TIN TỨC

Hãy sống như những người đã chết - Một nhan đề độc đáo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-14 01:06:22
mail facebook google pos stwis
587 lượt xem

Đỗ Nguyên Thương

Lúc đi học, thầy cô từng bảo nhan đề là tên của tác phẩm, còn có cách gọi khác là  đầu đề, là cái "tít" chung của một văn bản. Nhan đề (đầu đề) thường do người viết đặt ra - như người bố, người mẹ đặt tên cho đứa con của mình; nhưng cũng có khi do người khác (cán bộ biên tập) đặt hộ, hoặc đổi tên đi cho hay, cho phù hợp với chủ đề của tác phẩm.

Nhà thơ Nguyễn Trung Nguyên – Chủ tịch Hội Nhà văn TP. Cần Thơ.

Nhan đề phải khái quát ở mức cao về nội dung tư tưởng của văn bản, của tác phẩm; phải nói cô đọng được nội dung cốt lõi của tác phẩm. Do đó, nhan đề giữ vị trí quan trọng đối với không chỉ người sáng tác mà đối với cả người tiếp nhận. Đặt được nhan đề cho tác phẩm rất quan trọng, quan trọng như đặt tên cho đứa con của mình vậy! Và hôm nay được anh - Nhà thơ Nguyễn Trung Nguyên - Chủ tịch Hội Nhà văn Cần Thơ tặng sách, tôi đã thật ngỡ ngàng trước nhan đề của tập thơ Hãy sống như những người đã chết.

Đây chính lả một nhan đề dụng công. Rất có thể khi cầm bút viết tên cho tập thơ của mình anh đã thật nhẹ nhàng chứ không nhọc công nhưng tôi chắc chắn anh đã từng dụng công trong tiềm thức!

Văn học nghệ thuật có một hiện tượng lạ là có khi người ta viết bằng tiềm thức. Phê bình cũng không ngoại lệ. Chẳng phải thế sao? Nhà thơ Hoàng Cầm nói “Bài thơ Lá diêu bông tôi viết về một câu chuyện có thật, câu chuyện về mối tình đầu tiên trong đời tôi. Vào một đêm năm 1959, khoảng 3 giờ sáng, tôi chợt tỉnh giấc rồi thao thức không ngủ lại được. Căn nhà ở phố Lý Quốc Sư nằm sâu phía trong, lại thêm thuở ấy ban đêm không có tiếng xe tiếng còi ầm ĩ như bây giờ, nên đêm khuya càng thêm thanh vắng. Chợt tôi thấy lóe trong đầu văng vẳng mấy câu thơ do một người đàn bà đọc bằng giọng lanh lảnh: Váy Ðình Bảng buông chùng cửa võng...

Tôi lấy ngay cây bút chì và tập giấy luôn để sẵn trên đầu giường ghi lại. (Nguồn Internet - Báo Bình Dương). 

Theo Tuy Hòa, báo Nông nghiệp và Môi trường, nhà thơ Hoàng Cầm kể: “Một đêm, tôi ở phố Lý Quốc Sư - Hà Nội, có lẽ quá nửa khuya rồi, tôi trằn trọc nửa thức nửa ngủ, nửa mê nửa tỉnh… Trong cái đêm bồn chồn ấy, tôi chợt nghe tiếng văng vẳng bên tai như có ai nói, giọng phụ nữ, không phải giọng chị Vinh, không phải xa xôi lắm như tự kiếp nào chứ không phải của kiếp này….” Và nhà thơ chỉ việc chép lại. Đó là hoàn cảnh ra đời của bài thơ nổi tiếng Lá diêu bông.

 

Trường hợp Nguyễn Vinh Tiến, thiết nghĩ, anh sáng tác bài hát Bà tôi do tiềm thức còn Ông tôi là do ý thức! Có thể anh yêu ông bà như nhau nhưng Bà tôi là ca khúc được đông đảo công chúng hào hứng đón nhận hơn Ông tôi. Viết bằng tiềm thức là kết quả của sự thôi thúc mãnh liệt từ bên trong! còn được gọi những cái tên khác như “viết như lên đồng”  hoặc “như ma ám”... Khi đó người viết (văn, thơ, nhạc, hoạ…) không phải suy nghĩ nhiều vẫn có tác phẩm hay. Có thể hiểu cách khác là người viết đã dụng tâm, chủ ý từ lâu và điều đó được tích luỹ ngầm, dần dần tràn đầy trong tâm trí; khi đã đủ độ chín thì không cần dụng công, tác phẩm sẽ ra đời rất nhanh. Với nhà thơ Nguyễn Trung Nguyên, cách đặt nhan đề kia cũng vậy!

Có một hiện tượng là ngày nay không ít bài báo giật tít câu like nên đã đặt tên cho bài của mình thật “giật gân” và cũng nhiều khi cách đó đưa người đọc đến sự thất vọng sau khi đọc tác phẩm. Với Nguyễn Trung Nguyên thì không! nhan đề gây chú ý, gây sự tò mò là lẽ đương nhiên, nhưng, nó không đưa cho người đọc một cảm giác câu like giật tít mà lại khiến người đọc tò mò khám phá

Hành trình cuộc đời mỗi người không ai chệch ra khỏi quy luật sinh - lão - bệnh - tử, vậy nên khi dân số trên trái đất tăng lên đồng nghĩa với người chết cũng tăng lên. Và tất nhiên có những cái chết do quy luật và có những cái chết do chủ động (hiện tượng nhà văn Quỳnh Dao - Trung Quốc, gần đây).

Vậy ở đây Nguyễn Trung Nguyên nói đến cái chết nào? Tìm hiểu một bài thơ được lấy nhan đề làm tên chung cho cả tập, để hiểu phần nào triết lý, suy tư, suy cảm, cảm nghiệm của thi sỹ.

Tôi sinh ra vào những ngày tháng tư lịch sử/Các anh nằm xuống đã lâu/Năm mươi năm đất nước mình thay đổi/ Tôi sinh ra vào những ngày tháng tư lịch sử/Cha bảo “Con đến tuổi lập thân!”

Khổ thơ đầu tựa như lời dẫn truyện, nhẹ nhàng, tự nhiên và rất đỗi chân thành. Tháng tư lịch sử được nhắc đến như nhắc về kỷ niệm thân thiết, thiêng liêng. Có lời người cha thủ thỉ, có sự tiếp nối dòng lịch sử, dòng đời. Và cũng rất nhẹ nhàng là lời kể

Chúng tôi lớn lên đã hết chiến tranh/Chẳng biết “lễ truy điệu trước giờ ra trận/Không thể hình dung “củ mài- lá bép”/Một bữa ăn sáng bây giờ cũng cân nhắc “dở - ngon”.

Sinh ra trong thời bình và thụ hưởng cuộc sống hòa bình, mấy ai hiểu sự gian khó, hy sinh của một thời cha ông “củ mài- lá bép” thay cơm; không hiểu được trước mỗi giờ ra trận cha anh mình lại làm lễ truy điệu cho đồng đội. Bỗng dưng tôi nhớ tới hình ảnh rừng xà nu trong trang văn Nguyên Ngọc, cây xà nu lớn bị thương, bầm máu và cây xà nu dính đạn ngã xuống bên cạnh những cây xà nu con mọc lên, vươn mình khỏe khắn dưới ánh nắng mặt trời.

Và đọc thơ Nguyên Trung Nguyên, tôi cũng nhớ về một thời đi học, đọc say sưa thơ Tố Hữu. Nếu như xưa kia Tố Hữu từng viết “Đường ta rộng thênh thang tám thước”, hạnh phúc thời điểm đó như vậy, con đường tám thước là rộng. Ngày nay Năm mươi năm rồi đường cao tốc thênh thang/ Hà Nội - Cà Mau chỉ là chuyện nhỏ. Câu thơ của Nguyễn Trung Nguyên nói trực diện về sự tiến triển vượt bậc của hạ tầng cơ sở, của đất nước 50 năm sau chiến tranh. Nếu là người bình thường, chắc chỉ nhận thấy ít thôi, thậm chí không nhận thấy sự tiến bộ vượt bậc về đời sống kia đã được đánh đổi, được trả giá bằng bao nhiêu xương máu của các anh hùng, liệt sỹ. Từng trải và suy nghĩ sâu sắc với cuộc đời, thi sỹ Trung Nguyên cảm nhận Một cung đường thôi - có người đi mãi không về. Và vẫn trong dòng hoài niệm, nhớ nhung đồng đội, biết ơn các anh hùng, liệt sỹ, nhà thơ viết những dòng thơ như chắt ra từ cõi lòng đau khôn tả khi có những người hồn nhiên ra trận không về, có người nằm xuống cho thế hệ sau sung túc trong tiện nghi ngập lối. Có nghười được bảng vàng ghi danh rõ tên, rõ tuổi, có nhiều người Thân xác hóa vào hồn thiêng sông núi. Nhiều người “hồn nhiên” ra đi, nhưng nỗi đau còn vương vấn mãi trong lòng người thân, có những bà mẹ Nhiều đêm mẹ giật mình ngồi dậy/Quờ tay tìm “mộ con đâu?!. Đọc thơ Nguyễn Trung Nguyên, thấy một trường hoài niệm; đọc thơ Nguyễn Trung Nguyên thấy sự so sánh cặp đôi được sử dụng với mật độ khá dày khi nói về “chúng tôi” - những người đang sống, đang hưởng thụ vật chất, tiện nghi thời bình với “các anh” sống giản đơn quá đỗi, Chỉ hương bưởi thơm vấn vít tim mình... Và nữa, khi chúng tôi “nhấp chuột” là thấy mặt người yêu dù xa nhau cả ngàn cây số, còn các anh vĩnh viễn để lại thanh xuân trên chiến trường. Thật sự ám ảnh những câu thơ như

Các anh hồn nhiên ra trận không về/Chúng tôi bước vào tương lai lạc quan rộng mở

Và sâu đằm một cõi tri ân Các anh nằm xuống cho chúng tôi đứng thẳng/Mặt trời trên đầu, bóng bia mộ nghiêng nghiêng. Mặt trời là nhân chứng, mặt trời chứng ngộ cả đau khổ và hạnh phúc. Mặt trời tồn tại vĩnh viễn, các anh nằm lại chiến trường. Mặt trời bất tử và các anh cũng hóa vào hồn thiêng sông núi. Chiều sâu của thơ Nguyễn Trung Nguyên không chỉ tồn tại trong câu chữ, còn tồn tại trong những ẩn dụ, so sánh ví von và liên tưởng đa chiều.

Không phải ai cũng nhận thức được sâu sắc như nhà thơ Nguyễn Trung Nguyên rằng “Hạnh phúc ngọt ngào/Thiêng liêng lắm nỗi đau”. Nhà thơ nói bằng trải nghiệm và suy cảm, nói bằng lương tri và sự biết ơn sâu sắc đối với các anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống cho Tổ quốc thiêng liêng mãi mãi trường tồn.

Đọc xong bài thơ chúng ta hiểu Nguyễn Trung Nguyên nói đến cái chết của những anh hùng liệt sỹ - sự ra đi của họ làm vẻ vang sông núi này. Bất luận họ đã ra đi như thế nào nhưng chỉ riêng việc họ xuất hiện ở chiến trường, cầm súng chiến đấu là hành động đẹp, hành động cao cả, không chỉ vì cái tôi, không ích kỷ, không tính toán nhỏ nhen. Và tất nhiên Hãy sống như những người đã chết còn bao hàm nghĩa ở thế giới đó không còn sự bon chen, chỉ có sự đoàn kết và ấm áp yêu thương…

Hãy sống như những người đã chết là bài thơ gọn gàng hàm chứa một  thông điệp giàu giá trị nhân văn, thấm đượm triết lý và ý vị nhân sinh sâu sắc của phương Đông khiến mỗi chúng ta sau khi đọc xong đều cảm nhận được một cách hết sức nhẹ nhàng và thấm thía về thông điệp cảnh tỉnh và tri ân, để từ đó điều chỉnh lối sống của mình, trân trọng hơn từng phút giây của cuộc sống và biết ơn sâu sắc hơn đối với thế hệ cha ông đã ngã xuống cho chúng ta được đứng thẳng hôm nay. 

Việt Trì, ngày 22/7/2025

Đ.N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm