TIN TỨC

Cô gái Quảng Trị với nồng cay tiêu Cùa

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-18 02:26:19
mail facebook google pos stwis
488 lượt xem

NGUYỄN XUÂN SANG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Đọc 14 bài bút ký của nữ nhà báo Đào Khoa Thư, trong tập bút ký “Mùa bình thường” in chung với nhà báo Đào Tâm Thanh, do Nxb Thuận Hóa ấn hành tháng 7 năm 2025, tôi thật sự khâm phục cách viết khoáng hoạt của cô gái trẻ. Không gian được đề cập là mảnh đất quê nhà thân thương và những đất nước mà cô đặt chân đến để học tập, công tác, giao lưu, trải nghiệm. Lời văn tươi mới tràn đầy cảm xúc, lối viết chân thực, cởi mở, ngắn gọn cho ta thấy bao điều mới mẻ. Đọc lần lượt từng bài bút ký, thật thích thú với bao điều hấp dẫn qua từng câu chuyện kể về cuộc sống đời thường và các sự kiện diễn ra rất bổ ích.   

 

Nhà báo Đào Khoa Thư. Ảnh tác giả cung cấp.

 

Nữ nhà báo Đào Khoa Thư quê ở huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; cựu học sinh chuyên Anh, Trường PTTH chuyên Lê Qúy Đôn của tỉnh; cựu sinh viên Học viện Ngoại giao - Hà Nội; từng làm phóng viên, biên tập viên báo Việt Nam New (tờ báo tiếng Anh của TTXVN); báo Tuổi trẻ TP. Hồ Chí Minh. Cô vinh dự được nhận học bổng Fulbright và tốt nghiệp thạc sĩ tại Đại học New York - Mỹ.

Nhà báo Đào Khoa Thư nguyên phóng viên Thời sự quốc tế, Báo Tuổi Trẻ; từng tháp tùng Thủ tướng để đưa tin nguyên trang, như bài “Bế mạc ASEAN 37, chiều 15-11-2020 - hướng đến vai trò hạt nhân khu vực”; “25 năm quan hệ ngoại giao Việt - Mỹ những bước tiến dài trong ¼ thế kỷ” - Tuổi trẻ 11-7-2020; “Làm cố vấn của tổng thống (Indonesia) là phụng sự Tổ quốc” - Tuổi trẻ 2-9-2020; “ASEAN đoàn kết để vượt biến cố lịch sử” - Tuổi trẻ 27-6-2020; “Việt Nam chủ động, trách nhiệm và dẫn dắt” - Tuổi trẻ 27-6-2020; “Dù ai là Tổng thống, Việt - Mỹ vẫn bền chặt” - Tuổi trẻ 23-11-2020…Ngày 20 tháng 7 năm 2020 Hội đồng giải thưởng toàn quốc về thông tin đối ngoại tặng giải Nhất thể loại báo in cho tác phẩm “Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều: Hãy cho hòa bình một cơ hội”, ngôn ngữ Tiếng Anh cho nhóm tác giả, trong đó có Đào Khoa Thư.

Nếu như nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có bài thơ “Mùa bình thường” với những câu thơ mang hình ảnh chân thực, sống động: “Nhà văn ngồi viết văn/Nhà sử học bận rộn với quá khứ/Viên quan tòa mặc áo thụng nói lời ngay thẳng/ Tôi chỉ mong mùa bình thường/ Đủ cả hoa và rác như thói thường vẫn thế/Có điều lương tâm ta trong/Sống bình thường và khao khát xa xôi…”. Nhạc sĩ Văn Cao có nhắc đến “mùa bình thường” trong ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” có ca từ giản dị, réo rắt, vui tươi: “Rồi dập dìu, mùa Xuân theo én về/Mùa bình thường, mùa vui theo én về”. Còn nhà báo Đào Khoa Thư mở đầu tập bút ký là bài “Mùa bình thường”, tác giả kể hồn nhiên chuyện sinh viên, nghiên cứu sinh ở rải rác khắp New York, có sự tham gia của cô gái từ San Francisco bay sang bờ Đông thăm thú vào một ngày cuối tuần. Họ hẹn hò và tổ chức gặp mặt để “có dịp trổ tài nấu những món quen thuộc: nem rán, thịt đông, canh bóng thả, su hào, cà rốt tỉa hoa rồi xào cùng dầu hào, nấm hương thơm nhức mũi” mỗi người tự “đạo diễn” một món ruột ưa thích của mình để góp chung vào cổ bàn “tiệc” cây nhà lá vườn khao nhau, tạo sự ấm áp, xích lại gần hơn, vơi đi phần nào nỗi nhớ quê nhà canh cánh trong lòng: “Mọi người ngồi quây bên mâm cỗ dã chiến. Cái bếp điện mi ni vẫn kêu rè rè ở bên để giữ nóng cho món cá om dưa nồng nàn mùi quen thuộc…khi cả lũ đã no kềnh và chuẩn bị dừng đũa, người chị ngăn lại rồi lật đật chạy vội vào bếp bưng ra nồi miến nấu măng trộn lẫn lòng gà nghi ngút khói”. Tết đến xuân về trong ngôi nhà Việt là những ngày rộn ràng, thiêng liêng nhất trong năm. Gia đình đoàn tụ, mỗi người một việc, trang hoàng nhà cửa, chuẩn bị món ăn thức uống đón ba ngày Tết. Ấm áp nhất là đêm giao thừa, các thành viên trong gia đình ngồi quây quần quanh nồi bánh chưng xanh sôi sùng sục, hơ đôi bàn tay giá lạnh cuối năm vào bếp lửa, nghe lòng ấm áp làm sao. Tùy theo phong tục sở thích từng địa phương mà làm nên những loại bánh truyền thống. Riêng Quảng Trị nổi tiếng nhất là món bánh bột lọc “bọc con tôm”, món bánh bao nhân thập cẩm từ người già đến trẻ nhỏ đều thích.

Ở Mỹ trong Lễ Tạ ơn, nhiều gia đình nấu các món ngon để đánh dấu thời gian bắt đầu Mùa Vọng. Nhóm sinh viên cũng chung tay tổ chức bữa tiệc mang hơi thở một gia đình đa sắc màu thời hội nhập: “Cô bạn người Argentina chuẩn bị món bánh chocotorta và một chai rượu trứ danh, anh bạn Mỹ vật lộn với món gà tây nướng ăn kèm khoai nghiền, chị Pakistan lặn lội lên khu Queens mua bằng được món kabab gà cay thơm, tôi đong bột, kích hoạt men cho món bánh bao thập cẩm nhân thịt bò băm…Mỗi lần được trò chuyện với gia đình, người thân, bạn bè, được thấy quê nhà qua từng bức ảnh chụp mảnh vườn, góc phố an bình, chưa phải Tết nhưng lòng tôi đã vui như Tết đến từng ngày…”. (Lòng vui như Tết đến từng ngày). Dọc dài trên đất nước ta có những loại cây trái khác nhau, nó trở thành món đặc sản nổi tiếng ở các vùng miền. Tỉnh Quảng Trị gió Lào, cát trắng có tiêu vùng Cùa ở Cam Lộ được chào đón trong khuôn khổ chương trình “Quảng bá địa phương Việt Nam tại Hoa Kỳ”. Tiêu Cùa nồng cay, thơm ngon kết hợp được với các loại đồ ăn khắp năm châu bốn bể. Khi cô đến Campuchia được người bạn Khmer đãi món Prohoc, còn gọi là mắm bò hóc: “Nhắm mắt nhắm mũi đưa vào miệng và ngạc nhiên sao cái tổ hợp lổn nhổn ấy lại trở nên beo béo, bùi ngùi, đậm đà vị mắm…Rắc chút bột tiêu thơm nồng vào bát mắm Prohoc, món mắm thêm đậm đà. Bạn tôi nhón chút tiêu Cùa bỏ vào bibibap. “Thử xem thế nào?”, nó nói và bất ngờ thốt lên: “Cay quá”, rồi cười thật mãn nguyện”.

Hành trang cô mang theo những lần ra nước ngoài luôn có món đặc sản “nồng cay Quảng Trị”. Một lần cô đến thăm bố nuôi là một người nông dân ở vùng núi  Đông Bắc Nhật Bản, cô tặng một gói tiêu Cùa: “Tôi còn nhớ như in buổi sáng đã xa, bát mì ramen trứ danh của tỉnh Kitakata vùng Tohoku trở nên thơm ngon nhờ chút tiêu xay từ vùng Cùa quê hương tôi. Buổi sáng tuyết phủ kín sân và trong nhà đồ ăn thơm phức, nồng cay mùi hồ tiêu Việt khiến ai cũng phải xuýt xoa” (Và luôn mang theo “nồng cay Quảng Trị”). Cô đã từng đi qua những nơi đặt đại bản doanh của nhiều tập đoàn dệt may nổi tiếng và đến Hàng Châu, thủ phủ tơ lụa của Trung Hoa. Hàng Châu là một công xưởng, gia công, cung cấp hàng lụa, hàng thời trang cho cả thế giới với nhiều loại giá cả. Cô nhớ Việt Nam, có: “Lụa Hà Đông từng được chọn để may triều phục và đặc biệt được ưa chuộng dưới triều nhà Nguyễn, từ vua Khải Định đến vua Bảo Đại đều sai sứ thần ra tận làng lụa Hà Đông mua sa, mua gấm về dùng…Đám cưới ngày xưa, cô dâu về nhà chồng, người mẹ tự tay dệt cho khổ lụa làm của hồi môn, “Em mặc yếm thắm, em thắt lụa hồng, em đi trẩy hội non sông” (Hiu hiu nhớ lụa). Khi mới học lớp hai, cô nghe mẹ đọc bài thơ “Êmily, con…” của nhà thơ Tố Hữu với bao cảm xúc bùi ngùi. Mười lăm năm sau cô ngồi bên con sông Pôtômac chảy êm đềm, nhìn dòng sông và ngẫm ngợi. Ngày 2/11/1965, anh Noman Morixon bế con gái yêu là bé Êmily mới 18 tháng tuổi đến Lầu Năm Góc. Anh đặt con gái xuống đất, rồi tự thiêu bên bờ sông Pôtômac, cách Bộ quốc phòng Mỹ và nơi làm việc của Bộ trưởng Quốc phòng Mắc Namara vài chục bước chân, để phản đối chiến tranh Việt Nam. Sự kiện này làm chấn động nước Mỹ và cả thế giới yêu chuộng hòa bình: “Tôi đã cố công tìm dọc bờ sông Pôtômac, đâu là nơi Morixon đặt con gái Êmily ngồi xuống và viết lá thư cho vợ”…Êmily con ơi/Trời sắp tối rồi/Cha không bế con về được nữa/Khi đã sáng bừng lên ngọn lửa/Đêm nay mẹ đến tìm con/ Con hãy ôm lấy mẹ mà hôn/Cho cha nhé/Và con cũng nói dùm với mẹ/Cha đi vui/ Xin mẹ đừng buồn…” (Ngẫm ngợi bên dòng sông Pôtômac). Tháng 8/2017 cô và 14 bạn trẻ đại diện cho thanh niên các nước Đông Nam Á quan tâm ứng phó rủi ro thiên tai và kiến tạo hòa bình, tổ chức tại Thủ đô Manila - Philippines. Bản báo cáo chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm 2017 xuất bản bởi tổ chức Germanwatch thuộc Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Cộng hòa Liên bang Đức đã chỉ ra rằng: - Philippies nằm trong top 5 quốc gia hàng đầu gánh chịu hậu quả nặng nề của các hiện tượng thời tiết cực đoan, Việt Nam nằm ở vị trí số 8. “Nhằm giảm thiểu những rủi ro về thiên tai, bên cạnh những nỗ lực của chính phủ, người dân Philippies cũng đã có những sáng kiến dựa trên nền tảng sức mạnh cộng đồng. Điều đó là những biện pháp hữu hiệu và có khả năng áp dụng được vào Việt Nam, mà cụ thể là các tỉnh miền Trung trong bối cảnh thiên tai diễn biến phức tạp và khó lường như hiện nay” (Giảm thiểu rủi ro thiên tai từ kết nối thông tin và liên kết cộng đồng).

Ấn tượng nhất khi cô đến Nhật Bản là sự nhiệt thành, thân thiện, ân cần và rất mực mến khách. Chia tay Kitakata Green Hotel, cô phục vụ phòng, người đầu bếp và vài nhân viên khác xếp hàng đứng tiễn: “Họ vẫy tay, cúi đầu chào, những ánh mắt còn dõi theo mãi là những gì đậm nét nhất mà tôi nhớ về Nhật Bản. Nước Nhật khắc kỷ và trang nghiêm. Người Nhật kỷ luật và cần Mẫn” (Những ánh mắt ở lại). Trong khuôn khổ chương trình giao lưu thanh niên Nhật Bản - Đông Á (JENSYS 2.0), cô cùng sinh viên ngành Báo chí Việt Nam đến thăm và ở lại thành phố Kitakata, thành phố đứng thứ hai về sản phẩm nông nghiệp trên toàn lãnh thổ Nhật Bản, với các sản phẩm nổi tiếng: mì ramen, rượu Sake, nước tương…Qua trao đổi và quan sát thực tế, cô biết nông dân Nhật Bản không sử dụng hóa chất công nghiệp dùng cho nông nghiệp, chỉ sử dụng sản phẩm vi sinh, hữu cơ để giữ nước, giữ chất cho cây. Vì vậy cho ra những hạt gạo no tròn, căng bóng, đầy chất dinh dưỡng. Người nông dân Nhật Bản không chỉ cắm mặt với đất, còn là kỹ sư, là chủ doanh nghiệp, nắm bắt nhanh xu hướng mới trong sản xuất mới tồn tại và phát triển. Việt Nam có đến 70% dân số ở vùng nông thôn, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế trụ cột của đất nước. Và cô mong mỏi: “tương lai gần, sự hợp tác giữa hai nước Việt Nam - Nhật Bản trong ngành nông nghiệp sẽ đem lại hiệu quả thực chất, để người nông dân Việt Nam có thể sống được, sống tốt với nghề nông, và nghề nông sẽ trở thành “một sự lựa chọn” trong cuộc đời của những người trẻ” (Tôi chọn làm nông dân). Trong chuyển trải nghiệm thành phố Manila - Philippin, diện tích lớn hơn Singapore, dân số gấp đôi Cộng hòa Irelend. Có công viên Rizal với cột cờ kiêu hãnh, là quãng trường nhạc nước sáng đèn mỗi đêm. The Manila Hotel xây dựng từ năm 1912 với lối kiến trúc Tây Ban Nha. Khu thành cổ rộng 64 ha do người Tây Ban Nha xây từ những năm 70 của thế kỷ 14, được UNESCO công nhận là di sản thế giới.

Sau khi trải nghiệm những nơi nổi tiếng, mọi người được thưởng thức các món ăn thức uống ngồn ngộn trên bàn tiệc … tất nhiên là có món: cơm tẻ!. “Trong buổi tiệc chiêu đãi ngày hôm sau, một cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Philippines đã “bật mí” với tôi rằng:“Gạo Việt Nam đấy!”. Bác còn ân cần giải thích thêm rằng gạo nước ta rất được ưa chuộng ở nước bạn vì phù hợp với khẩu vị, tơi, xốp và hơi mềm” (Mainila, xa mà gần). Năm 2011, cô là một trong 60 thành viên trẻ tham dự Diễn đàn thanh thiếu niên châu Á - Thái Bình Dương ở Hàn Quốc về môi trường. Được tham quan công viên sinh thái rừng ngập mặn Gyeongancheon, Trung tâm năng lượng xanh Suji, Đài quan sát Paldang. Việc giáo dục về môi trường ở Hàn Quốc đã nhận được sự quan tâm không chỉ của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ mà còn từ những người dân. Trong lần trải nghiệm này, cô nhận thức rằng “Lời cam kết bảo vệ môi trường một cách triệt để …Và khi các thành viên đến từ Đài Loan, Indonesia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam lần lượt đọc vang lời cam kết bằng ngôn ngữ của dân tộc mình, tôi chợt nhận ra, trong hành trình bảo vệ màu xanh cho Trái đất, mình không hề đơn độc” (Bảo vệ môi trường trong tầm tay của bạn). Năm 2012 cô là học sinh duy nhất tỉnh Quảng Trị thành viên của Diễn đàn Tuổi trẻ Việt Nam (Vietnam youth forum - VYF), một sự kiện được tổ chức thường niên vào trung tuần tháng 7, gồm 29 bạn trẻ đến từ khắp mọi miền đất nước và một số du học sinh đang học tập ở những ngôi trường danh tiếng trên thế giới, như: Ha vard, Princeton, Columbia, Cambridge…tụ họp tại khách sạn Khăn Quàng Đỏ - Thủ đô Hà Nội. Xuyên suốt chủ đề: “Tôi đi tìm điểm tựa”. Diễn đàn nhằm giúp người trẻ tìm ra được điểm tựa của bản thân để khởi đầu cho các khát vọng. Với tinh thần lắng nghe, được lắng nghe và phản biện: “Những vấn đề đưa ra đều mang tính thời sự và gợi nhiều suy nghĩ như: Có nên xây dựng casino ở Việt Nam?; Thực trạng đói nghèo trên thế giới và khái niệm đói nghèo đa chiều…Người trẻ tập làm doanh nhân xuất khẩu cá tra và ô tô trước những biến động khắc nghiệt của thị trường. Sẵn sàng trở thành những người làm chủ đất nước với quyết định hợp lý, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội…từ đó xác định rõ trách nhiệm và vị trí tuổi trẻ hôm nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu dấu của mình…Diễn đàn là cầu nối để các bạn có thể trao đổi, chia sẻ kỹ năng hoạt động cộng đồng. Diễn đàn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ từ các tổ chức, nhà tài trợ, nhà bảo trợ” (Khi người trẻ tìm thấy điểm tựa).

Đến tuổi trưởng thành tung cánh bay xa làm người công dân toàn cầu, cô nhớ như in những kỷ niệm lúc còn nhỏ. Ấy là ngày đầu tiên được ba dắt tay đến Trường Tiểu học Nguyễn Tất Thành để nhận lớp. Lớp 1/2 mà ba ngỡ phòng 12 nên ngồi trong đó chờ, hóa ra là nhầm!. Rồi cô mất tập trung trong giờ học, ăn chậm, mắc tật nói chuyện riêng, giờ ngủ trưa lại “buôn chuyện”, “kiện” cô giáo vì kiểm tra môn Sức khỏe “chỉ có” điểm 8!. Ôi chao ơi, biết bao điều thơ dại của trẻ con gợi nhớ lại đến buồn cười!. Nhờ có cô thủ thư nhà trường mà cô sớm tiếp xúc với những tác phẩm văn học thế giới, vượt qua sự hạn hẹp của sách giáo khoa, như: “Heidi - Cô bé trên núi cao”, “Túp lều bác Tôm”… Lúc nhỏ có người nói cô lớn lên sẽ làm công việc mình mơ ước. Cô Liên, thầy Phiến đã giúp cô nhận ra khả năng viết lách của mình mà gắng sức trau dồi: “Để rồi bẵng đi một thời gian dài thử sức với nhiều điều mới lạ, tôi lại quay về với việc viết lách như thầy cô đã từng tin tưởng”. (Nơi trở về với tôi - trẻ  con của những ngày rất xa). Lúc học cấp Tiểu học,  cô xem học sinh Trường THPT chuyên Lê Qúy Đôn là thần tượng: “Các anh chị ấy là ai, ở đâu đến, sao họ giỏi giang vậy, thông minh vậy, đẳng cấp vậy?”. Cô tự đặt câu hỏi: “Mình có thể vào trường chuyên Lê Qúy Đôn được không, sức vóc mình kham nổi không?”. Cô ước mơ: “Nếu được học trong một ngôi trường danh tiếng nhường ấy, quả là một hạnh phúc vô bờ”. Mơ được, ước thấy. Học xong Trung học cơ sở, cô thi đủ điểm vào cả hai lớp Anh và Văn - Trường THPT chuyên của tỉnh. Thoạt đầu, cô chọn học Văn, sau đó xin chuyển sang lớp Anh. Cô đã trải qua hai lớp mới tìm được đúng niềm đam mê và sở thích của mình trong học tập. Trước khi ra Hà Nội học trường Đại học Ngoại giao, lòng cô trào dâng niềm xúc động: “Ba năm trôi qua, bao kỷ niệm đong đầy dưới mái trường mà tôi rất mực yêu dấu ấy, làm sao bút giấy nào ghi hết được. Xin được cúi đầu tạ ơn những thầy cô suốt bao năm tháng đã dạy dỗ tôi và bạn bè tôi nên người. Xin tri ân Trường THPT chuyên Lê Qúy Đôn - Quảng Trị” (Bên trời mây trắng). Thế kỷ 19 người Pháp đã đưa bánh mì vào Nam Việt Nam. Bánh mì là một loại baguette với lớp vỏ ngoài giòn tan, ruột mềm, bên trong là nhân, như: chả lụa, thịt, cá hoặc thực phẩm chay, kèm theo một số nguyên liệu phụ khác: pa tê, bơ, rau, ớt, trứng và đồ chua. Châu Âu là nơi sản sinh ra các loại bánh làm bằng bột mì, mỗi loại mang cốt cách, hình dáng và sắc màu khác nhau: “Bánh mì fjellbrod của Na Uy rắn và khô, bánh mì focaccia của Ý mặn mòi và đậm hương thảo mộc, bánh mì xoắn bretzel của Đức, bánh mì zsemle của Hunggary nhỏ nhắn đáng yêu, bánh mì pitka của Bulgary cuộn tròn trong ổ. Nếu bạn đến thăm nước Nga, những người thương yêu sẽ đón bạn bằng bánh mì và muối. Mỹ tục này đã trở thành một phần trong lễ tân quan trọng của Liên bang Nga khi đón các nguyên thủ quốc gia. Sự bình đẳng và lòng bác ái khi tự thân bánh mì là dành cho tất cả, từ lão nông dân, anh sinh viên nghèo đến những bậc quý tộc, vua chúa” (Bánh mì tự bạch).

Khép lại 14 bài bút ký, tôi bổng thấy mình như trẻ ra, hiểu biết hơn về những đất nước mà nữ nhà báo Đào Khoa Thư đặt chân đến học tập, giao lưu, trải nghiệm. Và tôi rất khoái món tiêu vùng Cùa nồng nàn, thơm cay Quảng Trị quê cô.

N.X.S

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm