TIN TỨC

‘Vườn xưa’ trên quê hương Tế Hanh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-14 23:33:15
mail facebook google pos stwis
7386 lượt xem

Có một hình ảnh mà người quê Bình Sơn, quê Quảng Ngãi giữ mãi trong lòng mình, đó là hình ảnh một dòng sông “Nước gương trong soi tóc những hàng tre”, đó là hình ảnh dòng sông Trà Bồng chảy qua làng quê Tế Hanh bốn mùa nước nước xanh biêng biếc.

Nhà thơ Tế Hanh

Còn một hình ảnh nữa chưa biết xuất xứ từ đâu, nhưng khi đã vào một bài thơ Tế Hanh thì được bạn đọc cả hai miền Nam, Bắc cùng đón nhận. Đó là bài thơ Vườn xưa. Bài thơ này Tế Hanh viết năm 1957 khi ông đang sống và làm việc tại miền Bắc. Có hai từ trong bài thơ định danh nơi xuất xứ của nó, đó là hai từ “công tác”: Hai ta ở hai đầu công tác/ Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa/. Cùng công tác, vào năm 1957, thì chắc chắn khu “vườn xưa” ấy ở miền Bắc rồi. Nhưng có một câu chuyện rất hay về bài thơ này mà tôi muốn kể lại:

Vào năm 1972, khi tôi đang “công tác” ở chiến trường Nam Bộ, tình cờ tôi đọc một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Túy Hồng – một nữ nhà văn Sài Gòn đang rất nổi tiếng. Trong tiểu thuyết ấy, cũng rất tình cờ, tôi gặp lại bài thơ Vườn xưa của Tế Hanh. Một nhân vật trong tiểu thuyết của Túy Hồng nói rằng mình rất thích bài thơ Vườn xưa của nhà thơ Tế Hanh đang sống ở miền Bắc Việt Nam. Và qua tác giả tiểu thuyết, bài thơ này đã được in nguyên vẹn. Với hoàn cảnh chiến tranh thời ấy, thì đây là một câu chuyện lạ. Nói “nhân vật” của mình mê bài thơ Vườn xưa của Tế Hanh, nhưng tôi nghĩ, chính tác giả Túy Hồng mê bài thơ này thì đúng hơn. Và bà đã mượn nhân vật để đưa nguyên bài thơ này vào tiểu thuyết của mình. Bài thơ của một nhà thơ đang sống ở miền Bắc đã được một nhà văn miền Nam đưa vào tiểu thuyết của mình, và đã được một anh lính “Việt cộng” là tôi, đồng hương với Tế Hanh phát hiện ra khi đọc tiểu thuyết. Tôi rất thú vị vì câu chuyện này, nó nói lên rằng thơ Tế Hanh đã được bạn đọc ở cả hai miền Nam Bắc, bất chấp hoàn cảnh chiến tranh, đọc và yêu thích.

Và bây giờ, qua rất nhiều tháng năm, sau khi đã viết khá nhiều bài về thơ Tế Hanh, tôi mới chợt nhận ra điều này: Dù sinh thời sống rất khiêm nhường, nhỏ nhẹ, không bao giờ biết “PR” cho thơ mình, nhưng Tế Hanh lại là một trong số rất ít nhà thơ đương đại Việt Nam được người đọc yêu thích nhất. Tôi biết điều đó, vì có một chuyện như thế này:

Vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Tế Hanh (1921-2021), một tờ báo mạng “có nhiều người đọc nhất Việt Nam” đã nhờ tôi viết một bài về Tế Hanh và thơ của ông. Có lẽ vì họ nghĩ tôi là đồng hương với Tế Hanh, lại quen thân với ông ngày ông còn khỏe, nên mới đặt bài. Bài viết của tôi cũng rất giản dị, nhưng tôi vô cùng ngạc nhiên khi được biết, số lượng người vào trang mạng đọc bài này là quá đông. Riêng những comments (bình luận) đã tới gần con số 200. Điều ngạc nhiên nữa với tôi, là những người viết bình luận đều nói là mình đã thuộc thơ Tế Hanh, thuộc cả bài, hay ít nhất, cũng thuộc một số đoạn thơ, nhiều người còn viết rằng đã thuộc thơ Tế Hanh từ khi họ còn nhỏ, còn ở tuổi đi học. Những bình luận đều bày tỏ sự yêu thương rất thật lòng với thơ Tế Hanh, điều quả thật không dễ dàng trong thời buổi rất ít người đọc thơ như bây giờ. Đó là điều khiến tôi rất hạnh phúc.

Sự khiêm nhường của một nhà thơ hiền lành như Tế Hanh đã mang lại cho thơ ông tình yêu thương mà nhiều nhà thơ khác thèm muốn. Tôi nghĩ, đó cũng là niềm tự hào của người Quảng Ngãi, khi một nhà thơ đồng hương của mình, một người dù sống ở rất nhiều nơi, nhưng suốt cuộc đời mình không bao giờ mất chất giọng đặc biệt mộc mạc của người Quảng Ngãi.

Và khi tôi mang những câu chuyện giản dị này về thơ Tế Hanh bàn với những người có trách nhiệm của huyện Bình Sơn, của xã Bình Dương quê hương ông, tôi đã nhận được sự đồng tình rất cao từ họ. Ai cũng muốn quê hương mình, địa phương mình phải có “Khu vườn lưu niệm” về nhà thơ Tế Hanh và thơ của ông. Và ý tưởng này chắc chắn sẽ thành hiện thực bởi nó được rất nhiều sự ủng hộ từ nhiều phía. Tôi nghĩ, đó chính là sự đồng thuận về tình yêu thương với thơ Tế Hanh, với con người nhà thơ Tế Hanh.

Khu vườn lưu niệm ấy sẽ mang tên “Vườn xưa”, và nó sẽ hướng ra phía dòng sông Trà Bồng, dòng sông quê hương đã chảy vào bài thơ bất tử của Tế Hanh.

Khi tôi mang ý tưởng này trình bày với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, anh Thiều đã ủng hộ bằng tất cả xúc cảm của mình. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều hứa, sẽ vận động để đúc một tượng đồng nhà thơ Tế Hanh (theo tỉ lệ 1-1, nghĩa là to bằng người thật) đang ngồi thanh thản trong “Vườn xưa”. Tượng đồng này sẽ là món quà của Hội nhà văn Việt Nam tặng cho khu vườn lưu niệm Tế Hanh ngay tại quê hương ông.

Và khi tôi đưa ý kiến ủng hộ này của Hội Nhà văn Việt Nam tới bạn bè anh em ở Quảng Ngãi, thì một sự đồng thuận với tất cả sự chân thành của mọi người đã khiến tôi rất cảm động. Từ bí thư Thành phố Quảng Ngãi tới Trưởng ban Khu kinh tế Dung Quất đều hứa hẹn sẽ vận động để ủng hộ cho ý tưởng này nhanh chóng thành hiện thực.

Một người bạn của tôi đang sống ở Sài Gòn, nhưng quê Bình Sơn, đã hứa ngay, sẽ ủng hộ hai phiến đá khắc hai bài thơ nổi tiếng của Tế Hanh, đó là bài Vườn xưa và bài Nhớ con sông quê hương. Mỗi người sẽ ủng hộ một phần để tạo nên khu “Vườn xưa” này, nơi sẽ lưu giữ hồn thơ Tế Hanh cho nhiều thế hệ người đọc.

Và khu lưu niệm “Vườn xưa” sẽ chính thức trở thành một điểm du lịch văn hóa cộng đồng khi hoàn thành.

Tỉnh Quảng Ngãi cũng vừa có quyết định để khu lưu niệm Tế Hanh chính thức thành di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Quảng Ngãi.

Và tôi muốn gửi bài viết này như một lời kêu gọi chân tình tới tất cả bạn đọc yêu thương thơ Tế Hanh: chúng ta hãy góp mỗi người một cây xanh nhỏ bé để khu vườn lưu niệm này không chỉ là “Vườn xưa”, mà là “Khu vườn Xanh” của hôm nay và mai sau. Thơ Tế Hanh sẽ vô cùng hạnh phúc được sống cùng cây xanh, cùng dòng sông “Nước xanh trong soi tóc những hàng tre” qua nhiều thế hệ không chỉ người Quảng Ngãi, mà còn là người Việt ở cả hai miền Nam Bắc. Và những người Việt đang sống ở nước ngoài.

Xin trân trọng giới thiệu bài thơ Vườn xưa của nhà thơ Tế Hanh, một trong những nhà thơ được người Việt yêu mến nhất:

Vườn xưa

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa
Như mặt trăng mặt trời cách trở
Như sao hôm sao mai không cùng ở
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu
Như tháng mười hồng tháng năm nhãn
Em theo chim đi về tháng tám
Anh theo chim cùng với tháng ba qua

Một ngày xuân em trở lại nhà
Nghe mẹ nói anh có về anh hái ổi
Em nhìn lên vòm cây gió thổi
Lá như môi thầm thĩ gọi anh về

Lần sau anh trở lại một ngày hè
Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt
Anh nhìn giếng giếng sâu trong vắt
Nước như gương soi lẻ bóng hình anh

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

1957

 Thanh Thảo/Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm