TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Văn học các dân tộc thiểu số sau ngày đất nước thống nhất và hướng đi mới trong kỉ nguyên số

Văn học các dân tộc thiểu số sau ngày đất nước thống nhất và hướng đi mới trong kỉ nguyên số

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-08 23:30:05
mail facebook google pos stwis
1566 lượt xem

Văn học hiện đại các dân tộc thiểu số sau gần một thế kỉ hình thành và phát triển, đến nay đã có gần 1500 hội viên ở các loại hình nghệ thuật. Các thế hệ nhà văn dân tộc thiểu số đã đạt được những thành tựu và ghi dấu ấn độc đáo trong nền văn học nước nhà.

Hình ảnh trên bìa sách Lặng yên dưới vực sâu (tác giả Đỗ Bích Thúy, Nhã Nam và NXB Hội Nhà văn)

 

Họ được ghi nhận bằng những giải thưởng danh giá, uy tín như Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, Giải thưởng ASEAN, Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, Giải thưởng của Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam…

Xét riêng về từng thể loại, văn học dân tộc thiểu số có những bước phát triển không đồng đều tùy từng giai đoạn. Hiện nay, thơ vẫn là thể loại chiếm nhiều ưu thế. Thơ dân tộc thiểu số với lực lượng đông đảo từ Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Cầm Biêu, Hoàng Nó, Lương Quy Nhân, Bàn Tài Đoàn lớp trước đến những nhà thơ thế hệ sau này và thời kì đương đại như: Mã Thế Vinh, Vương Anh, Triều Ân, Y Phương, Mã A Lềnh, Lò Ngân Sủn, Lâm Quý, Triệu Kim Văn, Ma Trường Nguyên, Mai Liễu, Pờ Sảo Mìn, Lò Cao Nhum, Dương Thuấn... Các tác giả viết trường ca có thể kể đến Vương Trung (Thái) với Sóng Nậm Rốm, rồi Vương Anh (Mường) với Hồn chiêng gánh núi, Inrasara (Chăm) có Tháp nắng (thơ và trường ca Quê hương) đến 2002 thêm Lễ tẩy trần tháng Tư... Dân tộc Tày thành công với những tên tuổi nổi bật: Ma Trường Nguyên (Mát xanh rừng cọ), Y Phương (Chín tháng, Đò trăng), Dương Thuấn (Mười bảy khúc đảo ca), Nông Thị Ngọc Hòa (Nước hồ mãi trong xanh), Nông Thị Tô Hường (Hằn sâu trên đá)…

Văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại bắt đầu hình thành từ những năm 50 của thế kỉ XX, đến nay đã có một đội ngũ tác giả đông đảo và những thành tựu nhất định. Về tiểu thuyết và truyện ngắn có thể kể đến, dù chưa đầy đủ, những tên tuổi nổi bật: Y Điêng, Vi Hồng, Triều Ân, Kim Nhất, Vương Trung, Ma Trường Nguyên, Hoàng Hữu Sang, Cao Duy Sơn, Hoàng Quảng Uyên, Vi Thị Kim Bình, Hà Thị Cẩm Anh, Hữu Tiến, Hà Lâm Kỳ, Đoàn Lư… Sau 1986, văn xuôi dân tộc thiểu số phát triển ngày một mạnh mẽ hơn, nhất là sự xuất hiện của tiểu thuyết với số lượng lớn, chất lượng tốt với đội ngũ sáng tác đông đảo các nhà văn người dân tộc thiểu số. Các tiểu thuyết nói chung đều phản ánh đời sống của người miền núi với những phong tục, tập quán, lối sống đầy tình nghĩa, chất phác, mộc mạc và đặc biệt là những khát vọng về cuộc sống hạnh phúc. Từ những năm cuối thế kỉ XX đến thập niên đầu tiên của thế kỉ XXI xuất hiện những tác giả tiểu thuyết đáng chú ý không chỉ của riêng văn học dân tộc thiểu số mà còn ghi dấu ấn nhất định trong nền văn học Việt Nam. Những thể loại như kí, tản văn của dân tộc thiểu số tuy không phát triển mạnh nhưng cũng có những dấu ấn nhất định với nhiều thế hệ tiếp nối nhau như Mã A Lềnh, Y Điêng, Lý Lan, Hoàng Quảng Uyên rồi đến các cây viết trẻ như Hoàng A Sáng, Hoàng Chiến Thắng, Nông Quang Khiêm, Phùng Hải Yến… Dấu ấn nổi bật nhất về tản văn có thể kể đến Y Phương với Tháng Giêng tháng Giêng một vòng dao quắm; Kungfu người Co Xàu...

Về lí luận phê bình, trước 1986 có cố nhà thơ Nông Quốc Chấn viết nhiều và được biết đến nhiều trong cả công việc sáng tác lẫn nghiên cứu, phê bình, tập trung nhất là ba công trình phê bình tiểu luận: Đường ta đi (1970), Một vườn hoa nhiều hương sắc (1977), Chặng đường mới (1985). Giai đoạn sau 1986 ghi nhận những thành công nổi bật của nhà nghiên cứu người Nùng Lâm Tiến với Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, Về một mảng văn học dân tộc, Văn học và miền núi. Cùng với đó là một đội ngũ những người làm công tác lí luận, phê bình được bổ sung trong hai thập niên đầu thế kỉ XXI đến nay đã mang đến một diện mạo đầy đặn hơn, cũng nhờ đó mà văn học các dân tộc thiểu số được nghiên cứu, tìm hiểu từ nhiều góc độ tiếp cận hơn.

Những năm đầu thế kỉ XXI, “có sự sàng lọc gay gắt, sự thách thức nghiệt ngã đối với văn học dân tộc thiểu số. Các nhà văn, nhà thơ dân tộc hiểu rõ điều này hơn ai hết. Nên có người do lực bất tòng tâm không sáng tác nữa hoặc sáng tác ít đi mà chuyển sang nghiên cứu, sưu tầm văn hóa, văn học dân gian. Điều này thể hiện rõ nhất ở những nhà văn xuất hiện ở thế hệ đầu tiên, người trẻ nhất trong số những nhà văn này hiện nay là Vương Anh (62 tuổi). Như vậy, sự đổi mới thơ, văn dân tộc thiểu số trong sáu năm đầu thế kỉ XXI là thuộc về lớp nhà văn thứ hai. Số nhà văn này hiện nay là 28 người, trong đó có 17 nhà thơ, 11 nhà văn”(1). Điểm qua hai công trình đã thực hiện là Thơ dân tộc và miền núi đầu thế kỷ XXI do Mai Liễu, Y Phương, Inrasara, Trịnh Hà biên soạn, giới thiệu 169 tác giả; Văn xuôi dân tộc và miền núi đầu thế kỉ XXI do Cao Duy Sơn, Hoàng Tuấn Cư, Mã A Lềnh biên soạn, giới thiệu 63 tác giả có thể thấy được sự phong phú của đội ngũ các thế hệ nhà văn, nhà thơ dân tộc thiểu số những năm đầu thế kỉ XXI.

“Một vườn hoa nhiều hương sắc” như cách gọi của cố nhà thơ Nông Quốc Chấn về khu vực văn học này là một cách định danh xác đáng. Tuy thế, sự đa sắc ấy vẫn có những hạn chế dễ dàng được nhận ra như: sự mất cân đối ở vùng miền, mối trăn trở về bản sắc dân tộc trong bối cảnh hội nhập hiện nay; cùng với đó là một thế hệ trẻ đứng trước thách thức của công cuộc hội nhập khi ít được tắm mình trong không gian văn hóa truyền thống. Khi mà sự kết nối dù đã có nhưng chưa thực sự rộng khắp và mạng lưới tương tác chưa thực sự lớn mạnh, việc công bố, in ấn còn hẹp, đặc biệt là những sáng tác song ngữ… Đây là những lực cản đáng kể cho khu vực văn học nhiều đặc thù này.

Dù với những thành tựu và lực lượng đông đảo đã có, vào cuối thế kỉ XX, câu chuyện về phát triển đội ngũ và sự kế tục đã được đặt ra với rất nhiều trăn trở. Lưu Xuân Lý với bài viết Đã 53 thu còn đó vấn đề đội ngũ đặt vấn đề: “Vấn đề ở đây là xây dựng và phát triển đội ngũ có phong cách riêng chứ không phải là xây dựng một nền văn nghệ riêng của các dân tộc.” Và ở những năm cuối của thế kỉ trước, sự chênh lệch về vùng miền, sự thưa vắng ở những khu vực văn học như Tây Nguyên đã được bàn đến: “Đúng là vùng đất đầy bản sắc như Tây Nguyên - dọc Trường Sơn, vùng Chăm, vùng Khơ Me đang rất thiếu vắng đội ngũ sáng tạo văn nghệ, đặc biệt là văn học. Cần phải có tác giả các dân tộc Gia Rai, Xê Đăng, Mơ Nông, Kho, Chăm, Khơ Me... Nhưng làm cách nào - vẫn là câu hỏi?” Sau này, những khoảng trắng, sự thưa vắng ấy đã dần dần được khỏa lấp và bồi đắp ngày một nhiều mà một trong những cái nôi ươm mầm, nuôi dưỡng ấy là từ Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Cũng có nét tương đồng với đặc điểm của giai đoạn trước, đội ngũ tác giả trẻ người dân tộc thiểu số hiện nay vẫn còn có sự chưa cân đối trên các vùng miền, số lượng tác phẩm xuất bản nhiều vẫn thuộc về những dân tộc vốn có truyền thống và bề dày thành tựu văn học. Hiện nay, khu vực Tây Nguyên số lượng những tác giả ghi dấu ấn đậm vẫn còn khá khiêm tốn. Một vài gương mặt rất đáng kì vọng như Y Việt Sa (Bana Rngao) lại không theo đuổi con đường sáng tác chuyên nghiệp. Mặc dù vậy sự xuất hiện của những tác giả dân tộc “hiếm” tác giả văn học như Cao Lan, Xê đăng, M’nông… đem đến những tín hiệu lạc quan. Thêm vào đó, sự kết nối theo từng khu vực dù đã có những đầu tư để đẩy mạnh.

Giai đoạn hiện tại, các trại sáng tác, các cuộc hội thảo tọa đàm, các ấn phẩm công bố và trao đổi sáng tác tuy đã nhóm lên những nhiệt huyết nhưng vẫn cần phải riết róng hơn nữa việc phát hiện và khơi dòng cho những sáng tác trẻ dân tộc thiểu số; đồng thời phát huy vai trò quan trọng trong việc kết nối trao đổi kinh nghiệm sáng tác giữa các tác giả cùng thế hệ và khác thế hệ với nhau. Từ những diễn đàn đó, các cây bút trẻ người dân tộc thiểu số khắp cả nước có cơ hội giao lưu, gặp gỡ và thu nhận kiến thức; ý thức rõ rệt hơn về trách nhiệm và đặc biệt là củng cố những say mê và hứng khởi cho hành trình đi và viết của mình.

Trong thế kỉ XXI, quá trình hội nhập sâu rộng vào văn học thế giới đã tiếp tục mang cho các nhà văn Việt Nam nói chung và cho các tác giả dân tộc thiểu số nói riêng cơ hội tiếp cận sự đa dạng và phong phú của nền văn học thế giới. Có thể kể đến rất nhiều những lợi thế để văn học dân tộc thiểu số sau 1975 phát triển mạnh mẽ, như: sự phong phú và bề thế của văn học dân gian; được tiếp tục với thế hệ trẻ sung sức; ý thức ngày một sâu sắc về tinh thần dân tộc, bản lĩnh và vị thế dân tộc mình… Và một trong những thuận lợi không thể không kể đến đấy là những bước tiến của thời đại kĩ thuật số. Nhà xã hội học F. Lyotard từng dự đoán cách đây hơn nửa thế kỉ trong công trình triết học kinh điển Hoàn cảnh hậu hiện đại. Không bàn đến những vấn đề mang tính triết học của thời đại này, điều cũng rất đáng kể ở đây là việc văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số phải đối diện với cả những khó khăn và nhận được những thuận lợi của thời đại mới.

Ngày nay chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy sách mọi nơi trên internet, hay chỉ với một chiếc máy đọc sách điện tử nặng 200gr có thể chứa cả một thư viện tỉnh và bạn đọc có thể đọc được ở mọi nơi mọi chỗ. Thêm vào đó, nhiều đơn vị xuất bản đã chủ động tạo ra cách cuốn sách điện tử và báo điện tử trên các trang web vừa giúp người đọc dễ dàng tìm kiếm, vừa giảm giá thành. Điều đó cho thấy rằng, kỉ nguyên số đã giúp hạ rào cản về không gian, về địa lí, về thách thức tiếp cận sách để mang đến những cơ hội mới cho văn hóa đọc nói chung, cho văn học nói riêng. Với khu vực văn học có nhiều đặc thù riêng biệt này, chúng tôi đề xuất một số hướng đi như sau.

Thứ nhất, trong bối cảnh hiện nay, việc đổi mới hướng đến hiện đại là đặc điểm tất yếu để văn học dân tộc thiểu số tồn tại trong dòng chảy đời sống văn học đương đại. Một mặt họ vẫn gìn giữ được những đặc điểm truyền thống tiêu biểu, mặt khác họ cần bước vào một ngôi nhà chung; và vì thế đứng trước một yêu cầu, sáng tác của họ đến được với bạn đọc ngoài “không gian bản làng” nhưng vẫn không trở nên xa lạ với chính những chủ thể của không gian ấy. Có thể thấy, mạch nguồn truyền thống vừa là một sợi dây níu giữ, vừa là một hành trang cần thiết trong sự dàn xếp hài hòa để hướng đến hiện đại. Bên cạnh tính hiện đại của lối viết, rất cần sự đột phá của những đề tài được lựa chọn khi những đề tài như giữ nước, dựng nước, truyền thống, bản sắc dường như trở nên quen thuộc. Việc dũng cảm vượt qua “vùng an toàn” này hứa hẹn sẽ mở ra một bầu trời rộng lớn cho văn học khu vực này.

Trong việc đổi mới hướng đến hiện đại, sự thưa vắng đội ngũ những người làm công tác lí luận, phê bình là một trở ngại, bởi đây là lực lượng đồng hành quan trọng với lực lượng những người sáng tác. Đội ngũ làm công tác nghiên cứu, phê bình chuyên sâu về dân tộc thiểu số có thể kể đến các nhà nghiên cứu như Trần Thị Việt Trung, Phạm Quang Trung, Lê Thị Bích Hồng, Nguyễn Đức Hạnh, Cao Thị Hảo… Và trong những công việc cần bỏ tâm sức ấy, giới nghiên cứu phê bình cần thảo luận những vấn đề còn chưa thống nhất, vận dụng thêm những lý thuyết nghiên cứu hiện đại nhằm mở rộng chiều kích của việc tiếp nhận…

Công cuộc phát triển đội ngũ trẻ và tìm kiếm sự khẳng định cũng như đổi mới cho văn học dân tộc thiểu số cần sự đồng hành của các tổ chức, sự nỗ lực của mỗi cá nhân. Đây là điều kiện cộng hưởng quan trọng. Trung ương Hội cần có sự phối kết hợp mật thiết với các Hội Văn học nghệ thuật địa phương để các hoạt động được tăng cường vừa sâu vừa rộng. Có chính sách đầu tư, khuyến khích những người viết để có thêm những sáng tác hay, đặc sắc về chính quê hương, con người dân tộc mình.

Thứ hai, trong kỉ nguyên số, việc thuận lợi của thông tin mang tính hai mặt, bởi thế, đọc và viết là những công việc cần có sự định hướng. Độc giả tham gia các hoạt động đọc sách, thảo luận trực tuyến để tăng cường tính kết nối, chia sẻ niềm yêu sách nói chung hay với một tác phẩm cụ thể là một xu hướng phổ biến. Từ đó có thể gợi dẫn để nảy ra những ý tưởng như dự án viết sách theo nhóm được tổ chức bởi các nhà xuất bản. Lúc này, nhà xuất bản có thể mua/ bán ý tưởng, đặt hàng viết sách theo những gợi mở đó…

Việc tiếp cận một lượng lớn thông tin trên internet có thể khiến người đọc, đặc biệt là thanh thiếu niên (trong đó có những thanh thiếu niên thuộc các vùng miền núi) gặp khó khăn trong việc phân biệt thông tin chính thống và tiếp cận nhiều thông tin không chính xác. Bạn đọc lúc này dễ bị phân tâm hơn bởi mọi chuyển động thông tin nhanh hơn, bị phân cắt nhiều hơn. Trong khi đó, văn hóa đọc nói chung, thưởng thức tác phẩm văn học nói riêng, cần một sự tập trung đủ lớn về thời gian, về sức lực. Việc đầu tư nâng cao chất lượng các tác phẩm văn học thiếu nhi dân tộc thiểu số là một trong những việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là mảng văn học đóng vai trò nền tảng để nuôi dưỡng thật sớm hứng thú đọc cho các độc giả nhỏ tuổi. Kinh nghiệm tổ chức các cuộc thi sáng tác cho thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam và các tổ chức, đoàn thể khác có thể là một gợi ý.

Thứ ba, cần thiết tạo môi trường để thúc đẩy. Bên cạnh các hoạt động khuyến đọc thì việc phát triển các sáng tác song ngữ và bằng tiếng dân tộc giúp độc giả của mỗi dân tộc dễ dàng tiếp cận hơn, góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống.

Thời đại kết nối toàn cầu nên việc số hóa các sáng tác không còn là một thách thức. Sau khi số hóa, cần tạo ra những thư viện số mở để bà con dễ dàng tiếp cận. Nếu trước kia, mang những thư viện lên vùng cao là vô cùng tốn kém, và việc lưu trữ sách không hề dễ, cập nhật sách càng khó. Với các tác phẩm được số hóa, chỉ cần một đường truyền đủ tốt và một thư viện số hóa đủ đơn giản, thân thiện, dễ dùng, là bà con dễ dàng tiếp cận. Về điều này, để phát triển văn hóa đọc trong kỉ nguyên số, điểm mấu chốt là phải xây dựng được dữ liệu mở cho người dân, nhưng không thể trông đợi hoàn toàn vào từ nguồn lực nhà nước mà cần phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, các cá nhân theo tinh thần xã hội hóa.

Với người sáng tác, những chủ nhân có vai trò quan trọng trong sáng tạo và dẫn dắt độc giả, cần có thêm những cơ hội phát triển, rất cần có những điều chỉnh một số hoạt động đã và đang thực hiện như trại viết, tọa đàm, hội nghị, giải thưởng…

Thứ tư, hướng đến cái nhìn liên ngành, liên thể loại. Các ngành gần gũi và dễ có những tương tác với văn học như âm nhạc, phim ảnh là sự lựa chọn có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo một đời sống mới cho tác phẩm văn học. Một ví dụ tiêu biểu là bộ phim được chuyển thể của nhà văn Cao Duy Sơn. Vào năm 2012, Đàn trời là bộ phim chính luận, dài tập nhất về đề tài này. Sau đó 5 năm, Lặng yên dưới vực sâu cũng là một bộ phim truyền hình dài tập, đề tài tình cảm, tạo được dấu ấn đáng kể với công chúng xem truyền hình. Việc xem một bộ phim và trở lại tìm đọc một cuốn tiểu thuyết, một truyện ngắn có lẽ cũng không phải là một ý tưởng tồi, trong muôn vàn cách tìm những cơ hội phát triển mới cho đời sống văn học. Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, đề tài dân tộc thiểu số vào phim truyện không phải là mới, và kho tàng văn hóa dân tộc đồng bào các dân tộc thiểu số là một nguồn khai thác vô giá cho các nhà làm phim…

50 năm sau ngày thống nhất đất nước là một dấu mốc quan trọng để nhìn lại những thành tựu cũng như đề xuất hướng đi mới cho văn học các dân tộc thiểu số. Và một thực tế không thể phủ nhận là quá trình toàn cầu hóa đã tác động rõ rệt, mạnh mẽ tới mỗi nhà văn; đồng thời kiến tạo một đời sống văn học mới mẻ và khác biệt hoàn toàn. Trước những thách thức và cơ hội đó, việc nỗ lực xây dựng diện mạo, định vị bản sắc là vô cùng cần thiết. Thế hệ trước đã tạo nên những giá trị, những định hình khác biệt cho khu vực văn học này, bởi thế trong thời gian tới, mỗi tác giả trẻ cũng có những trau dồi, tích lũy để vượt khỏi những ràng buộc quen thuộc, những khuôn mẫu đã có để tìm đến những cơ hội phát triển mới, góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập sâu rộng của nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Theo Đỗ Thị Thu Huyền/Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm