TIN TỨC

Dấu chân thơ – những thiên du ký bằng thơ sâu lắng ngọt ngào

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-12-01 13:20:06
mail facebook google pos stwis
1922 lượt xem

Nhà thơ PHỐ GIANG

Tháng 8/2023, dự sinh hoạt thường kỳ của Hột thơ Nghệ Tĩnh tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, tôi được nhà thơ Trần Kim Dung tặng tập thơ NHỮNG DẤU CHÂN THƠ của chị. Một tập sách trang nhã đầy đặn thật đẹp.

Theo thói quen, tôi mở tập sách đọc lướt vài bài. Lập tức, tập thơ cuốn hút tôi nhưng bởi đang trong cuộc họp nên đành miễn cưỡng gập lại trong sự nuối tiếc. Về nhà, ngay chiều đó tôi liền lấy cuốn sách ra đọc và đọc ngấu nghiến cho đến trang cuối cùng. Thật lôi cuốn và thú vị. Những thiên du ký bằng thơ tuyệt vời. Đọc hết rồi tôi vẫn để tập thơ trên chiếc bàn uống nứơc nơi bộ sanlon, và những ngày tiếp, mỗi khi ngồi vào bộ sanlon lại cầm cuốn sách lên nhấm nháp vài bài.


Các nhà giáo nhà thơ Phố Giang và Trần Kim Dung, hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh.

NHỮNG  DẤU CHÂN THƠ đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng và cảm phục. Thứ nhất, tác giả là người đam mê các danh lam thắng cảnh, đam mê du lịch; thứ hai, chị là người rất giàu cảm xúc, có một trái tim nhạy cảm và rất tài ba trong việc đưa các danh lam thắng cảnh vào thơ. Tập thơ hơn 80 bài, chỉ có vài bài về quê nội, quê ngoại, về trường xưa… còn lại là về các danh lam thắng cảnh trong nước và trên thế giới, những nơi chị đã may mắn được đặt chân tới. Đến đâu chị cũng có thơ và thơ hay. Xuyên suốt tập thơ hơn 80 bài tiếp nối tiếp nhau chỉ trên một đề tài về danh lam thắng cảnh mà đọc không thấy nhàm chán, vẫn lôi cuốn người đọc, kể cả những người đọc khó tính thì quả là điều kỳ diệu và không dễ chút nào. Lần lượt từng bài…từng bài… nếu không có gì mới mẻ, cuốn hút thì người đọc sẽ buông sách ngay. Phải là một tài năng thì mới làm được điều đó. Chúc mừng cô giáo, nữ thi sĩ Trần Kim Dung.

Tác giả có lợi thế là được đến nhiều nơi, được ngắm nhìn chiêm ngưỡng nhiều danh lam thắng cảnh nhưng nếu không giàu cảm xúc, không có trái tim nhạy cảm thì cũng không cảm thụ được những điều mắt thấy tai nghe. Và cảm thụ là một chuyện, còn thể hiện nó thành một áng văn, một bài thơ hay lại là chuyện khác – rất khó và rất ít người làm được lắm. Tôi thực sự ngưỡng mộ tác giả.

Hơn 80 bài thơ tiếp nối tiếp nhau chỉ quanh một đề tài về danh lam thắng cảnh mà độc giả vẫn say mê đọc không thể buông rời tập sách. Thế điều gì đã lôi cuốn độc giả, đã làm cho độc giả say mê đến vậy? Có phải bởi trong những câu thơ, trong cuốn sách có phép thần mê hoặc ta hay có bàn tay của một mụ phù thủy tinh ranh dắt ta từ bài thơ này sang bài thơ khác?... Không! Tất cả đều là do tài năng của tác giả làm nên. Trần Kim Dung đã khéo léo thổi hồn vào các phong cảnh tĩnh lặng, đã khéo đưa các sự kiện lịch sử vào các danh lam, khéo léo nhân cách hoá các vật vô tri làm cho các bài thơ của chị trở nên sống động và thật đáng yêu.

Nhà thơ Trần Dung rất giỏi trong việc thổi hồn vào các tỉnh vật, phong cảnh bởi vậy qua những câu thơ của chị cảnh vật ta gặp là một thực thể sống động, có hồn, tất cả như đang hoạt động, đang diễn ra trước mắt ta. Bằng cách nhân cách hoá các cảnh vật, đọc thơ của chị ta có cảm giác đến đâu cũng được mời gọi cả, từ cảnh vật thiên nhiên cho đến con người. “Đường về căn cứ Mường Phăng/bướm theo ríu rít hương rừng như mơ/đại ngàn râu tóc bạc phơ/ dang tay che nắng đứng chờ từ xa”. Rồi bên rừng hoa ban kiêu sa là con suối duyên dáng đôi bờ đầy hoa mua tíu tít mời gọi: “hoa mua tíu tít mong chờ/ mắt nghiêng tím biếc cả bờ suối xa”. Tiếp tục đi tới, ta lại gặp ngôi nhà sàn mộng mơ đang thả khói lên trời xanh: Nhà ai say ngọn suối thơm/cầu thang chín bậc thả hồn theo mây”. Với VỀ MƯỜNG PHĂNG, một bài thơ ngắn thôi, mà ta được thưởng thức bao cảnh vật, con người trên một thung lũng thật đẹp, thật thơ mộng.

Với YÊN TỬ, cũng là một bài thơ ngắn nhưng chị đã cung cấp cho người đọc bao nét đáng yêu của một ngôi chùa cổ, một di tích lịch sử ngót ngàn năm của đất nước. Chị đã dẫn chúng ta đến “Nơi non cao mây gió bồng bềnh/gặp những “đại lão cây” trăm năm tu tập/ và nhưng am thiền trong trúc lâm xanh”. Chỉ qua mấy câu thơ mở đầu bài thơ chị khéo léo giới thiệu cho ta biết đây là cõi Phật linh thiêng, cỏ cây cũng tu tập. Bằng cách gọi những cây cổ thụ là “đại lão” chị đã ngầm bao với ta rằng ở đây tất cả đều mang tấm lòng tư bi của nhà Phật từ con người đến thiên nhiên. Ở đây “Đạo – Đời ngàn năm trong vắt”, một chốn tu hành đã có từ xa xưa với: những “Đại lão tùng bảy trăm năm nắng gió/râu tóc vẫn xanh, thân đứng thẳng ngóng trời/che mát rượi đường về Tháp Tổ/Với bạt ngàn hoa đại trắng tinh khôi”. Ở đây còn có “Một mái chuà treo trên vách đá/nửa ẩn hang sâu, nửa lợp mây ngàn/suối rì rầm trang kinh người xưa để lại/Mai lão bên thềm thắp sang cả thiền am”. Dưới ngòi bút của nhà thơ Trần Kim Dung Yên tử hiện lên một thắng cảnh, một chốn linh thiêng cổ kinh tuyệt vời.

Với nữ thi sĩ Trần Kim Dung từ con đường hiểm trở, con đèo chon von nơi núi rừng, ghềnh đá lô nhô bên bờ biển cho đến vuông ao trước làng đều là nguồn thơ của chị, và qua thơ chị đều trở thành những bức tranh lung linh hút hồn mọi người. Đâu đâu cũng đẹp, cũng thơ mộng cũng đáng yêu. Con đường lên Bản Dốc thì: “Đèo Mã Phục bay trong sương gọi Khau Liêu, Khau Chỉa/Chú ngựa vua Nùng còn quỳ gối đó sao?/ Đường xoắn ốc leo lên mây trắng/Khi bám đá xanh khi lại xuống vườn đào”(Lên bản Dốc). Đọc mấy câu thơ này gợi cho ta một cảm giác tự hào thích thú khi qua một đoạn đường cheo trên vách núi cao. Với Hồ Ba Bể thì thật ảo huyền thơ mộng: “Ngọc xanh lạc giữa núi đồi/Núi nghiêng tạo dáng, mây trời soi gương/Thuyền ai trên đỉnh mù sương/Mái chèo khua mảnh trăng suông bồng bềnh”(Hồ Ba Bể). Với Ghềnh Đá Đĩa ở Phú Yên chị lại hút hồn độc giả bằng cách tạo dựng một câu chyện cổ tích sinh động: “Tiệc của trời đất đã tan/mà du khách vẫn hân hoan vui vầy/… Tiệc triệu năm đã qua rồi/Chỉ còn lưu niệm cho trời biển xanh/Ai đem xếp đĩa thành ghềnh/Chơi vơi mây gió, dập dềnh sóng xô” (Ghềnh Đá Đĩa). Khi đọc VỀ MIỀN BIÊN ẢI, trước mắt tôi hiện lên một cách sinh động những sáng sớm tinh mơ nơi vùng cao này, các nẻo đường tấp nập ngựa, người, lợn, gà dắt nhau xuống núi, rồi những phiên chợ ngạt ngào hương thắng cố, tiếng khèn dìu dặt mê hoặc lòng người: “Cốc Lếu đêm sương tan/Trâu bò, lợn gà, dắt nhau xuống núi/ Thắng cố Bắc Hà ngào ngạt vùng biên/Chén rượu ngô ngả nghiêng du khách/Thổ cẩm bay lên trong dìu dặt tiếng khèn// Cô gái H’ Mông gùi mây xuống chợ/ Hạt dẻ theo chân cây thuốc đắng, táo Mèo/Chàng trai H’ Mông lên Hàm Rồng “cướp vợ”/Cướp cả duyên trời về ủ men say”. Chỉ trong hai khổ thơ mà tác giả đã dựng lại phiên chợ vùng cao rất đặc sắc, sinh động, từ phong tục tập quán đến cách sống, sinh hoạt của một tộc người.

Với các thắng cảnh là di tích lịch sử, nữ thi sĩ lại khéo léo lồng các dấu tích, các tư liệu lịch sử có liên quan vào bài thơ làm cho bài thơ càng thêm sống động, ta như thấy quá khứ đang hiện về. Đọc THÀNH CỔ LOA ta được gặp lại các nhân vật lịch sử thuở sơ khai dựng nước, huyền thoại về nỏ thần, mối tình và cái kết đẫm lệ của nàng Mỹ Châu cũng như bài học để đời về cảnh giác, về lòng tin mù quáng: “…Giếng ngọc ngàn năm trong vắt/Bóng Mỵ Châu như thấp thoáng chiều chiều/… / Chiếc lông ngổng muôn đời sau còn nhắc/bài học đời còn gởi đến muôn mai”… Đọc VỀ ĐIỆN BIÊN trước mắt ta lại hiện cảnh tấp nập của chiến dịch Điện Biên vĩ đại ngày nào. Ta được gặp “bè mảng bập bềnh, đoàn xe thồ dằng dặc” trên đèo Pha Đin “bay lên trong mây trắng/Dốc quanh co đến tận cổng trời”. Ta cũng được gặp tướng Đơ – Cát cùng đông đảo quân linh Pháp run rẫy dơ tay hang trên đồi Him Lam.

“Theo chị” ra nước ngoài ta được đến “chiếc ủng nức Ý”, đến Rôma tráng lệ “Đâu cũng nhà thờ cổ/Và bao la quảng trường/Đâu cũng đường đá cổ/Tượng đài và tháp chuông/… Đi mãi vẫn chưa dứt / Nơi vòng cung đấu trường…/ Đi mãi vẫn chưa dứt/Trường đua và mái vòm”… Ta được trở về với nước Ý thời trung cổ. “Pháo đài xưa vẫn bền bỉ hành trình/Nghe đâu đây có muôn ngàn vó ngựa/Tiếng giáo khiên của đội quân La Mã/ Khúc kải hoàn trước cổng Thành Rôm. Chị dắt ta về nước Ý của một thời đã xa, rất oanh liệt với biết bao kỳ tích, bao công trình tráng lệ với những Đấu trường La Mã, Tháp nghiêng Pisa,… nơi đây cũng là chỗ du hý phục vụ tần lớp thống trị ăn chơi, nơi diễn ra những cuộc vui trên nước mắt và máu của từng lớp bình dân, của những người nô lệ:

Như đâu đây tiếng mãnh thú gào gầm

Tiếng nô lệ tù binh lao vào trận đấu

Tiếng hoan hỉ hoà trong xương máu

Nơi con đường đến địa ngục trân gian.

(Đấu trường La Mã)

Những cảnh bi thương đến rợn người và bất công uất hận nghẹn lòng.

“Theo bước chân nữ thi sĩ” ta được biết Pari hoa lệ của nước Pháp; đến đỉnh An – Pơ tuyết phủ trắng trời của Thuỷ Sĩ; đến với mùa thu xứ Mặt trời mọc Nhật Bản: “rừng phong rực lửa, đất trời đơm hoa; đến xứ “Chuột túi” với những cánh rừng nguyên thuỷ xa xăm, với “Con Sò” trắng ngắm biển khơi, ôm trong lòng vở Opera và dàn giao hưởng… và biết bao, biết bao xứ sở xa xôi hút hồn ta trên trái đất này. Ở đâu, ở nơi nào cũng đẹp lung linh làm trái tim ta xao xuyến.

Dưới ngòi bút của nữ thi sĩ Trần Kim Dung, ngày đông về trên những thôn làng hẻo lánh vẫn rất thú vị, đáng yêu. Chạm ánh mắt vào đầu đề với hai chữ CHỚM ĐÔNG ta cứ nghĩ sẽ là một cảnh buồn bã, heo hắt, chán chường… nhưng ngược lại toàn bài thơ đều rộn ràng, tươi sáng: Bến sông thì hoa cải nở vàng; trên bãi bồi thì lũ trẻ đá bóng chạy rông reo hò; dọc sông là mía chin tràn bờ, bồng con ngô đứng phất cờ trong sương; vào đến đầu làng thì gặp lung inh hoa súng tím hồ, xôn xao cá đớp như mưa dưới trời; đi tiếp đến giữa làng ta lại gặp vườn ai cam chin đỏ tươi, hoạ my nở trắng đất trời mênh mang… Một cảnh vào đông thật yên bình, thật đẹp trên một làng quê.

NHỮNG DẤU CHÂN THƠ không chỉ hút hồn ta bởi sự lấp lánh của của các danh lam thắng cảnh, mà ta còn tạo được sự hấp dẫn bởi biết bao hình tượng đắt giá và biết bao câu thơ tài hoa khắp các bài thơ trải dài suốt cuốn sách. Tả một ngôi chùa trên đỉnh Yên Tử chị viết: “Đây Một Mái, chùa treo trên vách đá/nửa ẩn hang sâu, nửa lợp mây ngàn”. Chỉ có vẻn vẹn có 14 chữ trong 2 câu thơ mà hiện lên trước ta một ngôi chùa kiến trúc hết sức độc đáo treo cheo leo trên vách đá thấp thoáng trong mây ngàn. Hình tượng “nửa ẩn hang sâu, nửa lợp mây ngàn” thật đắt, thật tuyệt vời. Với đèo Mã Phục thì “Đường xoắn ốc leo lên mây trắng” – Một con đường “leo trên mây trắng”, thì thật là đẹp, thật diệu kỳ và thơ mộng biết bao! Nữ thi sĩ tả ruộng bậc thang quá tuyệt vời, đọc một đoạn thơ của chị về Mù Cang Chải ai mà không khao khát có một ngày được đến đó chiêm ngưỡng: “Mù Cang Chải đằm mình trong sương/lúa bắc thang lên đỉnh trời cao vút/Như vân tay trời ngàn ngăm thuở trước/Những mâm xôi vàng ngát tận trời xanh/với bông bềnh mây trắng dạo quanh”. Ở đây ta không chỉ được chiêm ngưỡng một bức tranh thuỷ mặc tuyệt đẹp mà còn làm cho ta cảm phục sức lao động phi thường của cha ông ta, đồng bào ta ở miền núi đã sản xuất lúa “cả trên đỉnh trời cao vút”, đưa “dưa mâm xôi thơm ngát lên tận trời xanh’. Đọc tiếp, đi theo chị vào các hồ trên núi ta được gặp cảnh “Thuyền ai lướt nhẹ suối êm/mái chèo chạm đỉnh núi chìm dưới sông”; ra bãi biển thì sẽ được phơi phới theo niềm vui của đất trời “Sóng xanh rủ biển bay cao/Thuyền đu ngọn sóng bạc đầu cười vang”.

Trần Kim Dung cũng rất giỏi trong việc “động hoá” các câu thơ làm cho cảnh vật như đang sống trong một không gian, một giai đoạn của lịch sử của đất nước và do đó bài thơ trở nên duyên dáng, sống động. Đến phiên chợ vùng cao thì “Cô gái H’ Mông gùi mây xuống núi/hạt dẻ theo chân cây thuốc đắng, táo mèo” (Về miền biên ải). Để nói lên sự đổi mới, được đô thị hoá ở một vùng đất chị viết: “Mây nghiêng để ngắm nhà cao/Gió nghiêng nghiêng để lọt vào phố đông/Lao xao má thắm môi hồng/Rộn ràng đô thị quầy trong quầy ngoài”. “Mây nghiêng để ngắm nhà cao/Gió nghiêng nghiêng để lọt vào phố đông” – Tác giả giỏi thật sáng tạo khi mô tả một khu phố mới hiện đại mà không bị những khối bê tông thô ráp vô hồn làm mất đi cảnh sắc thơ mộng bằng cách tạo hồn cho mây cho gió. Ta cũng không khỏi nghẹn ngào, rưng rưng nước mắt khi khi đọc đoạn thơ chị viết về cây đa làng hàng trăm tuổi, niềm tự hào của bao thế hệ, nơi gắn kết bao kỷ niệm thiêng liêng của bao người ở một làng quê bỗng dưng bị bức tử bởi sự xâm lấn bổ vây của nhưng kẻ chỉ vì chút quyền lợi riêng bất chấp tất cả: “Gặp đa đứng ở đầu làng/xung quanh lều lán bán hàng bổ vây/Chẳng còn nhìn thấy dáng cây/bạt chen kín gốc, dù vây kín cành”.

Phải nói rằng trải dài suốt tập thơ, nhiều… nhiều lắm những câu thơ tài hoa, những khổ thơ hay nhưng trong một bài viết ngắn ngủi này tôi không thể nào đưa lên hết được. Thật tiếc.


BCN Hội thơ Nghệ Tĩnh tại TPHCM cùng khách mời tặng hoa chúc mừng nhà thơ Trần Kim Dung.


Các nhà thơ cao tuổi chụp ảnh lưu niệm sau buổi ra mắt "Những dấu chân thơ"


Một số hội viên nán lại chụp ảnh lưu niệm cùng tác giả "Những dấu chân thơ" sau buổi sinh hoạt.

Một lần nữa xin được cảm ơn cô giáo, nữ thi sĩ tài hoa Trần Kim Dung đã tặng tôi tập sách, những áng thơ tuyệt vời về danh lam thắng cảnh của nước ta và nhiều nước trên thế giới. Đọc NHỮNG DẤU CHÂN THƠ ta không những được thưởng thức các vẻ đẹp của các danh lam thắng cảnh, mà tác giả còn kích thích trái tim ta thêm yêu quê hương đất nước nồng nàn hơn, tha thiết hơn. Đôi lúc ngồi ngẫm cứ thấy tiêng tiếc, ngoài bát thập rồi, sức cạn gối long rồi nên không thể nào đặt chân đến được bao thắng cảnh tuyệt vời mà nữ thi sĩ mô tả trên các trang thơ để có thể thưởng ngoạn, tận mắt chiêm ngưỡng từng ngôi chùa, từng thung núi, từng ngọn thác, con đèo, từng bãi biển bát ngát trời mây…

TP. Hồ Chí Minh, cuối tháng 11/2023
P.G.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm