- Lý luận - Phê bình
- Trương Nam Hương - câu thơ trong trẻo nỗi buồn
Trương Nam Hương - câu thơ trong trẻo nỗi buồn
Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng:
2021-08-25 08:07:37
4034 lượt xem
ANH THƯ
Trương Nam Hương sinh năm 1963, tuổi Quý Mão, nhằm mệnh Kim, là một trong những gương mặt thơ hiện đại được bạn đọc yêu mến. Những tập thơ tiêu biểu của anh như: “Khúc hát người xa xứ” (NXB Trẻ - 1995), “Cỏ, tuổi hai mươi’ (NXB Văn nghệ - 1992), “Ban mai xanh” (NXB Đồng Nai, 1994), “Ngoảnh lại tháng năm” (NXB Văn học - 1995), “Viết tặng những mùa xưa” (NXB Thanh Niên -1999) “Ra ngoài ngàn năm” (NXB Văn Học - 2008). Ở thời điểm kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam, anh là hội viên trẻ tuổi nhất sở hữu giải thưởng thơ danh giá...1. Nhiều lần tôi có ý định viết về anh, nhưng một phần vì chưa đọc anh đầy đủ, phần nữa là anh em quen biết đã lâu, để viết về nhau không dễ. Đôi khi, sự lạ lẫm, những ấn tượng ban đầu lại làm nên sức hấp dẫn cho câu chữ hơn là những điều đã thấu tỏ.
Trương Nam Hương gốc Huế, cha tập kết ra Bắc, mẹ là con gái Bắc Ninh. Anh sinh ra, lớn lên ở Hà Nội. Mười hai tuổi theo gia đình vào Sài Gòn. Mẹ mất sớm. Ám ảnh mồ côi, ám ảnh tha hương cứ đi suốt theo anh, đặc biệt mạnh mẽ và da diết trong những năm tháng tuổi đôi mươi. Trải nghiệm ấy giúp anh có được nhiều bài thơ, nhiều câu thơ hay:
“Trong cha có một câu hò / Trong câu hò có con đò sông Hương / Trong sông Hương có nỗi buồn / Trong thăm thẳm có vô thường thi ca...”
Tôi chưa có dịp nào hỏi anh, rằng vì sao cha mẹ anh lại đặt tên anh như vậy. Nam Hương có phải là phía nam sông Hương, như sự gợi nhắc về nơi chôn nhau cắt rốn? Trong giới cầm bút, Trương Nam Hương không trùng bút danh với ai, cho đến tận bây giờ. Từ họ, đệm, và tên đều là vần bằng - nhẹ nhõm, tĩnh tại, ngát xanh như dòng Hương mở ra bao la nhớ. Tên vận vào người. Tên vận vào thơ. Vậy nên thơ anh gợi nhiều ám ảnh, u hoài nhưng vô cùng trong sáng. Những nỗi nhớ kết tinh, lắng lọc, day dứt. Điều ấy có thể nhận ra ngay từ nhan đề: “Khúc hát người xa xứ”, “Ngoảnh lại tháng năm”, “Viết tặng những mùa xưa”.
Sẽ có ý kiến phải biện lại rằng: Bản chất thơ ca là hướng nội. Văn chương viết về cái đã qua thường sâu sắc thấm thía hơn là viết về những điều đang và sẽ xảy ra. Trương Nam Hương đâu có gì khác biệt. Đúng vậy. Anh không ở ngoài dòng chung đó. Nhưng những day dứt trong anh dường như sâu nặng hơn, là một phần cấu thành nên hơi thở, tâm hồn và cả con người sinh học của anh. Trương Nam Hương trung thành với những yêu mến của mình, có thể giúp đỡ ai đó một cách vô tư, và bao năm cứ thủy chung giữ cách ứng xử như vậy, chẳng để ý đến vật đổi sao dời. Hai mươi tám tuổi giành giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam với tập thơ đầu tay - một giải thưởng danh giá của nền văn học nước nhà những năm tháng ấy. Cũng ở thời điểm kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam, anh là hội viên trẻ tuổi nhất nhưng đã định hình một giọng thơ riêng, da diết, tài hoa, dễ chạm vào các tầng bậc cảm xúc. Tới nay, những giải thưởng anh nhận được không ít, đặc biệt là những danh hiệu như: “Nhà thơ được yêu thích nhất” do báo Người lao động bình chọn năm 1992, “Gương mặt văn học 20 năm thành phố Hồ Chí Minh 1975 - 1995”, “Gương mặt văn học 30 năm thành phố Hồ Chí Minh 1975 - 2005”, chứng tỏ thơ anh không chỉ thuyết phục bạn viết mà còn đến được với người yêu thơ rộng rãi.
.
.
2. Ở tuổi trung niên, thơ Trương Nam Hương không còn cái cồn cào thao thiết nhưng đằm mặn hơn - vị đằm mặn của người đã đi qua mất mát, đổ vỡ, đã chứng thực, trải nghiệm và thấm thía. Anh trân trọng hơn thời gian hiện hữu. Sự hóm hỉnh không bị mất đi, mà được đặt đúng lúc đúng chỗ. Anh vẫn thích ngồi cà phê cùng anh em bạn bè, nhưng phải là bạn bè thân quý nhau. Anh vẫn thích đọc thơ mình, những câu thơ chợt đến, những câu thơ đã viết từ thủa nào cũng ùa về hợp tình hợp cảnh.“Mời em vào quán Thời gian / nâng ly ký ức uống làn hương xưa / Mời em vào quán Không mùa / ta chia nhau ngọn gió mùa rét căm / Mời em vào quán Không năm / để nghe nhớ khóc ướt đầm ngón tay / Mời em vào quán Không ngày / để xem trời thả heo may - Để buồn.../ Đắng lòng môi chạm yêu thương / Thời gian quên bỏ chút đường đấy em!” (Quán Thời gian).
Có vẻ như, nhịp sống này, với những đổi thay chóng mặt không phù hợp tạng người như anh. Gắn bó với Sài Gòn từ thuở thiếu niên, thành công và thanh danh cũng ở đây, yêu vẻ đẹp hiện đại của Sài Gòn nhưng hồn thơ anh thuộc về xứ Huế, thuộc về Kinh Bắc và đặc biệt là thuộc về Hà Nội. Dù không sống ở quê cha, anh vẫn nhận ra giọng chàng trai xứ Huế chỉ qua câu nói đầu tiên. Thương miền quan họ, bởi mối dây ràng buộc thiêng liêng từ mẹ. Và Hà Nội - Hà Nội có cả mẹ cả cha, cả một bầu trời tuổi nhỏ. Trong thơ và trong đời, Trương Nam Hương thường thực hiện nhiều chuyến trở về Hà Nội, nơi ắp đầy mùi hương, âm thanh và dáng vẻ vốn đã nằm sâu trong tâm trí đứa trẻ lên mười: Làn gió heo may, hương hoa sữa, quả bàng chín, trái sấu rơi, tiếng tàu điện leng keng... Những hình ảnh bình dị đời thường đi vào thơ anh mang vẻ đẹp riêng, trong trẻo, bởi anh đã viết bằng trực giác, bằng cái tình nồng nã cùng nỗi nhớ ngậm ngùi, trong nỗi nhớ có không ít nỗi thương mình, thương và nhớ mẹ. Anh thích cái mênh mang sâu thẳm của Hồ Tây nhưng cảm thấy ấm áp hơn với không gian Hồ Gươm xinh nhỏ. Nhìn làn sóng nước Hồ Gươm là nhớ đến làn tóc mẹ. Bên mênh mang sông Hồng lại chạnh lòng thân phận mồ côi:
“Con xa mẹ xa quê biền biệt thế / Hỡi hoa xoan ký ức tuổi lên mười / Chỉ sông Hồng thương mẹ hát đơn côi / Phù sa đỏ như miếng trầu mẹ quệt / Ăn hạt gạo mãi giờ con mới biết / Có sông và đời mẹ ở bên trong” (Với sông Hồng)
3. Trương Nam Hương viết là “xa mẹ” chứ không bao giờ viết là “mất mẹ”. Mẹ vẫn ở trong anh, sâu thẳm, thiêng liêng, truyền cho anh động lực sống và yêu thương cuộc đời. Anh có nhiều bạn bè ở các vùng miền đất nước, trọng nhau vì tài, quý mến nhau vì tính, nhưng tôi dám chắc anh ít người tri kỷ. Ngay cả người bạn thân nhất, có lẽ giữa anh và bạn vẫn chút ít khoảng cách, cái khoảng cách tự nhiên không có lỗi. Bá Nha Tử Kỳ, Nguyễn Khuyến Dương Khuê xưa nay có mấy người. Nếu không tìm được tri âm cũng không phải quá bận lòng. Hạnh phúc vốn được ví như chiếc chăn hẹp, làm sao có thể trọn vẹn cho tất cả. Anh lại còn có thơ. Thơ đem đến cho anh bạn đọc, bạn bè, ít nhiều thành công nổi tiếng. Thơ cũng chưa từng bỏ anh lúc hoạn nạn khó khăn. Bù lại, anh chọn một lối sống giản dị, kín đáo, để không lợi dụng, không làm đau, không phụ bạc chữ nghĩa. Dù đôi khi có thoáng qua chua chát “cũ mèm vần điệu khi gieo”, “đời thơ bèo bọt dăm câu bọt bèo”, thì đấy cũng là tự trách mình, chứ chẳng thể trách thơ. Bằng chứng là khi có tập thơ mới, anh mua riêng một cây bút để nắn nót viết lời đề tặng rồi gửi đi, đầy trân trọng đối với bạn bè gần xa.
Trương Nam Hương mang nhiều nỗi buồn. Nỗi buồn có lý do và cả những nỗi buồn không có lý do, thuộc về bản chất, tạng người, như thể vu vơ không dễ gì nắm bắt, dễ trở thành lạc lõng giữa đám đông. Lần gặp gần đây nhất, anh khoe đã bỏ thuốc lá thành công. Nước da có phần sạm hơn do tuổi tác, nhưng nụ cười thêm tươi tắn an nhiên. Anh như vội vàng hơn, muốn nâng niu, muốn níu giữ, muốn đầm mình sâu hơn vào cái lạnh mùa đông Hà Nội. Nhớ Bắc, anh vẫn giữ giọng Bắc, thích ăn cơm Bắc, và vẫn uống cà phê theo phong cách Hà Nội ở giữa Sài Gòn. Song bây giờ nếu trở về sống ở Hà Nội thì chắc chắn anh không lựa chọn. Bởi Hà Nội trong anh đã thuộc về tâm thức. Hãy cứ để miền ký ức ấy sáng mãi trong lồng ngực, thi thoảng được đập rộn lên hay se thắt. Hà Nội hôm nay đã khác. Nếu chạm vào, sợ rằng miền ký ức ấy sẽ tan vỡ, những ảnh hình không còn tồn tại, và anh dễ gì làm lại được từ những trống vắng? Yêu thương không phải là chiếm hữu. Chính là xa Huế, xa Kinh Bắc, xa Hà Nội, chính là những khắc khoải về thân phận tha hương, cái đa tình đa đoan, nét cứng cỏi đứng ngoài vòng danh lợi, Trương Nam Hương mới có được những vần thơ làm day dứt lòng người:
“Tạ ơn Hà Nội trọn đời / Nuôi tôi thương khó. Tôi thời trong veo...” (Hà Nội một thời).
A.T.
Bài viết liên quan
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm