TIN TỨC

Đọc ‘bão’ của Ngô Thị Ý Nhi

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-12-30 15:53:46
mail facebook google pos stwis
1658 lượt xem

Trần Danh Thùy

Tuy sự phân định ngôi thứ là khó khăn và khiên cưỡng, nhưng “Bão” là tên của nhân vật chính và trung tâm thứ nhất của truyện ngắn cùng tên của một nhà văn nữ Thừa Thiên-Huế Ngô Thị Ý Nhi. Còn mẹ của Bão là nhân vật chính và trung tâm thứ hai, nếu cần có một sự phân định “tạm thời” để có thể có một cái nhìn tương đối rõ ràng những nhân vật trong truyện để nói về họ. 


Nhà văn Ngô Thị Ý Nhi.

Bão có thể là kết quả ngoài ý muốn nhưng tiền định của mẹ Bão, “một đàn bà góa đang xuân nhưng không giữ được tiết hạnh” lại là con nhà gia-phong-nề-nếp với “một người đàn ông đã yên ổn gia đình”.

Việc Bão ra đời “ngoài vòng lễ giáo” như cái tên mẹ Bão đặt cho em, khiến cho bão tố kéo đến gia đình chị, bản thân chị và chính Bão. Nhưng trong cơn bão tố ấy, với một định kiến nào đó, bà ngoại của Bão đã không cho cha Bão nhận con về vì “Thà con gái tui mang tiếng chửa hoang chớ tui không hề dạy con tui đi phá họai gia cang người khác.”

Tuy thế, từ khi sinh ra cho đến khi lớn lên, Bão và mẹ đã sống trong cái “camera định vị” của bà ngoại. Còn Khiêm, anh cùng mẹ khác cha của Bão và Lụa, con nuôi của mẹ Bão thì gần như… ngoài vùng phủ sóng.

Như cái tên em mang, Bão phải chịu đựng những gì do thân phận hẩm hiu, bất nhẫn của em từ bà ngoại, anh Khiêm, từ những người trong họ… Sự “khắc họa” chính xác những nhân vật “tiêu cực” này đối với cuộc sống khổ sở của Bão và mẹ Bão trong truyện cũng là nghệ thuật kể chuyện “có duyên” của tác giả.

Đọc Bão, người đọc sẽ bắt gặp nhiều đoạn văn hay và khiến lòng mình như chùng xuống có thể do bởi tâm tình thương yêu của tác giả gửi vào nhân vật hay cách tác giả thể hiện tính cách ‘độc đáo’ của nhân vật của mình, chẳng hạn như: “Từ đó tôi hiểu rằng tôi không được như anh Khiêm, dù anh lớn hơn tôi sáu tuổi. Tôi không được lẫy hờn để mẹ dỗ dành, không được vòi quà khi mẹ về chợ. Mà với tôi mẹ cũng rất kiệm lời khen mỗi khi xem bài vở. Tình thương của mẹ dành cho tôi cứ lặn hết vào trong. Có khi là một gói kẹo giấu dưới đáy giỏ, là mấy cuốn truyện tranh tìm được đâu đó, là khẩu súng nhựa bắn nước để tôi chơi một mình với mấy bụi cây. Những món qùa giấm dúi đó lâu lâu cũng bị ngoại và anh Khiêm bắt gặp. Ngoại quay đi không nói gì nhưng anh Khiêm thì ghen tức ra mặt. Trẻ con, những phần chia giấu diếm ắt phần đó phải nhiều hơn. Mà anh ghen tức với tôi làm gì khi anh là niềm hãnh diện của mẹ, là đại diện cho phần đời đẹp đẽ mà mẹ đã sống. Bên cạnh mẹ anh tung tăng tíu tít hồn nhiên ngửng cao đầu. Còn tôi… tôi còn nhớ một năm tôi và anh Khiêm theo mẹ đi kỵ cố. Trong khi tôi thơ thẩn góc sân nhặt nắp chai bia chơi một mình thì có một bà già, già như ngoại đến nâng cằm tôi lên. Đội mắt hấp háy nhìn thẳng vào mắt tôi, bàn tay nhăn nheo sờ sọang lên môi, lên mũi rồi vân vê vành tai tôi săm soi từng chút một. Tôi rùng mình. Mẹ đứng đó tự bao giờ. Mẹ nhỏ giọng bảo tôi:

– Con thưa mụ đi.

Tôi lí nhí lặp lại:

– Thưa mụ.

Bà buông tôi ra quay về phía mẹ:

– Thằng “lỡ” đây phải không?

Mẹ cúi đầu:

– Dạ.

Tiếng “dạ” khó khăn như bị chặn ngang cổ. Đôi mắt đỏ hoe, mẹ quay đi len lén chùi nước mắt.”

Đọc đoạn văn, nghĩ đến tình thương của mẹ Bão đối với Bão cũng là tình thương của tác giả đối với những nhân vật tội nghiệp, đáng thương của mình mà tình cảm của ta đối với mẹ Bão và Bão như cũng muốn “quay vào trong” nhưng lại muốn bùng vỡ, phản kháng lại những điều “tai quái” đâu đâu đã mang đến cho họ. Ta ước gì những điều đó đừng xảy ra để cho cuộc đời họ bớt khổ, bớt nhọc nhằn.

Cuộc sống trầm luân do có một đứa con “ngoài luồng” đã khiến cho mẹ Bão phải chịu nhiều đau khổ vì chính người đã sinh ra mình. Và chính sự chịu đựng ấy đã khiến chị trở thành một con người sâu sắc. Và sự sâu sắc của chị đã được bộc lộ đỉnh cao lúc lâm chung khi chị gọi từng người con vào để dặn dò riêng lẻ từng người một. Nhưng tựu trung, vẫn là ước muốn về niềm hạnh phúc cho cả ba theo từng ‘hoàn cảnh’ của mỗi người trong gia đình và trong lòng một người mẹ đã hiểu thấu lòng con.

Tôi, một độc giả cũng có nguyên quán Thừa Thiên-Huế, khi đọc “Bão”, đã đôi lần “chùng lòng” theo diễn biến của câu chuyện, theo những đoạn văn gắn liền với thân phận của Bão và mẹ Bão và theo những “ứng xử” của những nhân vật đối với nhau và đối với chính mình.

Tuy không được sinh ra và lớn lên nơi quê cha đất tổ và thi thoảng, chỉ làm khách du lịch về thăm quê, thăm những thắng cảnh, những di tích lịch sử của một thành phố cố đô với những truyền thống và quan niệm tốt đẹp có, xa xưa có, tôi chỉ phần nào biết và hiểu được vài đặc điểm của con người sông Hương-núi Ngự.

Thế nhưng, đọc Bão, với những cảm xúc vơi đầy, tôi như cảm được một trong những điều mà tôi tạm gọi là “tình tự” của người quê tôi. Đối lập với cái thái độ “đáng ghét” của nhân vật “bà ngoại” đối với mẹ Bão, hành động bà “lén lút” và “đột xuất” cho Bão trái ổi mà “Chợt nhớ một lần bà tìm được trong vườn một quả ổi lớn lắm, quả ổi bị chim ăn một góc. Bà liếc nhanh vào nhà. Anh Khiêm đang học bài ở đó, còn tôi, chơi lúc thúc bên mấy bụi nhài. Bà nâng quả chín trên tay, ngắm nghía một lúc rồi gọi:

– Nì, Bão.

Tôi ngước lên, đứng yên, lo lắng. Nhưng bà đã đến bên chìa quả ổi cho tôi. Quả ổi chín vàng ươm. Con chim nào mổ vào lòng quả chín để lộ ra lòng quả đỏ như son. Tôi nhận lấy bằng cả hai bàn tay lem luốc của mình, chợt nhận ra mắt bà và mắt mẹ sao mà giống nhau đến lạ lùng. Cứ ươn ướt nước. Khi ngoại đi rồi, tôi nhâm nhi trái chín, từng chút một. Cả đời, chưa bao giờ tôi được ăn một trái ổi thơm mềm, ngon đến thế.”

Một hành động giản đơn thôi, một trái ổi chín tuy bị chim ăn nhưng biết là ngon, bà ngoại đã cho đứa cháu “ngoài vòng lễ giáo” của mình chắc là do một tình thương không-định-kiến, u ẩn ngay từ khi có Bão trong nhà được nêu lên như một phát hiện lạc quan.

Khi bà ngoại và mẹ Khiêm, Bão và Lụa mất, theo ý chị, Khiêm có quyền thừa hưởng ngôi nhà hai người đã khuất đã tạo dựng và giữ gìn theo năm tháng.

Và câu chuyện kết thúc với hạnh phúc của Bão, khi em đã gần như thành nhân, với Lụa, một cô gái gần như là một ‘bản sao’ về tính cách của mẹ Bão, theo ý muốn của chị lúc lâm chung, như một logic ắt có và đủ cho một ngày mai tươi sáng, khi cơn bão đã làm khổ những nhân vật của truyện, và cũng có thể là những con người thật, qua đi, xóa tan những u uẩn đã có trong đời và mang lại cho họ những điều tốt đẹp nhất…

SG, 27/12/22 

T.D.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm