chưa biết yêu là gì? Và rồi “Bếp chưa bén lửa” cái tình chưa kịp nồng sau buổi vu quy, thì trời nỡ “mưa rơi”. Thế là tắt lửa, đành một cuộc bi ai cho lần “sang đò” may rủi. “Đôi ta mới gặp đã lìa/ Trách ai bẻ khoá quăng chìa xa nhau” (Ca dao) xót xa nào bằng? Một tuổi xuân phơi phới, một khát vọng đầy tràn… phút chốc tan biến cõi không. Và làm sao mà không chơi vơi, hụt hẫng; không mơ ước, khát khao?“Biển xô dạt đời em/ Theo từng cơn sóng dữ/ Một chuỗi đời mệt mỏi/ Bồng bềnh trong cô đơn!/ Một vòng tay - một nụ hôn/ Em từng đêm khao khát/ Ước chi anh là con sông hát/ Đổ vào đời em yêu thương (Ước gì).

Bất chợt, tôi nhớ về những câu thơ của nhà thơ Phú Sĩ “Tôi muốn viết cho em/ Về câu chuyện nợ duyên không chỉ sắc màu hồng/ Đổ vỡ những niềm tin nào trách người bỏ lại/ Muộn phiền vẫn vây quanh đắng cay em nếm trải/ Vẫn như viên ngọc mài… rồi sẽ lại sáng trong”(Người đàn bà vẫn thế đợi yêu thương). Rõ là, đường nợ duyên của phận hường nhan mấy ai là bằng phẳng? nếu không phải “trâm gãy bình tan”,“Tro tàn bếp lạnh”, thì cũng là “quất ngựa truy phong”.

 Người đàn bà đã cũ

Trong trái tim người đàn ông bội bạc

Lâm râm thời gian trên màu tóc

Đa đoan cuộc đời trên mắt xưa

(Những ký âm tháng chín)

Tự hỏi, cuộc đời này, có bao “đàn bà” được “bạch đầu giai lão” trong hạnh phúc lứa đôi? Mỗi một thời đại, mỗi sự đổi thay, tốt dần lên hơn. Tuy vậy, đàn bà vẫn là thân phận mang nhiều nỗi thua thiệt, trái ngang, đau khổ. “Thời gian chừng như vô nghĩa/ Mẹ bạc đầu thức trắng những đêm thâu/ Cô gái nhà bên dù chẳng làm dâu/ Ngày giỗ anh vẫn sang nhà thắp hương lặng lẽ” (Nỗi nhớ của mẹ), nhà thơ ẩn dụ trong sự đồng dạng, miêu tả gợi cảm với đầy đủ màu sắc, âm thanh từ: “mái đầu bạc”, “tiếng bước chân cô gái nhà bên” đến “tiếng thắp hương”… rồi phủ kín không gian, phủ kín bóng người, từ đàn bà già đến đàn bà trẻ, một nỗi xót đau, tróng lạnh.

Có những buổi chiều

Ta buồn

Khi nhìn bóng mẹ ngã theo hoàng hôn

Tóc mù sương

Còng lưng gánh nỗi buồn ký ức

(Chiều)

Đôi lúc, người đọc sẽ bắt gặp chị làm thơ kiểu như đang tâm tình, nó nhẹ nhàng, bình dị nhưng lại chạm vào ta bởi sự chân thiệt sâu sắc nơi lòng “Chuyện cổ tích ngày xưa! Ai khóa kín khu vườn?/ Bầy con lớn lên đứa còn, đứa mất…/ Ba đã trăm năm chuyến đi xa khuất/ Thương má một mình thắp bóng trăng xưa” (Thương má một mình thắp bóng trăng xưa). Những người mẹ, người vợ, những người đàn bà vùng sông nước đồng bằng, yêu chồng thương con. Chẳng màng vất vả. Chẳng màng thanh xuân, “Xanh ngắt màu lá tôi giấu trong chồng thư cũ/ Vô tình gió mở/ Giật mình!/ Xanh đã tàn phai”(Sắc thu phai). Cả một đời, khi bình yên, họ sống vì gia đình; khi ngoại bang xâm lấn, họ sống cho nước nhà. Trái tim họ luôn tím ngát thuỷ chung như giàn hoa cát đằng nở rộ “Giặc càn về máu đỏ nhuộm sông/ Mẹ hy sinh đêm đánh tàu biệt kích/ Trong vòng tay cô bác/ Đưa mẹ về bên giàn cát đằng nở tím thuỷ chung” (Câu chuyện bên dòng Xà No).

Nhà thơ Trần Hữu Dũng như tặng đời nỗi cô đơn, khắc khoải “Ta về mỏi cánh chuồn chuồn/ vô tình chạm phải mùi hương năm nào (Truông gió), thì Trúc Linh Lan cảm thán trong bóng đêm mờ mịt, thiếu hơi người thương “Đêm mất điện tôi ngồi trong bóng tối/ Đen như giọt cà phê đắng buổi chiều buồn/ Thắp ngọn nến nhớ tay người bật lửa/ Một thuở nào… gợi chút bâng khuâng” (Thắp lửa), có phải nhà thơ đang bật lửa? Để sáng lên cái tăm tối của bóng đêm? để ấm lên cõi lòng giá buốt? Ta như nghe được cái lạnh lẽo từ sự tróng vắng của căn nhà đến nỗi tróng lạnh ở trong tâm người đàn bà sớm goá bụa. Một nỗi buồn nhớ, cam đành đến xót xa, quặn thắt “Bây giờ giấu mình trong căn gác tối om/ Cầm trên tay cây nến còn một nửa/ Tự bật quẹt thắp cho mình ngọn lửa/ Sao nghe lòng lạnh lẽo cô đơn?” (Thắp lửa).

Giọng thơ của chị là giọng nói bên trong của không ít số phận người đàn bà. Trước những suy tư, thấu cảm trong tiếng thơ của chị, đôi lúc tôi thấy ám ảnh, bởi nó thật quá, và cũng đau đớn, xót xa quá: “Đi qua ngày/ Khu vườn lạnh tanh hâm hao cơn khát nước/ Mặt trời cười trôi ngược/ Tôi tự nhận ra mình đang đứng ở cuối đông. (Vô thường). Sẽ có không ít người đàn bà bắt gặp bóng hình mình nơi thơ chị. Ngậm ngùi, chua chát.

Trực giác của chị là phần hoà hợp đến thăng hoa của ý thức và tiềm thức, của lý trí và bản năng, của kinh nghiệm sống và nỗi niềm trắc ẩn… và vì lẽ đó, thơ chị bên cạnh vẻ đẹp của ngôn từ, là sự tuôn đầy những khắc khoải, yêu thương, trầm mặc “Chiếc lá xanh em giữ lại cho mình/Vàng mùa thu đi rất khẽ” (Sắc thu phai). Bên cạnh những mới lạ, độc đáo, tinh tế của diễn ngôn, là sự khai thác mọi góc cạnh của đời sống con người, đăc biệt là phận đàn bà, phận hường nhan truân chuyên. Từ cõi thực đến cõi tâm linh, chị đều dành cho họ tình yêu thương, sự trân quý cùng nỗi niềm hoài vọng, tiếc thương.    

Ta chạm vào em. Nỗi buồn nghìn năm trước

Trên từng bức tượng nun dấu tích mấy vương triều

Sự huyền dịu lung linh những bàn tay múa

Từ nụ cười ẩn dấu nét bi thương

(Chiều Mỹ Sơn)

Với đời thường, cùng những gập gềnh, cheo leo, đỉnh dốc… nhà thơ vẫn cố gắng tìm lấy niềm vui sống. Là chị động viên chính mình? Hay động viên những bóng liễu, những tóc dài phận hẩm cõi trần gian này?

Tôi luôn mang theo nụ cười
Mặc dù cuộc đời chẳng mấy niềm vui
Tôi mặc cả hồn nhiên
Cho trái tim ngậm ngùi.
Tôi thấy hình như mình đang leo dốc,
Đỉnh núi mờ xa

(Tôi lừa dối tôi)

Chị không bị khuất phục, dù “Đỉnh núi mờ xa”, và chị mong muốn mọi đàn bà quanh chị cũng đừng khuất phục. Dẫu đôi lúc đó là sự lừa dối chính mình, chị vẫn muốn có sức mạnh để vượt qua tất cả. Và những ai yêu thơ Trúc Linh Lan, bên cạnh nỗi buồn man mác, họ sẽ biết cách tự vỗ về, tự an ủi… để sống vững vàng hơn, để sống kiêu hãnh hơn, “Ta tận dụng hết các sắc màu/ Vẽ cho mọi người biếc xanh hi vọng/ Một đóa hồng không phai cho xuân thiếu nữ/ Một chàng trai tựa cửa/ Ôm cây đàn dạo liên khúc tình si”. Họ vẫn không ngừng mơ ước, không ngừng khát vọng, không ngừng tìm kiếm. “Tặng ai đó ước mơ!/ Tặng ai đó nụ cười!/ Tặng ai đó trái tim đỏ thắm!/ Ta yêu người/ Ta yêu ta! (Quà tặng của gió). Đàn bà giữa cuộc đời này thường được ví như là “Liễu”, lả lướt, yếu mềm. Tôi thì lại thấy, đàn bà chẳng khác tuyết tùng, một loại cây thân dẻo. Dẫu bão giông và tuyết có dập dùi, dẫu bao cây cao to quanh nó đều ngã đổ, chết khô. Tuyết tùng vẫn sừng sững, xanh tươi, “Ta đứng trên đỉnh vô ưu/ Để không thấy phận người đầy định mệnh/ Không còn ai chông chênh đơn lẻ/ Không còn ai lỡ những chuyến tàu” (Yêu phận của người). Nói đến sự dẻo dai, cang trường của kiếp má hồng, tôi chợt nhớ về những lời thơ đầy gai góc, đa mang mà cũng đầy kiêu hãnh của nhà văn Trầm Hương “Người đàn bà làm thơ/ Như bao bà mẹ tảo tần/ Lội trên cánh đồng chữ nghĩa/ Một tay bịt trái tim đau/ Tay kia lau nước mắt/ Tay bồng con tay viết sách/ Mà trải lòng. Mà phẫn nộ, đớn đau”. (Người đàn bà làm thơ).

Đó chính là sợi dây thần vô hình của thơ. Sức mạnh của nó là vô biên. Và nhà thơ, họ luôn ở đó, như những con ong quý không ngừng góp những giọt mật quý cho cuộc đời này. Ta không khỏi trân quý họ, những tài thơ cần mẫn, miệt mài.

“Người đàn bà buồn làm thơ

Những con chữ mang tiếng nhạn kêu sương trong khuya khắc khoải”

(Người đàn bà buồn)

Và, cũng thật đúng với quan niệm của chính chị “Thơ Là cứu cánh tâm hồn, cứu cánh nỗi đau, nỗi cô đơn tuyệt vọng, cứu cánh những khát vọng, những cái đẹp không vươn tới được, những nỗi buồn không tên…”. Thật vậy, khi hố lòng trống hoác, thơ chính là sự lấp đầy. Khi cõi lòng bi ai, thơ chính là ánh chiếu rọi. Thơ là vậy, huyền diệu và tinh tường. Nên, thơ phải là thứ được “rút ruột”, có vậy, thơ mới có thể chạm sâu và vĩnh hằng “Người đời sau/ Người nghìn sau/ Trăm năm còn thao thức/ Linh thiêng rụng một nốt trầm” (Linh thiêng rụng một nốt trầm).

Nhà thơ Xuân Diệu đã từng nói “Thơ là một sản phẩm của tâm hồn, trí tuệ con người mà tâm hồn và trí tuệ đó có một tác động trở lại vào thực tại... Thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống, nhưng phải đi qua một tâm hồn, một trí tuệ và khi đã đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ ấy phải in dấu vào đó thật sâu sắc, càng cá thể, càng độc đáo, càng hay, thơ là tiếng gọi đàn, là sự đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu của những con người”. Trong trường hợp này, quan niệm đó thật phù hợp với tiếng thơ, tiếng lòng của nhà thơ Trúc Linh Lan biết bao.

Tôi cầm nụ cười trên tay
Tặng những ai buồn bã
Mà sao ai đó không vui?
Niềm vui xin đừng ngã giá!

Bóng hạnh phúc vô thường.

 (Tôi lừa dối tôi)

 Augustinô, một triết gia phương tây, đã nói “Hãy yêu thiệt nhiều đi, rồi bạn sẽ biết mình nên viết cái gì?”. Quả thực, với giọng thơ đầy sự thổn thức, khắc khoải như tiếng vọng của “nhạn kêu sương”, người đọc dễ nhận thấy ở nhà thơ một tình yêu sâu nặng dành cho cuộc đời, dành cho những kiếp nhân sinh bạc phần, bạc phận. Chị thực sự là nhà thơ của cõi lòng đàn bà giữa cuộc hồng trần, giữa cuộc bể dâu. Nỗi khát khao hạnh phúc, niềm tiếc thương hoài vọng, những trăn trở, ngậm ngùi… tất cả, tràn trong thơ chị bằng thi pháp trữ tình, kiểu diễn ngôn mượt mà và những liên tưởng độc đáo; bằng sự rung cảm, thành khẩn và bằng cả trí huệ.

Cần thơ, 2024

B.B

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm