TIN TỨC

Dấu chân thơ – những thiên du ký bằng thơ sâu lắng ngọt ngào

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-12-01 13:20:06
mail facebook google pos stwis
2173 lượt xem

Nhà thơ PHỐ GIANG

Tháng 8/2023, dự sinh hoạt thường kỳ của Hột thơ Nghệ Tĩnh tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, tôi được nhà thơ Trần Kim Dung tặng tập thơ NHỮNG DẤU CHÂN THƠ của chị. Một tập sách trang nhã đầy đặn thật đẹp.

Theo thói quen, tôi mở tập sách đọc lướt vài bài. Lập tức, tập thơ cuốn hút tôi nhưng bởi đang trong cuộc họp nên đành miễn cưỡng gập lại trong sự nuối tiếc. Về nhà, ngay chiều đó tôi liền lấy cuốn sách ra đọc và đọc ngấu nghiến cho đến trang cuối cùng. Thật lôi cuốn và thú vị. Những thiên du ký bằng thơ tuyệt vời. Đọc hết rồi tôi vẫn để tập thơ trên chiếc bàn uống nứơc nơi bộ sanlon, và những ngày tiếp, mỗi khi ngồi vào bộ sanlon lại cầm cuốn sách lên nhấm nháp vài bài.


Các nhà giáo nhà thơ Phố Giang và Trần Kim Dung, hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh.

NHỮNG  DẤU CHÂN THƠ đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng và cảm phục. Thứ nhất, tác giả là người đam mê các danh lam thắng cảnh, đam mê du lịch; thứ hai, chị là người rất giàu cảm xúc, có một trái tim nhạy cảm và rất tài ba trong việc đưa các danh lam thắng cảnh vào thơ. Tập thơ hơn 80 bài, chỉ có vài bài về quê nội, quê ngoại, về trường xưa… còn lại là về các danh lam thắng cảnh trong nước và trên thế giới, những nơi chị đã may mắn được đặt chân tới. Đến đâu chị cũng có thơ và thơ hay. Xuyên suốt tập thơ hơn 80 bài tiếp nối tiếp nhau chỉ trên một đề tài về danh lam thắng cảnh mà đọc không thấy nhàm chán, vẫn lôi cuốn người đọc, kể cả những người đọc khó tính thì quả là điều kỳ diệu và không dễ chút nào. Lần lượt từng bài…từng bài… nếu không có gì mới mẻ, cuốn hút thì người đọc sẽ buông sách ngay. Phải là một tài năng thì mới làm được điều đó. Chúc mừng cô giáo, nữ thi sĩ Trần Kim Dung.

Tác giả có lợi thế là được đến nhiều nơi, được ngắm nhìn chiêm ngưỡng nhiều danh lam thắng cảnh nhưng nếu không giàu cảm xúc, không có trái tim nhạy cảm thì cũng không cảm thụ được những điều mắt thấy tai nghe. Và cảm thụ là một chuyện, còn thể hiện nó thành một áng văn, một bài thơ hay lại là chuyện khác – rất khó và rất ít người làm được lắm. Tôi thực sự ngưỡng mộ tác giả.

Hơn 80 bài thơ tiếp nối tiếp nhau chỉ quanh một đề tài về danh lam thắng cảnh mà độc giả vẫn say mê đọc không thể buông rời tập sách. Thế điều gì đã lôi cuốn độc giả, đã làm cho độc giả say mê đến vậy? Có phải bởi trong những câu thơ, trong cuốn sách có phép thần mê hoặc ta hay có bàn tay của một mụ phù thủy tinh ranh dắt ta từ bài thơ này sang bài thơ khác?... Không! Tất cả đều là do tài năng của tác giả làm nên. Trần Kim Dung đã khéo léo thổi hồn vào các phong cảnh tĩnh lặng, đã khéo đưa các sự kiện lịch sử vào các danh lam, khéo léo nhân cách hoá các vật vô tri làm cho các bài thơ của chị trở nên sống động và thật đáng yêu.

Nhà thơ Trần Dung rất giỏi trong việc thổi hồn vào các tỉnh vật, phong cảnh bởi vậy qua những câu thơ của chị cảnh vật ta gặp là một thực thể sống động, có hồn, tất cả như đang hoạt động, đang diễn ra trước mắt ta. Bằng cách nhân cách hoá các cảnh vật, đọc thơ của chị ta có cảm giác đến đâu cũng được mời gọi cả, từ cảnh vật thiên nhiên cho đến con người. “Đường về căn cứ Mường Phăng/bướm theo ríu rít hương rừng như mơ/đại ngàn râu tóc bạc phơ/ dang tay che nắng đứng chờ từ xa”. Rồi bên rừng hoa ban kiêu sa là con suối duyên dáng đôi bờ đầy hoa mua tíu tít mời gọi: “hoa mua tíu tít mong chờ/ mắt nghiêng tím biếc cả bờ suối xa”. Tiếp tục đi tới, ta lại gặp ngôi nhà sàn mộng mơ đang thả khói lên trời xanh: Nhà ai say ngọn suối thơm/cầu thang chín bậc thả hồn theo mây”. Với VỀ MƯỜNG PHĂNG, một bài thơ ngắn thôi, mà ta được thưởng thức bao cảnh vật, con người trên một thung lũng thật đẹp, thật thơ mộng.

Với YÊN TỬ, cũng là một bài thơ ngắn nhưng chị đã cung cấp cho người đọc bao nét đáng yêu của một ngôi chùa cổ, một di tích lịch sử ngót ngàn năm của đất nước. Chị đã dẫn chúng ta đến “Nơi non cao mây gió bồng bềnh/gặp những “đại lão cây” trăm năm tu tập/ và nhưng am thiền trong trúc lâm xanh”. Chỉ qua mấy câu thơ mở đầu bài thơ chị khéo léo giới thiệu cho ta biết đây là cõi Phật linh thiêng, cỏ cây cũng tu tập. Bằng cách gọi những cây cổ thụ là “đại lão” chị đã ngầm bao với ta rằng ở đây tất cả đều mang tấm lòng tư bi của nhà Phật từ con người đến thiên nhiên. Ở đây “Đạo – Đời ngàn năm trong vắt”, một chốn tu hành đã có từ xa xưa với: những “Đại lão tùng bảy trăm năm nắng gió/râu tóc vẫn xanh, thân đứng thẳng ngóng trời/che mát rượi đường về Tháp Tổ/Với bạt ngàn hoa đại trắng tinh khôi”. Ở đây còn có “Một mái chuà treo trên vách đá/nửa ẩn hang sâu, nửa lợp mây ngàn/suối rì rầm trang kinh người xưa để lại/Mai lão bên thềm thắp sang cả thiền am”. Dưới ngòi bút của nhà thơ Trần Kim Dung Yên tử hiện lên một thắng cảnh, một chốn linh thiêng cổ kinh tuyệt vời.

Với nữ thi sĩ Trần Kim Dung từ con đường hiểm trở, con đèo chon von nơi núi rừng, ghềnh đá lô nhô bên bờ biển cho đến vuông ao trước làng đều là nguồn thơ của chị, và qua thơ chị đều trở thành những bức tranh lung linh hút hồn mọi người. Đâu đâu cũng đẹp, cũng thơ mộng cũng đáng yêu. Con đường lên Bản Dốc thì: “Đèo Mã Phục bay trong sương gọi Khau Liêu, Khau Chỉa/Chú ngựa vua Nùng còn quỳ gối đó sao?/ Đường xoắn ốc leo lên mây trắng/Khi bám đá xanh khi lại xuống vườn đào”(Lên bản Dốc). Đọc mấy câu thơ này gợi cho ta một cảm giác tự hào thích thú khi qua một đoạn đường cheo trên vách núi cao. Với Hồ Ba Bể thì thật ảo huyền thơ mộng: “Ngọc xanh lạc giữa núi đồi/Núi nghiêng tạo dáng, mây trời soi gương/Thuyền ai trên đỉnh mù sương/Mái chèo khua mảnh trăng suông bồng bềnh”(Hồ Ba Bể). Với Ghềnh Đá Đĩa ở Phú Yên chị lại hút hồn độc giả bằng cách tạo dựng một câu chyện cổ tích sinh động: “Tiệc của trời đất đã tan/mà du khách vẫn hân hoan vui vầy/… Tiệc triệu năm đã qua rồi/Chỉ còn lưu niệm cho trời biển xanh/Ai đem xếp đĩa thành ghềnh/Chơi vơi mây gió, dập dềnh sóng xô” (Ghềnh Đá Đĩa). Khi đọc VỀ MIỀN BIÊN ẢI, trước mắt tôi hiện lên một cách sinh động những sáng sớm tinh mơ nơi vùng cao này, các nẻo đường tấp nập ngựa, người, lợn, gà dắt nhau xuống núi, rồi những phiên chợ ngạt ngào hương thắng cố, tiếng khèn dìu dặt mê hoặc lòng người: “Cốc Lếu đêm sương tan/Trâu bò, lợn gà, dắt nhau xuống núi/ Thắng cố Bắc Hà ngào ngạt vùng biên/Chén rượu ngô ngả nghiêng du khách/Thổ cẩm bay lên trong dìu dặt tiếng khèn// Cô gái H’ Mông gùi mây xuống chợ/ Hạt dẻ theo chân cây thuốc đắng, táo Mèo/Chàng trai H’ Mông lên Hàm Rồng “cướp vợ”/Cướp cả duyên trời về ủ men say”. Chỉ trong hai khổ thơ mà tác giả đã dựng lại phiên chợ vùng cao rất đặc sắc, sinh động, từ phong tục tập quán đến cách sống, sinh hoạt của một tộc người.

Với các thắng cảnh là di tích lịch sử, nữ thi sĩ lại khéo léo lồng các dấu tích, các tư liệu lịch sử có liên quan vào bài thơ làm cho bài thơ càng thêm sống động, ta như thấy quá khứ đang hiện về. Đọc THÀNH CỔ LOA ta được gặp lại các nhân vật lịch sử thuở sơ khai dựng nước, huyền thoại về nỏ thần, mối tình và cái kết đẫm lệ của nàng Mỹ Châu cũng như bài học để đời về cảnh giác, về lòng tin mù quáng: “…Giếng ngọc ngàn năm trong vắt/Bóng Mỵ Châu như thấp thoáng chiều chiều/… / Chiếc lông ngổng muôn đời sau còn nhắc/bài học đời còn gởi đến muôn mai”… Đọc VỀ ĐIỆN BIÊN trước mắt ta lại hiện cảnh tấp nập của chiến dịch Điện Biên vĩ đại ngày nào. Ta được gặp “bè mảng bập bềnh, đoàn xe thồ dằng dặc” trên đèo Pha Đin “bay lên trong mây trắng/Dốc quanh co đến tận cổng trời”. Ta cũng được gặp tướng Đơ – Cát cùng đông đảo quân linh Pháp run rẫy dơ tay hang trên đồi Him Lam.

“Theo chị” ra nước ngoài ta được đến “chiếc ủng nức Ý”, đến Rôma tráng lệ “Đâu cũng nhà thờ cổ/Và bao la quảng trường/Đâu cũng đường đá cổ/Tượng đài và tháp chuông/… Đi mãi vẫn chưa dứt / Nơi vòng cung đấu trường…/ Đi mãi vẫn chưa dứt/Trường đua và mái vòm”… Ta được trở về với nước Ý thời trung cổ. “Pháo đài xưa vẫn bền bỉ hành trình/Nghe đâu đây có muôn ngàn vó ngựa/Tiếng giáo khiên của đội quân La Mã/ Khúc kải hoàn trước cổng Thành Rôm. Chị dắt ta về nước Ý của một thời đã xa, rất oanh liệt với biết bao kỳ tích, bao công trình tráng lệ với những Đấu trường La Mã, Tháp nghiêng Pisa,… nơi đây cũng là chỗ du hý phục vụ tần lớp thống trị ăn chơi, nơi diễn ra những cuộc vui trên nước mắt và máu của từng lớp bình dân, của những người nô lệ:

Như đâu đây tiếng mãnh thú gào gầm

Tiếng nô lệ tù binh lao vào trận đấu

Tiếng hoan hỉ hoà trong xương máu

Nơi con đường đến địa ngục trân gian.

(Đấu trường La Mã)

Những cảnh bi thương đến rợn người và bất công uất hận nghẹn lòng.

“Theo bước chân nữ thi sĩ” ta được biết Pari hoa lệ của nước Pháp; đến đỉnh An – Pơ tuyết phủ trắng trời của Thuỷ Sĩ; đến với mùa thu xứ Mặt trời mọc Nhật Bản: “rừng phong rực lửa, đất trời đơm hoa; đến xứ “Chuột túi” với những cánh rừng nguyên thuỷ xa xăm, với “Con Sò” trắng ngắm biển khơi, ôm trong lòng vở Opera và dàn giao hưởng… và biết bao, biết bao xứ sở xa xôi hút hồn ta trên trái đất này. Ở đâu, ở nơi nào cũng đẹp lung linh làm trái tim ta xao xuyến.

Dưới ngòi bút của nữ thi sĩ Trần Kim Dung, ngày đông về trên những thôn làng hẻo lánh vẫn rất thú vị, đáng yêu. Chạm ánh mắt vào đầu đề với hai chữ CHỚM ĐÔNG ta cứ nghĩ sẽ là một cảnh buồn bã, heo hắt, chán chường… nhưng ngược lại toàn bài thơ đều rộn ràng, tươi sáng: Bến sông thì hoa cải nở vàng; trên bãi bồi thì lũ trẻ đá bóng chạy rông reo hò; dọc sông là mía chin tràn bờ, bồng con ngô đứng phất cờ trong sương; vào đến đầu làng thì gặp lung inh hoa súng tím hồ, xôn xao cá đớp như mưa dưới trời; đi tiếp đến giữa làng ta lại gặp vườn ai cam chin đỏ tươi, hoạ my nở trắng đất trời mênh mang… Một cảnh vào đông thật yên bình, thật đẹp trên một làng quê.

NHỮNG DẤU CHÂN THƠ không chỉ hút hồn ta bởi sự lấp lánh của của các danh lam thắng cảnh, mà ta còn tạo được sự hấp dẫn bởi biết bao hình tượng đắt giá và biết bao câu thơ tài hoa khắp các bài thơ trải dài suốt cuốn sách. Tả một ngôi chùa trên đỉnh Yên Tử chị viết: “Đây Một Mái, chùa treo trên vách đá/nửa ẩn hang sâu, nửa lợp mây ngàn”. Chỉ có vẻn vẹn có 14 chữ trong 2 câu thơ mà hiện lên trước ta một ngôi chùa kiến trúc hết sức độc đáo treo cheo leo trên vách đá thấp thoáng trong mây ngàn. Hình tượng “nửa ẩn hang sâu, nửa lợp mây ngàn” thật đắt, thật tuyệt vời. Với đèo Mã Phục thì “Đường xoắn ốc leo lên mây trắng” – Một con đường “leo trên mây trắng”, thì thật là đẹp, thật diệu kỳ và thơ mộng biết bao! Nữ thi sĩ tả ruộng bậc thang quá tuyệt vời, đọc một đoạn thơ của chị về Mù Cang Chải ai mà không khao khát có một ngày được đến đó chiêm ngưỡng: “Mù Cang Chải đằm mình trong sương/lúa bắc thang lên đỉnh trời cao vút/Như vân tay trời ngàn ngăm thuở trước/Những mâm xôi vàng ngát tận trời xanh/với bông bềnh mây trắng dạo quanh”. Ở đây ta không chỉ được chiêm ngưỡng một bức tranh thuỷ mặc tuyệt đẹp mà còn làm cho ta cảm phục sức lao động phi thường của cha ông ta, đồng bào ta ở miền núi đã sản xuất lúa “cả trên đỉnh trời cao vút”, đưa “dưa mâm xôi thơm ngát lên tận trời xanh’. Đọc tiếp, đi theo chị vào các hồ trên núi ta được gặp cảnh “Thuyền ai lướt nhẹ suối êm/mái chèo chạm đỉnh núi chìm dưới sông”; ra bãi biển thì sẽ được phơi phới theo niềm vui của đất trời “Sóng xanh rủ biển bay cao/Thuyền đu ngọn sóng bạc đầu cười vang”.

Trần Kim Dung cũng rất giỏi trong việc “động hoá” các câu thơ làm cho cảnh vật như đang sống trong một không gian, một giai đoạn của lịch sử của đất nước và do đó bài thơ trở nên duyên dáng, sống động. Đến phiên chợ vùng cao thì “Cô gái H’ Mông gùi mây xuống núi/hạt dẻ theo chân cây thuốc đắng, táo mèo” (Về miền biên ải). Để nói lên sự đổi mới, được đô thị hoá ở một vùng đất chị viết: “Mây nghiêng để ngắm nhà cao/Gió nghiêng nghiêng để lọt vào phố đông/Lao xao má thắm môi hồng/Rộn ràng đô thị quầy trong quầy ngoài”. “Mây nghiêng để ngắm nhà cao/Gió nghiêng nghiêng để lọt vào phố đông” – Tác giả giỏi thật sáng tạo khi mô tả một khu phố mới hiện đại mà không bị những khối bê tông thô ráp vô hồn làm mất đi cảnh sắc thơ mộng bằng cách tạo hồn cho mây cho gió. Ta cũng không khỏi nghẹn ngào, rưng rưng nước mắt khi khi đọc đoạn thơ chị viết về cây đa làng hàng trăm tuổi, niềm tự hào của bao thế hệ, nơi gắn kết bao kỷ niệm thiêng liêng của bao người ở một làng quê bỗng dưng bị bức tử bởi sự xâm lấn bổ vây của nhưng kẻ chỉ vì chút quyền lợi riêng bất chấp tất cả: “Gặp đa đứng ở đầu làng/xung quanh lều lán bán hàng bổ vây/Chẳng còn nhìn thấy dáng cây/bạt chen kín gốc, dù vây kín cành”.

Phải nói rằng trải dài suốt tập thơ, nhiều… nhiều lắm những câu thơ tài hoa, những khổ thơ hay nhưng trong một bài viết ngắn ngủi này tôi không thể nào đưa lên hết được. Thật tiếc.


BCN Hội thơ Nghệ Tĩnh tại TPHCM cùng khách mời tặng hoa chúc mừng nhà thơ Trần Kim Dung.


Các nhà thơ cao tuổi chụp ảnh lưu niệm sau buổi ra mắt "Những dấu chân thơ"


Một số hội viên nán lại chụp ảnh lưu niệm cùng tác giả "Những dấu chân thơ" sau buổi sinh hoạt.

Một lần nữa xin được cảm ơn cô giáo, nữ thi sĩ tài hoa Trần Kim Dung đã tặng tôi tập sách, những áng thơ tuyệt vời về danh lam thắng cảnh của nước ta và nhiều nước trên thế giới. Đọc NHỮNG DẤU CHÂN THƠ ta không những được thưởng thức các vẻ đẹp của các danh lam thắng cảnh, mà tác giả còn kích thích trái tim ta thêm yêu quê hương đất nước nồng nàn hơn, tha thiết hơn. Đôi lúc ngồi ngẫm cứ thấy tiêng tiếc, ngoài bát thập rồi, sức cạn gối long rồi nên không thể nào đặt chân đến được bao thắng cảnh tuyệt vời mà nữ thi sĩ mô tả trên các trang thơ để có thể thưởng ngoạn, tận mắt chiêm ngưỡng từng ngôi chùa, từng thung núi, từng ngọn thác, con đèo, từng bãi biển bát ngát trời mây…

TP. Hồ Chí Minh, cuối tháng 11/2023
P.G.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm