TIN TỨC

Một tình thơ đằm thắm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-10-30 09:04:00
mail facebook google pos stwis
1697 lượt xem

PHẠM VÂN ANH

Nếu dùng một câu để nhận xét về nhà thơ Trần Thị Nương, với tôi có lẽ không gì xác đáng hơn khi nói chị là một nữ thi sỹ đôn hậu với hồn thơ nhạy cảm, tràn ngập tình yêu cuộc sống.

Gần chị, có cảm giác lúc nào cũng được cộng hưởng sự nhiệt thành, thấu cảm của một người mẹ, một người chị trong một nhà giáo, nhà báo, nhà thơ đã qua biết bao thăng trầm của cuộc sống cùng những trải nghiệm bằng ngôn ngữ thi ca mà không phải ai cũng có được. Nên khi cầm trên tay tuyển thơ chọn lọc có tựa đề rất gợi là “Men lửa” của chị, tôi hoàn toàn đắm mình trong dòng thi cảm cuộn chảy chưa từng ngơi nghỉ suốt trên 50 năm đam mê với nghề cầm bút. Trên 700 bài thơ ở nhiều đề tài, thể loại khác nhau song điểm chung là tình cảm chân phương, sâu sắc, giản dị mà lắng đọng, không quá cầu kỳ về hình thức, cách tân nhưng lại đạt được sự rung cảm bởi được viết từ tài hoa và tình yêu văn chương đích thực của tác giả.

Tôi đã thực sự bất ngờ khi chứng kiến “gia tài văn chương” khá đồ sộ của chị với 16 tập thơ và 1 tập bút ký. Với những cái tên chị đặt cũng rất gợi như “Đừng đánh mất, Cánh buồm ngọn gió, Giếng khát, Tiếng gọi từ trăng núi, Bão không mùa, Sóng khát, Trầu thơm cau đắng, Biển không bao giờ lẻ, Hương mạy may…”. Điều đó cho thấy nữ thi sĩ với thiên chức sáng tạo của mình đã dành nhiều thời gian để làm việc một cách nghiêm cẩn và tận hiến. Như Giáo sư Hà Minh Đức đã viết trong cuốn “Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại” như sau: “Thơ ca chân chính luôn là tiếng nói yêu thương, là lời ca chiến đấu, giàu ước mơ và khát vọng, có thể nói các tác phẩm của Trần Thị Nương đều hướng tới những giá trị nhân bản của cuộc sống, của con người. Hẳn là vì thế mà các tập thơ của chị đều có sức thuyết phục. Chị đã đạt 14 giải thưởng Văn học Nghệ thuật ở Trung ương và địa phương.

Một yếu tố then chốt góp phần gây tác động đến người đọc là ngữ âm và nhịp điệu, sự hàm xúc và tính triết lý nhân sinh trong thơ Trần Thị Nương dù chị ít khi sử dụng thủ pháp “lạ hóa” trong văn bản thơ của mình. Nhiều tác phẩm giàu liên tưởng dân gian, có chứa nhiều điển tích, phương ngữ độc đáo. Vì thế mà làm cho sự cảm thụ thơ chị trở nên gần gũi với bạn đọc. Dù có sở trường về thơ lục bát song chị cũng không ngại “thay áo mới cho thơ” với nhiều thể nghiệm khác nhau. Cách nhấn nhá, xuống dòng thơ hay luyến láy vần điệu ở hầu hết các bài thơ đều nhằm mục đích tạo nên tứ thơ, hình tượng thơ mà chị hướng đến. Từ các chi tiết, câu chuyện, thông điệp gửi gắm trong mỗi bài thơ đều được chị thái nghén qua độ chín của cảm xúc, qua sự lĩnh hội của lý trí và rồi thể hiện qua thơ bằng thứ ngôn ngữ thơ chắt lọc. Đọc những bài thơ chị viết về miền núi, biên giới, về vùng trung du Bắc Bộ hay quê hương Phú Thọ của chị, từ trang giấy với những con chữ được cấu tứ thanh nhẹ, không gồng mình khoe chữ hoặc rối rắm thủ pháp, có thể nhắm mặt và cảm nhận về những miền đất sóng sánh thơm như tảng mật ong rừng.

Tôi thực sự thích thú khi đọc thơ chị theo vệt đề tài và theo hướng liên văn bản, nghĩa là khi đọc tự mình có tư duy kết nối thi tứ của nhiều tác phẩm. Đơn cử như khi đọc Hồn làng, Trầu biếc, Giếng chùa, Ở phía bên này, Mưa rơi miền Đất Tổ, Tình anh – cao nguyên, Ngườm ngao, Bên sông Kỳ cùng, Về Tây Nguyên, Gọi mãi Điện Biên, Tìm em giữa hội xòe, Nhịp đập thảo nguyên… theo hướng tiếp cận này, tôi dường như thấy trong thơ chị hiển hiện mạch đập của cuộc sống đó là: người dân hối hả trên nương, dưới ruộng cho kịp mùa gặt rộ, le lói bóng áo hoa đỏ rực, áo xanh đằm thắm. Những trảng lúa vàng, những vạt bắp sữa hòa trong sắc xanh của núi rừng phủ kín đồng bãi hay những dòng sông, dáng núi bao bọc cuộc sống và tâm hồn của dân tộc Việt. Có lẽ chính nhờ thế, tôi nhận ra rằng, chị đã rất thành công khi cho ta sức gợi những hình dung về một bình địa lắng sâu trầm tích văn hóa bản địa của đất Tổ nhưng đầy khoáng đạt với sắc thái sơn cước cửa ngõ biên khu hoài chứa trong mình trùng trùng trầm tích.

Trong miền ký ức của chị, ta dễ dàng đồng cảm với “Quê tôi nặng tình nặng nghĩa/ trong từng lá cỏ non tươi” hay cùng chị đau đáu nhớ về quê hương, nguồn cội. “Có phải anh là núi Tản/ Mùa qua vết cắt nảy mầm/ Yêu em hóa thành đàn đá/ Một đời thăm thẳm vang ngân” (Núi nhớ).  Trong chị, những sự vật, hiện tượng rất đỗi thường nhật cũng được thơ hóa một cách dung dị nhưng có sức cộng hưởng đến người đọc. Đơn cử như tiếng điếu cày và hương thuốc lào cũng đã trở nên thật khác biệt qua câu thơ của chị: “Từ khi về thành phố mới/ Rưng rưng nghe tiếng điếu cày/ Ai kéo núi non gần lại/ Tình người thêm đượm thêm say/…/Bâng khuâng điếu cày ai hút/ Chạm vào tôi mối tình quê” (Tiếng điều cày). Chị có những câu thơ ấn tượng về đề tài này như “Hun hút đồng xưa đâu dáng núi/ Hăm hở gió sương giục trâu cày/Bão lũ trớ trêu… oằn vai mẹ/ Hồn làng vời vợi cánh con bay(Hồn làng).

Là một phụ nữ đôn hậu, nên Trần Thị Nương luôn dành những tình cảm nồng ấm cho mọi mối quan hệ mà chị gọi đó là “duyên đời” ban tặng. Dù là bạn bè, đồng nghiệp, gia đình hay tình yêu nam nữ, chị hết thảy đều trân trọng và lặng lẽ vun đắp. Vì thế, hoàn toàn dễ hiểu khi thơ tình là mảng đề tài chiếm tỷ lệ lớn trong các sáng tác của chị, biểu lộ một tâm hồn mãnh liệt, một con tim đắm say và một tinh thần đầy lạc quan. Yêu đến độ: “Trái tim em tù trong nỗi nhớ/ Muối không vò xót tận trong tâm” hay “Nếu phải lặn xuống biển/ Nếu phải bay lên trời/ Người qua cơn hoạn nạn/ Tôi sẵn lòng quên tôi” và sẵn sàng “Nếu được chết/ Để đời anh hết khổ/ Xin trời/ Em được chết anh ơi!” và “Tháng năm dù sụt lở/ Mình vẫn hồi sinh nhau” … khiến những người trẻ, có tư duy khá “thoáng” như tôi cũng phải giật mình.

Trong thơ chị giầu lòng nhân ái, bởi chị đã xác tín được: “Niềm tin như nắng mai/ Ngời ngời trên mặt đất/ Cuộc đời thi vị nhất/ Khi chúng mình tin nhau!” (Niềm tin) và “Núi nặng tình sông/ hạt nhớ tích hương/ người thương tích đức/ Duyên kỳ ngộ/ nằm mơ chẳng được/ cái nhìn đầu tiên rất lạ trong đời” (Mặt trời xanh). Chị khẳng định “Không có con đường nào không có lối đi/ Không có đại dương nào không dễ vượt/ Đêm giá lạnh ngàn lần vẫn là đêm không lạnh/ Tin yêu thành lửa thắp trong nhau” (Cất sóng). Tin vào những điều lành, tin vào sự bền bỉ của yêu thương sẽ có xoa dịu mọi đau thương, buồn nản, vượt lên mọi chướng ngại vật giữa đời thường: “Trên bức tường mảnh chai/ Dây bầu xanh than thản…/ Mảnh vỡ sinh ra từ vỏ nào rỗng tuếch?/ Dây bầu sinh ra từ đất mẹ xửa xưa…/ Mảnh chai nhọn hoắt. Hoa cười hồn nhiên/ Đom đóm bay qua bức tường mảnh chai/ Gặp dây bầu bật lên thành đốm lửa/ Đàn chim bay qua bức tường mảnh chai/ Gặp dây bầu hát lên thành cung bậc/ Mặt trời đi qua bức tường mảnh chai trổ những nụ trắng ngần hóa thành dây ánh sáng…/ Trên bức tường mảnh chai cứa vào không gian/ Dây bầu ung dung trĩu quả…” (Trên bức tường mảnh chai).

Và còn đó cả những câu thơ dịu nhẹ như ban mai khiến trái tim tôi mềm lại. Bởi chị luôn tôn thờ tình yêu bằng những nỗi niềm thanh khiết nên thơ của chị cũng vì thế mà đầy tinh tế: “Ngày anh sang nắng vô tình dát ngọc/ Chiếc mũ người cầm hay lá sen thơm/…/Có phải tình yêu là ngọn đuốc/ Cháy tận cùng trong mắt người yêu” (Thiên thần tình yêu) và “Bao nhiêu khuyết để một rằm/ Dư ba ghềnh thác nghìn năm một ngày” (Lặng nghe). Niềm yêu trong chị rất thực và rất thơ: “Khát nhau như khát nước lành/ Mà vờ trốn chạy vòng quanh cả đời/ Sương sa thấm bạc kiếp người/ Vài giây phút đợi mấy đời chờ mong” (Nhật thực). “Bóng hình ai cất ngăn riêng/ Mà con tim thức đập nghiêng chợ tình”(Lời yêu chưa tròn). Là người từng ruổi rong khắp mọi miền biên viễn, tôi vô cùng thú vị trước phát hiện của chị: “Núi mềm như lụa nghiêng câu hát/ Đậu xuống vành môi thuở dại khờ/… Núi cười ngà ngọc xanh mùa bắp/ Rút ruột đại ngàn quên nắng mưa”.

Người đàn bà làm thơ ấy có những câu thơ như rỉ máu nhưng cũng đầy bản ngã và nghị lực phi thường: “Anh đừng “chém” em mà nhức rễ vàng cành/ Em có phải là cây đâu để đem về làm củi/ Anh đừng “vạc’” em như trúc rừng nhiệt đới/ Em có rỗng đâu mà làm sáo trưa hè/ Em chỉ là hạt cát dưới lòng khe/ Trôi từ núi qua đường mỏm thác/ Hạt cát âm thầm bên vồng khoai luống mật/ Sống cùng cỏ rơm nghe lúa trổ đóng đòng/ Em chỉ là hạt cát quãng đường cong/ Giáp vịnh rồi nên bờ em phải thế…/ Hạt cát em hóa thân trên chảo lửa/ Ngô nổ rồi… Em vẫn cát mà anh…” (Em vẫn cát mà anh). Và cũng có khi thuần hậu, đầy tận hiến trong men tình: “Em khoan đá gọi mạch trong/ Anh men núi thẳm hứng long lanh giời/ Thoáng buồn anh thoắt tìm vui/ Em tâm giao với đất trời dịu êm/ Đau anh – nén khúc đàn đêm/ Đau em – Nhỏ máu chữ miền nhân gian…” (Cung bậc).

Không chỉ có thế mạnh ở đề tài tình yêu, dọc qua hàng trăm tác phẩm của Trần Thị Nương, mới thấy phẩm giá nhà thơ – công dân của chị cũng rất đáng trân trọng. Trong “Biên độ của trí tưởng tượng”, nhà phê bình Đông La khẳng định “Thơ ca không chỉ tạo nên sự xúc động, sự khoái cảm, sự tâm đắc mà còn gợi lên những suy tư, trăn trở, ý thức trách nhiệm lớn lao đối với đồng loại”. Ta có thể nhận rõ điều này qua nhiều thi phẩm của chị như: “Chớp thời gian như thực như mơ/ Dấu vết Liễu Thăng/ Còn nguyên ải Bắc…/ Sông cuộn sống/ Trào dâng thời đánh giặc/ Nuôi niềm tin/ Ngút ngát đôi bờ..” (Bên sông Kỳ Cùng) hay “Đất nước ơi!/ Con yêu Người như Mẹ/ Xích lại những khoảng đời/ Từng tích tắc xuân sang” (Mắt lá). Chị tri ân và đồng cảm với những người dấn thân vì độc lập, tự do và bình yên cho Tổ quốc: “Tâm nhang quặn trước mộ Người/ Rưng rưng nghĩa Nước – mạch đời mang theo/ Biển trời linh thẳm… dương reo/ Lê-ki-ma nở ngát chiều thời gian” (Chị Sáu)“Mai đi giữ miền biên giới/ Đem theo biển thẳm lên ngàn/ Có trái tim người đỉnh núi/ Đêm ngày gọi mãi Nha Trang” (Gọi mãi Nha Trang)

Chậm rãi đọc và cảm nhận tình thơ, hồn thơ Trần Thị Nương qua bút pháp đầy biểu cảm và gửi gắm tình yêu cuộc sống của chị, tôi dường như được tỉnh thức về nhiều vấn đề trong cuộc sống cũng như sứ mệnh của người viết. Cái “dây bầu” Trần Thị Nương chính là một “dây ánh sáng” mở lối cho chị trên con đường văn chương đầy nhọc nhằn và đòi hỏi sự trăn trở sáng tạo không ngừng. Dường như nhận thức rất rõ điều ấy, Trần Thị Nương tâm niệm “Đời trao ta làm  Chức Người cao quí. Ta trao đời lẽ sống, niềm tin. Thứ lộc vàng biết trao và biết nhận… Thanh thoát diệu kỳ giữa cung bậc mùa Đông”. Sức mạnh nội tâm và khát vọng hiến dâng cho tình yêu, cho cái đẹp và thơ ca đã giúp chị “Tháng năm gieo chữ âm thầm/ Li ti… nuôi cả mạch ngầm đất đai (Có một cánh đồng) dù cũng có lúc băn khoăn “Rừng bao cây gọi rừng thưa/ Giấy bao nhiêu chữ cho vừa nhân gian?” (Cầu vồng sau mưa).

“Men lửa” – Tập thơ chọn lọc trong đời người cầm bút. Đọc và ngẫm, ta gặp nữ sỹ Trần Thị Nương, gặp đời trong thơ – một tình yêu nồng nàn như thế.

(Rút từ phần II - Những bài viết về thơ Trần Thị Nương trong tập Men lửa).

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm