TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Văn học các dân tộc thiểu số sau ngày đất nước thống nhất và hướng đi mới trong kỉ nguyên số

Văn học các dân tộc thiểu số sau ngày đất nước thống nhất và hướng đi mới trong kỉ nguyên số

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-08 23:30:05
mail facebook google pos stwis
1443 lượt xem

Văn học hiện đại các dân tộc thiểu số sau gần một thế kỉ hình thành và phát triển, đến nay đã có gần 1500 hội viên ở các loại hình nghệ thuật. Các thế hệ nhà văn dân tộc thiểu số đã đạt được những thành tựu và ghi dấu ấn độc đáo trong nền văn học nước nhà.

Hình ảnh trên bìa sách Lặng yên dưới vực sâu (tác giả Đỗ Bích Thúy, Nhã Nam và NXB Hội Nhà văn)

 

Họ được ghi nhận bằng những giải thưởng danh giá, uy tín như Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, Giải thưởng ASEAN, Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, Giải thưởng của Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam…

Xét riêng về từng thể loại, văn học dân tộc thiểu số có những bước phát triển không đồng đều tùy từng giai đoạn. Hiện nay, thơ vẫn là thể loại chiếm nhiều ưu thế. Thơ dân tộc thiểu số với lực lượng đông đảo từ Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Cầm Biêu, Hoàng Nó, Lương Quy Nhân, Bàn Tài Đoàn lớp trước đến những nhà thơ thế hệ sau này và thời kì đương đại như: Mã Thế Vinh, Vương Anh, Triều Ân, Y Phương, Mã A Lềnh, Lò Ngân Sủn, Lâm Quý, Triệu Kim Văn, Ma Trường Nguyên, Mai Liễu, Pờ Sảo Mìn, Lò Cao Nhum, Dương Thuấn... Các tác giả viết trường ca có thể kể đến Vương Trung (Thái) với Sóng Nậm Rốm, rồi Vương Anh (Mường) với Hồn chiêng gánh núi, Inrasara (Chăm) có Tháp nắng (thơ và trường ca Quê hương) đến 2002 thêm Lễ tẩy trần tháng Tư... Dân tộc Tày thành công với những tên tuổi nổi bật: Ma Trường Nguyên (Mát xanh rừng cọ), Y Phương (Chín tháng, Đò trăng), Dương Thuấn (Mười bảy khúc đảo ca), Nông Thị Ngọc Hòa (Nước hồ mãi trong xanh), Nông Thị Tô Hường (Hằn sâu trên đá)…

Văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại bắt đầu hình thành từ những năm 50 của thế kỉ XX, đến nay đã có một đội ngũ tác giả đông đảo và những thành tựu nhất định. Về tiểu thuyết và truyện ngắn có thể kể đến, dù chưa đầy đủ, những tên tuổi nổi bật: Y Điêng, Vi Hồng, Triều Ân, Kim Nhất, Vương Trung, Ma Trường Nguyên, Hoàng Hữu Sang, Cao Duy Sơn, Hoàng Quảng Uyên, Vi Thị Kim Bình, Hà Thị Cẩm Anh, Hữu Tiến, Hà Lâm Kỳ, Đoàn Lư… Sau 1986, văn xuôi dân tộc thiểu số phát triển ngày một mạnh mẽ hơn, nhất là sự xuất hiện của tiểu thuyết với số lượng lớn, chất lượng tốt với đội ngũ sáng tác đông đảo các nhà văn người dân tộc thiểu số. Các tiểu thuyết nói chung đều phản ánh đời sống của người miền núi với những phong tục, tập quán, lối sống đầy tình nghĩa, chất phác, mộc mạc và đặc biệt là những khát vọng về cuộc sống hạnh phúc. Từ những năm cuối thế kỉ XX đến thập niên đầu tiên của thế kỉ XXI xuất hiện những tác giả tiểu thuyết đáng chú ý không chỉ của riêng văn học dân tộc thiểu số mà còn ghi dấu ấn nhất định trong nền văn học Việt Nam. Những thể loại như kí, tản văn của dân tộc thiểu số tuy không phát triển mạnh nhưng cũng có những dấu ấn nhất định với nhiều thế hệ tiếp nối nhau như Mã A Lềnh, Y Điêng, Lý Lan, Hoàng Quảng Uyên rồi đến các cây viết trẻ như Hoàng A Sáng, Hoàng Chiến Thắng, Nông Quang Khiêm, Phùng Hải Yến… Dấu ấn nổi bật nhất về tản văn có thể kể đến Y Phương với Tháng Giêng tháng Giêng một vòng dao quắmKungfu người Co Xàu...

Về lí luận phê bình, trước 1986 có cố nhà thơ Nông Quốc Chấn viết nhiều và được biết đến nhiều trong cả công việc sáng tác lẫn nghiên cứu, phê bình, tập trung nhất là ba công trình phê bình tiểu luận: Đường ta đi (1970), Một vườn hoa nhiều hương sắc (1977), Chặng đường mới (1985). Giai đoạn sau 1986 ghi nhận những thành công nổi bật của nhà nghiên cứu người Nùng Lâm Tiến với Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đạiVề một mảng văn học dân tộcVăn học và miền núi. Cùng với đó là một đội ngũ những người làm công tác lí luận, phê bình được bổ sung trong hai thập niên đầu thế kỉ XXI đến nay đã mang đến một diện mạo đầy đặn hơn, cũng nhờ đó mà văn học các dân tộc thiểu số được nghiên cứu, tìm hiểu từ nhiều góc độ tiếp cận hơn.

Những năm đầu thế kỉ XXI, “có sự sàng lọc gay gắt, sự thách thức nghiệt ngã đối với văn học dân tộc thiểu số. Các nhà văn, nhà thơ dân tộc hiểu rõ điều này hơn ai hết. Nên có người do lực bất tòng tâm không sáng tác nữa hoặc sáng tác ít đi mà chuyển sang nghiên cứu, sưu tầm văn hóa, văn học dân gian. Điều này thể hiện rõ nhất ở những nhà văn xuất hiện ở thế hệ đầu tiên, người trẻ nhất trong số những nhà văn này hiện nay là Vương Anh (62 tuổi). Như vậy, sự đổi mới thơ, văn dân tộc thiểu số trong sáu năm đầu thế kỉ XXI là thuộc về lớp nhà văn thứ hai. Số nhà văn này hiện nay là 28 người, trong đó có 17 nhà thơ, 11 nhà văn”(1). Điểm qua hai công trình đã thực hiện là Thơ dân tộc và miền núi đầu thế kỷ XXI do Mai Liễu, Y Phương, Inrasara, Trịnh Hà biên soạn, giới thiệu 169 tác giả; Văn xuôi dân tộc và miền núi đầu thế kỉ XXI do Cao Duy Sơn, Hoàng Tuấn Cư, Mã A Lềnh biên soạn, giới thiệu 63 tác giả có thể thấy được sự phong phú của đội ngũ các thế hệ nhà văn, nhà thơ dân tộc thiểu số những năm đầu thế kỉ XXI.

“Một vườn hoa nhiều hương sắc” như cách gọi của cố nhà thơ Nông Quốc Chấn về khu vực văn học này là một cách định danh xác đáng. Tuy thế, sự đa sắc ấy vẫn có những hạn chế dễ dàng được nhận ra như: sự mất cân đối ở vùng miền, mối trăn trở về bản sắc dân tộc trong bối cảnh hội nhập hiện nay; cùng với đó là một thế hệ trẻ đứng trước thách thức của công cuộc hội nhập khi ít được tắm mình trong không gian văn hóa truyền thống. Khi mà sự kết nối dù đã có nhưng chưa thực sự rộng khắp và mạng lưới tương tác chưa thực sự lớn mạnh, việc công bố, in ấn còn hẹp, đặc biệt là những sáng tác song ngữ… Đây là những lực cản đáng kể cho khu vực văn học nhiều đặc thù này.

Dù với những thành tựu và lực lượng đông đảo đã có, vào cuối thế kỉ XX, câu chuyện về phát triển đội ngũ và sự kế tục đã được đặt ra với rất nhiều trăn trở. Lưu Xuân Lý với bài viết Đã 53 thu còn đó vấn đề đội ngũ đặt vấn đề: “Vấn đề ở đây là xây dựng và phát triển đội ngũ có phong cách riêng chứ không phải là xây dựng một nền văn nghệ riêng của các dân tộc.” Và ở những năm cuối của thế kỉ trước, sự chênh lệch về vùng miền, sự thưa vắng ở những khu vực văn học như Tây Nguyên đã được bàn đến: “Đúng là vùng đất đầy bản sắc như Tây Nguyên - dọc Trường Sơn, vùng Chăm, vùng Khơ Me đang rất thiếu vắng đội ngũ sáng tạo văn nghệ, đặc biệt là văn học. Cần phải có tác giả các dân tộc Gia Rai, Xê Đăng, Mơ Nông, Kho, Chăm, Khơ Me... Nhưng làm cách nào - vẫn là câu hỏi?” Sau này, những khoảng trắng, sự thưa vắng ấy đã dần dần được khỏa lấp và bồi đắp ngày một nhiều mà một trong những cái nôi ươm mầm, nuôi dưỡng ấy là từ Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Cũng có nét tương đồng với đặc điểm của giai đoạn trước, đội ngũ tác giả trẻ người dân tộc thiểu số hiện nay vẫn còn có sự chưa cân đối trên các vùng miền, số lượng tác phẩm xuất bản nhiều vẫn thuộc về những dân tộc vốn có truyền thống và bề dày thành tựu văn học. Hiện nay, khu vực Tây Nguyên số lượng những tác giả ghi dấu ấn đậm vẫn còn khá khiêm tốn. Một vài gương mặt rất đáng kì vọng như Y Việt Sa (Bana Rngao) lại không theo đuổi con đường sáng tác chuyên nghiệp. Mặc dù vậy sự xuất hiện của những tác giả dân tộc “hiếm” tác giả văn học như Cao Lan, Xê đăng, M’nông… đem đến những tín hiệu lạc quan. Thêm vào đó, sự kết nối theo từng khu vực dù đã có những đầu tư để đẩy mạnh.

Giai đoạn hiện tại, các trại sáng tác, các cuộc hội thảo tọa đàm, các ấn phẩm công bố và trao đổi sáng tác tuy đã nhóm lên những nhiệt huyết nhưng vẫn cần phải riết róng hơn nữa việc phát hiện và khơi dòng cho những sáng tác trẻ dân tộc thiểu số; đồng thời phát huy vai trò quan trọng trong việc kết nối trao đổi kinh nghiệm sáng tác giữa các tác giả cùng thế hệ và khác thế hệ với nhau. Từ những diễn đàn đó, các cây bút trẻ người dân tộc thiểu số khắp cả nước có cơ hội giao lưu, gặp gỡ và thu nhận kiến thức; ý thức rõ rệt hơn về trách nhiệm và đặc biệt là củng cố những say mê và hứng khởi cho hành trình đi và viết của mình.

Trong thế kỉ XXI, quá trình hội nhập sâu rộng vào văn học thế giới đã tiếp tục mang cho các nhà văn Việt Nam nói chung và cho các tác giả dân tộc thiểu số nói riêng cơ hội tiếp cận sự đa dạng và phong phú của nền văn học thế giới. Có thể kể đến rất nhiều những lợi thế để văn học dân tộc thiểu số sau 1975 phát triển mạnh mẽ, như: sự phong phú và bề thế của văn học dân gian; được tiếp tục với thế hệ trẻ sung sức; ý thức ngày một sâu sắc về tinh thần dân tộc, bản lĩnh và vị thế dân tộc mình… Và một trong những thuận lợi không thể không kể đến đấy là những bước tiến của thời đại kĩ thuật số. Nhà xã hội học F. Lyotard từng dự đoán cách đây hơn nửa thế kỉ trong công trình triết học kinh điển Hoàn cảnh hậu hiện đại. Không bàn đến những vấn đề mang tính triết học của thời đại này, điều cũng rất đáng kể ở đây là việc văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số phải đối diện với cả những khó khăn và nhận được những thuận lợi của thời đại mới.

Ngày nay chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy sách mọi nơi trên internet, hay chỉ với một chiếc máy đọc sách điện tử nặng 200gr có thể chứa cả một thư viện tỉnh và bạn đọc có thể đọc được ở mọi nơi mọi chỗ. Thêm vào đó, nhiều đơn vị xuất bản đã chủ động tạo ra cách cuốn sách điện tử và báo điện tử trên các trang web vừa giúp người đọc dễ dàng tìm kiếm, vừa giảm giá thành. Điều đó cho thấy rằng, kỉ nguyên số đã giúp hạ rào cản về không gian, về địa lí, về thách thức tiếp cận sách để mang đến những cơ hội mới cho văn hóa đọc nói chung, cho văn học nói riêng. Với khu vực văn học có nhiều đặc thù riêng biệt này, chúng tôi đề xuất một số hướng đi như sau.

Thứ nhất, trong bối cảnh hiện nay, việc đổi mới hướng đến hiện đại là đặc điểm tất yếu để văn học dân tộc thiểu số tồn tại trong dòng chảy đời sống văn học đương đại. Một mặt họ vẫn gìn giữ được những đặc điểm truyền thống tiêu biểu, mặt khác họ cần bước vào một ngôi nhà chung; và vì thế đứng trước một yêu cầu, sáng tác của họ đến được với bạn đọc ngoài “không gian bản làng” nhưng vẫn không trở nên xa lạ với chính những chủ thể của không gian ấy. Có thể thấy, mạch nguồn truyền thống vừa là một sợi dây níu giữ, vừa là một hành trang cần thiết trong sự dàn xếp hài hòa để hướng đến hiện đại. Bên cạnh tính hiện đại của lối viết, rất cần sự đột phá của những đề tài được lựa chọn khi những đề tài như giữ nước, dựng nước, truyền thống, bản sắc dường như trở nên quen thuộc. Việc dũng cảm vượt qua “vùng an toàn” này hứa hẹn sẽ mở ra một bầu trời rộng lớn cho văn học khu vực này.

Trong việc đổi mới hướng đến hiện đại, sự thưa vắng đội ngũ những người làm công tác lí luận, phê bình là một trở ngại, bởi đây là lực lượng đồng hành quan trọng với lực lượng những người sáng tác. Đội ngũ làm công tác nghiên cứu, phê bình chuyên sâu về dân tộc thiểu số có thể kể đến các nhà nghiên cứu như Trần Thị Việt Trung, Phạm Quang Trung, Lê Thị Bích Hồng, Nguyễn Đức Hạnh, Cao Thị Hảo… Và trong những công việc cần bỏ tâm sức ấy, giới nghiên cứu phê bình cần thảo luận những vấn đề còn chưa thống nhất, vận dụng thêm những lý thuyết nghiên cứu hiện đại nhằm mở rộng chiều kích của việc tiếp nhận…

Công cuộc phát triển đội ngũ trẻ và tìm kiếm sự khẳng định cũng như đổi mới cho văn học dân tộc thiểu số cần sự đồng hành của các tổ chức, sự nỗ lực của mỗi cá nhân. Đây là điều kiện cộng hưởng quan trọng. Trung ương Hội cần có sự phối kết hợp mật thiết với các Hội Văn học nghệ thuật địa phương để các hoạt động được tăng cường vừa sâu vừa rộng. Có chính sách đầu tư, khuyến khích những người viết để có thêm những sáng tác hay, đặc sắc về chính quê hương, con người dân tộc mình.

Thứ hai, trong kỉ nguyên số, việc thuận lợi của thông tin mang tính hai mặt, bởi thế, đọc và viết là những công việc cần có sự định hướng. Độc giả tham gia các hoạt động đọc sách, thảo luận trực tuyến để tăng cường tính kết nối, chia sẻ niềm yêu sách nói chung hay với một tác phẩm cụ thể là một xu hướng phổ biến. Từ đó có thể gợi dẫn để nảy ra những ý tưởng như dự án viết sách theo nhóm được tổ chức bởi các nhà xuất bản. Lúc này, nhà xuất bản có thể mua/ bán ý tưởng, đặt hàng viết sách theo những gợi mở đó…

Việc tiếp cận một lượng lớn thông tin trên internet có thể khiến người đọc, đặc biệt là thanh thiếu niên (trong đó có những thanh thiếu niên thuộc các vùng miền núi) gặp khó khăn trong việc phân biệt thông tin chính thống và tiếp cận nhiều thông tin không chính xác. Bạn đọc lúc này dễ bị phân tâm hơn bởi mọi chuyển động thông tin nhanh hơn, bị phân cắt nhiều hơn. Trong khi đó, văn hóa đọc nói chung, thưởng thức tác phẩm văn học nói riêng, cần một sự tập trung đủ lớn về thời gian, về sức lực. Việc đầu tư nâng cao chất lượng các tác phẩm văn học thiếu nhi dân tộc thiểu số là một trong những việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là mảng văn học đóng vai trò nền tảng để nuôi dưỡng thật sớm hứng thú đọc cho các độc giả nhỏ tuổi. Kinh nghiệm tổ chức các cuộc thi sáng tác cho thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam và các tổ chức, đoàn thể khác có thể là một gợi ý.

Thứ ba, cần thiết tạo môi trường để thúc đẩy. Bên cạnh các hoạt động khuyến đọc thì việc phát triển các sáng tác song ngữ và bằng tiếng dân tộc giúp độc giả của mỗi dân tộc dễ dàng tiếp cận hơn, góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống.

Thời đại kết nối toàn cầu nên việc số hóa các sáng tác không còn là một thách thức. Sau khi số hóa, cần tạo ra những thư viện số mở để bà con dễ dàng tiếp cận. Nếu trước kia, mang những thư viện lên vùng cao là vô cùng tốn kém, và việc lưu trữ sách không hề dễ, cập nhật sách càng khó. Với các tác phẩm được số hóa, chỉ cần một đường truyền đủ tốt và một thư viện số hóa đủ đơn giản, thân thiện, dễ dùng, là bà con dễ dàng tiếp cận. Về điều này, để phát triển văn hóa đọc trong kỉ nguyên số, điểm mấu chốt là phải xây dựng được dữ liệu mở cho người dân, nhưng không thể trông đợi hoàn toàn vào từ nguồn lực nhà nước mà cần phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, các cá nhân theo tinh thần xã hội hóa.

Với người sáng tác, những chủ nhân có vai trò quan trọng trong sáng tạo và dẫn dắt độc giả, cần có thêm những cơ hội phát triển, rất cần có những điều chỉnh một số hoạt động đã và đang thực hiện như trại viết, tọa đàm, hội nghị, giải thưởng…

Thứ tư, hướng đến cái nhìn liên ngành, liên thể loại. Các ngành gần gũi và dễ có những tương tác với văn học như âm nhạc, phim ảnh là sự lựa chọn có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo một đời sống mới cho tác phẩm văn học. Một ví dụ tiêu biểu là bộ phim được chuyển thể của nhà văn Cao Duy Sơn. Vào năm 2012, Đàn trời là bộ phim chính luận, dài tập nhất về đề tài này. Sau đó 5 năm, Lặng yên dưới vực sâu cũng là một bộ phim truyền hình dài tập, đề tài tình cảm, tạo được dấu ấn đáng kể với công chúng xem truyền hình. Việc xem một bộ phim và trở lại tìm đọc một cuốn tiểu thuyết, một truyện ngắn có lẽ cũng không phải là một ý tưởng tồi, trong muôn vàn cách tìm những cơ hội phát triển mới cho đời sống văn học. Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, đề tài dân tộc thiểu số vào phim truyện không phải là mới, và kho tàng văn hóa dân tộc đồng bào các dân tộc thiểu số là một nguồn khai thác vô giá cho các nhà làm phim…

50 năm sau ngày thống nhất đất nước là một dấu mốc quan trọng để nhìn lại những thành tựu cũng như đề xuất hướng đi mới cho văn học các dân tộc thiểu số. Và một thực tế không thể phủ nhận là quá trình toàn cầu hóa đã tác động rõ rệt, mạnh mẽ tới mỗi nhà văn; đồng thời kiến tạo một đời sống văn học mới mẻ và khác biệt hoàn toàn. Trước những thách thức và cơ hội đó, việc nỗ lực xây dựng diện mạo, định vị bản sắc là vô cùng cần thiết. Thế hệ trước đã tạo nên những giá trị, những định hình khác biệt cho khu vực văn học này, bởi thế trong thời gian tới, mỗi tác giả trẻ cũng có những trau dồi, tích lũy để vượt khỏi những ràng buộc quen thuộc, những khuôn mẫu đã có để tìm đến những cơ hội phát triển mới, góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập sâu rộng của nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Theo Đỗ Thị Thu Huyền/Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm