TIN TỨC

Dấu chân thơ – những thiên du ký bằng thơ sâu lắng ngọt ngào

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-12-01 13:20:06
mail facebook google pos stwis
2732 lượt xem

Nhà thơ PHỐ GIANG

Tháng 8/2023, dự sinh hoạt thường kỳ của Hột thơ Nghệ Tĩnh tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, tôi được nhà thơ Trần Kim Dung tặng tập thơ NHỮNG DẤU CHÂN THƠ của chị. Một tập sách trang nhã đầy đặn thật đẹp.

Theo thói quen, tôi mở tập sách đọc lướt vài bài. Lập tức, tập thơ cuốn hút tôi nhưng bởi đang trong cuộc họp nên đành miễn cưỡng gập lại trong sự nuối tiếc. Về nhà, ngay chiều đó tôi liền lấy cuốn sách ra đọc và đọc ngấu nghiến cho đến trang cuối cùng. Thật lôi cuốn và thú vị. Những thiên du ký bằng thơ tuyệt vời. Đọc hết rồi tôi vẫn để tập thơ trên chiếc bàn uống nứơc nơi bộ sanlon, và những ngày tiếp, mỗi khi ngồi vào bộ sanlon lại cầm cuốn sách lên nhấm nháp vài bài.


Các nhà giáo nhà thơ Phố Giang và Trần Kim Dung, hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh.

NHỮNG  DẤU CHÂN THƠ đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng và cảm phục. Thứ nhất, tác giả là người đam mê các danh lam thắng cảnh, đam mê du lịch; thứ hai, chị là người rất giàu cảm xúc, có một trái tim nhạy cảm và rất tài ba trong việc đưa các danh lam thắng cảnh vào thơ. Tập thơ hơn 80 bài, chỉ có vài bài về quê nội, quê ngoại, về trường xưa… còn lại là về các danh lam thắng cảnh trong nước và trên thế giới, những nơi chị đã may mắn được đặt chân tới. Đến đâu chị cũng có thơ và thơ hay. Xuyên suốt tập thơ hơn 80 bài tiếp nối tiếp nhau chỉ trên một đề tài về danh lam thắng cảnh mà đọc không thấy nhàm chán, vẫn lôi cuốn người đọc, kể cả những người đọc khó tính thì quả là điều kỳ diệu và không dễ chút nào. Lần lượt từng bài…từng bài… nếu không có gì mới mẻ, cuốn hút thì người đọc sẽ buông sách ngay. Phải là một tài năng thì mới làm được điều đó. Chúc mừng cô giáo, nữ thi sĩ Trần Kim Dung.

Tác giả có lợi thế là được đến nhiều nơi, được ngắm nhìn chiêm ngưỡng nhiều danh lam thắng cảnh nhưng nếu không giàu cảm xúc, không có trái tim nhạy cảm thì cũng không cảm thụ được những điều mắt thấy tai nghe. Và cảm thụ là một chuyện, còn thể hiện nó thành một áng văn, một bài thơ hay lại là chuyện khác – rất khó và rất ít người làm được lắm. Tôi thực sự ngưỡng mộ tác giả.

Hơn 80 bài thơ tiếp nối tiếp nhau chỉ quanh một đề tài về danh lam thắng cảnh mà độc giả vẫn say mê đọc không thể buông rời tập sách. Thế điều gì đã lôi cuốn độc giả, đã làm cho độc giả say mê đến vậy? Có phải bởi trong những câu thơ, trong cuốn sách có phép thần mê hoặc ta hay có bàn tay của một mụ phù thủy tinh ranh dắt ta từ bài thơ này sang bài thơ khác?... Không! Tất cả đều là do tài năng của tác giả làm nên. Trần Kim Dung đã khéo léo thổi hồn vào các phong cảnh tĩnh lặng, đã khéo đưa các sự kiện lịch sử vào các danh lam, khéo léo nhân cách hoá các vật vô tri làm cho các bài thơ của chị trở nên sống động và thật đáng yêu.

Nhà thơ Trần Dung rất giỏi trong việc thổi hồn vào các tỉnh vật, phong cảnh bởi vậy qua những câu thơ của chị cảnh vật ta gặp là một thực thể sống động, có hồn, tất cả như đang hoạt động, đang diễn ra trước mắt ta. Bằng cách nhân cách hoá các cảnh vật, đọc thơ của chị ta có cảm giác đến đâu cũng được mời gọi cả, từ cảnh vật thiên nhiên cho đến con người. “Đường về căn cứ Mường Phăng/bướm theo ríu rít hương rừng như mơ/đại ngàn râu tóc bạc phơ/ dang tay che nắng đứng chờ từ xa”. Rồi bên rừng hoa ban kiêu sa là con suối duyên dáng đôi bờ đầy hoa mua tíu tít mời gọi: “hoa mua tíu tít mong chờ/ mắt nghiêng tím biếc cả bờ suối xa”. Tiếp tục đi tới, ta lại gặp ngôi nhà sàn mộng mơ đang thả khói lên trời xanh: Nhà ai say ngọn suối thơm/cầu thang chín bậc thả hồn theo mây”. Với VỀ MƯỜNG PHĂNG, một bài thơ ngắn thôi, mà ta được thưởng thức bao cảnh vật, con người trên một thung lũng thật đẹp, thật thơ mộng.

Với YÊN TỬ, cũng là một bài thơ ngắn nhưng chị đã cung cấp cho người đọc bao nét đáng yêu của một ngôi chùa cổ, một di tích lịch sử ngót ngàn năm của đất nước. Chị đã dẫn chúng ta đến “Nơi non cao mây gió bồng bềnh/gặp những “đại lão cây” trăm năm tu tập/ và nhưng am thiền trong trúc lâm xanh”. Chỉ qua mấy câu thơ mở đầu bài thơ chị khéo léo giới thiệu cho ta biết đây là cõi Phật linh thiêng, cỏ cây cũng tu tập. Bằng cách gọi những cây cổ thụ là “đại lão” chị đã ngầm bao với ta rằng ở đây tất cả đều mang tấm lòng tư bi của nhà Phật từ con người đến thiên nhiên. Ở đây “Đạo – Đời ngàn năm trong vắt”, một chốn tu hành đã có từ xa xưa với: những “Đại lão tùng bảy trăm năm nắng gió/râu tóc vẫn xanh, thân đứng thẳng ngóng trời/che mát rượi đường về Tháp Tổ/Với bạt ngàn hoa đại trắng tinh khôi”. Ở đây còn có “Một mái chuà treo trên vách đá/nửa ẩn hang sâu, nửa lợp mây ngàn/suối rì rầm trang kinh người xưa để lại/Mai lão bên thềm thắp sang cả thiền am”. Dưới ngòi bút của nhà thơ Trần Kim Dung Yên tử hiện lên một thắng cảnh, một chốn linh thiêng cổ kinh tuyệt vời.

Với nữ thi sĩ Trần Kim Dung từ con đường hiểm trở, con đèo chon von nơi núi rừng, ghềnh đá lô nhô bên bờ biển cho đến vuông ao trước làng đều là nguồn thơ của chị, và qua thơ chị đều trở thành những bức tranh lung linh hút hồn mọi người. Đâu đâu cũng đẹp, cũng thơ mộng cũng đáng yêu. Con đường lên Bản Dốc thì: “Đèo Mã Phục bay trong sương gọi Khau Liêu, Khau Chỉa/Chú ngựa vua Nùng còn quỳ gối đó sao?/ Đường xoắn ốc leo lên mây trắng/Khi bám đá xanh khi lại xuống vườn đào”(Lên bản Dốc). Đọc mấy câu thơ này gợi cho ta một cảm giác tự hào thích thú khi qua một đoạn đường cheo trên vách núi cao. Với Hồ Ba Bể thì thật ảo huyền thơ mộng: “Ngọc xanh lạc giữa núi đồi/Núi nghiêng tạo dáng, mây trời soi gương/Thuyền ai trên đỉnh mù sương/Mái chèo khua mảnh trăng suông bồng bềnh”(Hồ Ba Bể). Với Ghềnh Đá Đĩa ở Phú Yên chị lại hút hồn độc giả bằng cách tạo dựng một câu chyện cổ tích sinh động: “Tiệc của trời đất đã tan/mà du khách vẫn hân hoan vui vầy/… Tiệc triệu năm đã qua rồi/Chỉ còn lưu niệm cho trời biển xanh/Ai đem xếp đĩa thành ghềnh/Chơi vơi mây gió, dập dềnh sóng xô” (Ghềnh Đá Đĩa). Khi đọc VỀ MIỀN BIÊN ẢI, trước mắt tôi hiện lên một cách sinh động những sáng sớm tinh mơ nơi vùng cao này, các nẻo đường tấp nập ngựa, người, lợn, gà dắt nhau xuống núi, rồi những phiên chợ ngạt ngào hương thắng cố, tiếng khèn dìu dặt mê hoặc lòng người: “Cốc Lếu đêm sương tan/Trâu bò, lợn gà, dắt nhau xuống núi/ Thắng cố Bắc Hà ngào ngạt vùng biên/Chén rượu ngô ngả nghiêng du khách/Thổ cẩm bay lên trong dìu dặt tiếng khèn// Cô gái H’ Mông gùi mây xuống chợ/ Hạt dẻ theo chân cây thuốc đắng, táo Mèo/Chàng trai H’ Mông lên Hàm Rồng “cướp vợ”/Cướp cả duyên trời về ủ men say”. Chỉ trong hai khổ thơ mà tác giả đã dựng lại phiên chợ vùng cao rất đặc sắc, sinh động, từ phong tục tập quán đến cách sống, sinh hoạt của một tộc người.

Với các thắng cảnh là di tích lịch sử, nữ thi sĩ lại khéo léo lồng các dấu tích, các tư liệu lịch sử có liên quan vào bài thơ làm cho bài thơ càng thêm sống động, ta như thấy quá khứ đang hiện về. Đọc THÀNH CỔ LOA ta được gặp lại các nhân vật lịch sử thuở sơ khai dựng nước, huyền thoại về nỏ thần, mối tình và cái kết đẫm lệ của nàng Mỹ Châu cũng như bài học để đời về cảnh giác, về lòng tin mù quáng: “…Giếng ngọc ngàn năm trong vắt/Bóng Mỵ Châu như thấp thoáng chiều chiều/… / Chiếc lông ngổng muôn đời sau còn nhắc/bài học đời còn gởi đến muôn mai”… Đọc VỀ ĐIỆN BIÊN trước mắt ta lại hiện cảnh tấp nập của chiến dịch Điện Biên vĩ đại ngày nào. Ta được gặp “bè mảng bập bềnh, đoàn xe thồ dằng dặc” trên đèo Pha Đin “bay lên trong mây trắng/Dốc quanh co đến tận cổng trời”. Ta cũng được gặp tướng Đơ – Cát cùng đông đảo quân linh Pháp run rẫy dơ tay hang trên đồi Him Lam.

“Theo chị” ra nước ngoài ta được đến “chiếc ủng nức Ý”, đến Rôma tráng lệ “Đâu cũng nhà thờ cổ/Và bao la quảng trường/Đâu cũng đường đá cổ/Tượng đài và tháp chuông/… Đi mãi vẫn chưa dứt / Nơi vòng cung đấu trường…/ Đi mãi vẫn chưa dứt/Trường đua và mái vòm”… Ta được trở về với nước Ý thời trung cổ. “Pháo đài xưa vẫn bền bỉ hành trình/Nghe đâu đây có muôn ngàn vó ngựa/Tiếng giáo khiên của đội quân La Mã/ Khúc kải hoàn trước cổng Thành Rôm. Chị dắt ta về nước Ý của một thời đã xa, rất oanh liệt với biết bao kỳ tích, bao công trình tráng lệ với những Đấu trường La Mã, Tháp nghiêng Pisa,… nơi đây cũng là chỗ du hý phục vụ tần lớp thống trị ăn chơi, nơi diễn ra những cuộc vui trên nước mắt và máu của từng lớp bình dân, của những người nô lệ:

Như đâu đây tiếng mãnh thú gào gầm

Tiếng nô lệ tù binh lao vào trận đấu

Tiếng hoan hỉ hoà trong xương máu

Nơi con đường đến địa ngục trân gian.

(Đấu trường La Mã)

Những cảnh bi thương đến rợn người và bất công uất hận nghẹn lòng.

“Theo bước chân nữ thi sĩ” ta được biết Pari hoa lệ của nước Pháp; đến đỉnh An – Pơ tuyết phủ trắng trời của Thuỷ Sĩ; đến với mùa thu xứ Mặt trời mọc Nhật Bản: “rừng phong rực lửa, đất trời đơm hoa; đến xứ “Chuột túi” với những cánh rừng nguyên thuỷ xa xăm, với “Con Sò” trắng ngắm biển khơi, ôm trong lòng vở Opera và dàn giao hưởng… và biết bao, biết bao xứ sở xa xôi hút hồn ta trên trái đất này. Ở đâu, ở nơi nào cũng đẹp lung linh làm trái tim ta xao xuyến.

Dưới ngòi bút của nữ thi sĩ Trần Kim Dung, ngày đông về trên những thôn làng hẻo lánh vẫn rất thú vị, đáng yêu. Chạm ánh mắt vào đầu đề với hai chữ CHỚM ĐÔNG ta cứ nghĩ sẽ là một cảnh buồn bã, heo hắt, chán chường… nhưng ngược lại toàn bài thơ đều rộn ràng, tươi sáng: Bến sông thì hoa cải nở vàng; trên bãi bồi thì lũ trẻ đá bóng chạy rông reo hò; dọc sông là mía chin tràn bờ, bồng con ngô đứng phất cờ trong sương; vào đến đầu làng thì gặp lung inh hoa súng tím hồ, xôn xao cá đớp như mưa dưới trời; đi tiếp đến giữa làng ta lại gặp vườn ai cam chin đỏ tươi, hoạ my nở trắng đất trời mênh mang… Một cảnh vào đông thật yên bình, thật đẹp trên một làng quê.

NHỮNG DẤU CHÂN THƠ không chỉ hút hồn ta bởi sự lấp lánh của của các danh lam thắng cảnh, mà ta còn tạo được sự hấp dẫn bởi biết bao hình tượng đắt giá và biết bao câu thơ tài hoa khắp các bài thơ trải dài suốt cuốn sách. Tả một ngôi chùa trên đỉnh Yên Tử chị viết: “Đây Một Mái, chùa treo trên vách đá/nửa ẩn hang sâu, nửa lợp mây ngàn”. Chỉ có vẻn vẹn có 14 chữ trong 2 câu thơ mà hiện lên trước ta một ngôi chùa kiến trúc hết sức độc đáo treo cheo leo trên vách đá thấp thoáng trong mây ngàn. Hình tượng “nửa ẩn hang sâu, nửa lợp mây ngàn” thật đắt, thật tuyệt vời. Với đèo Mã Phục thì “Đường xoắn ốc leo lên mây trắng” – Một con đường “leo trên mây trắng”, thì thật là đẹp, thật diệu kỳ và thơ mộng biết bao! Nữ thi sĩ tả ruộng bậc thang quá tuyệt vời, đọc một đoạn thơ của chị về Mù Cang Chải ai mà không khao khát có một ngày được đến đó chiêm ngưỡng: “Mù Cang Chải đằm mình trong sương/lúa bắc thang lên đỉnh trời cao vút/Như vân tay trời ngàn ngăm thuở trước/Những mâm xôi vàng ngát tận trời xanh/với bông bềnh mây trắng dạo quanh”. Ở đây ta không chỉ được chiêm ngưỡng một bức tranh thuỷ mặc tuyệt đẹp mà còn làm cho ta cảm phục sức lao động phi thường của cha ông ta, đồng bào ta ở miền núi đã sản xuất lúa “cả trên đỉnh trời cao vút”, đưa “dưa mâm xôi thơm ngát lên tận trời xanh’. Đọc tiếp, đi theo chị vào các hồ trên núi ta được gặp cảnh “Thuyền ai lướt nhẹ suối êm/mái chèo chạm đỉnh núi chìm dưới sông”; ra bãi biển thì sẽ được phơi phới theo niềm vui của đất trời “Sóng xanh rủ biển bay cao/Thuyền đu ngọn sóng bạc đầu cười vang”.

Trần Kim Dung cũng rất giỏi trong việc “động hoá” các câu thơ làm cho cảnh vật như đang sống trong một không gian, một giai đoạn của lịch sử của đất nước và do đó bài thơ trở nên duyên dáng, sống động. Đến phiên chợ vùng cao thì “Cô gái H’ Mông gùi mây xuống núi/hạt dẻ theo chân cây thuốc đắng, táo mèo” (Về miền biên ải). Để nói lên sự đổi mới, được đô thị hoá ở một vùng đất chị viết: “Mây nghiêng để ngắm nhà cao/Gió nghiêng nghiêng để lọt vào phố đông/Lao xao má thắm môi hồng/Rộn ràng đô thị quầy trong quầy ngoài”. “Mây nghiêng để ngắm nhà cao/Gió nghiêng nghiêng để lọt vào phố đông” – Tác giả giỏi thật sáng tạo khi mô tả một khu phố mới hiện đại mà không bị những khối bê tông thô ráp vô hồn làm mất đi cảnh sắc thơ mộng bằng cách tạo hồn cho mây cho gió. Ta cũng không khỏi nghẹn ngào, rưng rưng nước mắt khi khi đọc đoạn thơ chị viết về cây đa làng hàng trăm tuổi, niềm tự hào của bao thế hệ, nơi gắn kết bao kỷ niệm thiêng liêng của bao người ở một làng quê bỗng dưng bị bức tử bởi sự xâm lấn bổ vây của nhưng kẻ chỉ vì chút quyền lợi riêng bất chấp tất cả: “Gặp đa đứng ở đầu làng/xung quanh lều lán bán hàng bổ vây/Chẳng còn nhìn thấy dáng cây/bạt chen kín gốc, dù vây kín cành”.

Phải nói rằng trải dài suốt tập thơ, nhiều… nhiều lắm những câu thơ tài hoa, những khổ thơ hay nhưng trong một bài viết ngắn ngủi này tôi không thể nào đưa lên hết được. Thật tiếc.


BCN Hội thơ Nghệ Tĩnh tại TPHCM cùng khách mời tặng hoa chúc mừng nhà thơ Trần Kim Dung.


Các nhà thơ cao tuổi chụp ảnh lưu niệm sau buổi ra mắt "Những dấu chân thơ"


Một số hội viên nán lại chụp ảnh lưu niệm cùng tác giả "Những dấu chân thơ" sau buổi sinh hoạt.

Một lần nữa xin được cảm ơn cô giáo, nữ thi sĩ tài hoa Trần Kim Dung đã tặng tôi tập sách, những áng thơ tuyệt vời về danh lam thắng cảnh của nước ta và nhiều nước trên thế giới. Đọc NHỮNG DẤU CHÂN THƠ ta không những được thưởng thức các vẻ đẹp của các danh lam thắng cảnh, mà tác giả còn kích thích trái tim ta thêm yêu quê hương đất nước nồng nàn hơn, tha thiết hơn. Đôi lúc ngồi ngẫm cứ thấy tiêng tiếc, ngoài bát thập rồi, sức cạn gối long rồi nên không thể nào đặt chân đến được bao thắng cảnh tuyệt vời mà nữ thi sĩ mô tả trên các trang thơ để có thể thưởng ngoạn, tận mắt chiêm ngưỡng từng ngôi chùa, từng thung núi, từng ngọn thác, con đèo, từng bãi biển bát ngát trời mây…

TP. Hồ Chí Minh, cuối tháng 11/2023
P.G.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm