TIN TỨC

Người giữ lại những vần thơ người nhất

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-08-10 07:33:51
mail facebook google pos stwis
2488 lượt xem

LÊ VĂN VỴ

Sinh ra bên dòng sông Ngàn Phố, huyện miền núi Hương Sơn, nhưng tuổi thơ Tuấn theo bố ra thành phố. Bố Tuấn, nhà báo Đinh Nho Liêm - TBT báo Nghệ Tĩnh và là nhà thơ với bút danh Minh Nho có nhiều đóng góp cho Thơ ca, báo chí Cánh mạng.


4 trong 5 tập thơ đã xuất bản của nhà thơ
Đinh Nho Tuấn

Tốt nghiệp THPT, Tuấn theo học Khoa Luật, Trường ĐH Tổng hợp quốc gia Odessa (1986-1991). Tháng 9/1993-9/1996, Tuấn là nghiên cứu sinh tại Trung tâm nghiên cứu quan hệ quốc tế kinh tế, chính trị, Học viện hàn lâm khoa học Moscow, Liên bang Nga và tiếp tục làm việc tại thành phố Moscow, Liên bang Nga 3 năm. Tháng 9/1999, Tuấn về TP Hồ Chí Minh, làm việc tại Khoa Luật quốc tế Trường ĐH Luật TP Hồ Chí Minh. Hai năm sau (2001), Tuấn trở lại LB Nga. Từ tháng 9/2003 đến nay Tuấn sống và làm việc tại TP. Hồ Chí Minh.

Hiện nay, Tuấn là hội viên chuyên ngành Thơ, Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh. Những tác phẩm đã xuất bản: “Em hãy cho anh vội” (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2018); “Em tôi” (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2019); “Díu dan với núi sông” (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2020); “Ngàn tiếng đời ấp ủ” (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2022). GS Phong Lê trong “Lời bạt” cho tập thơ ”Em hãy cho anh vội” nhận xét: “Tuấn đã tạo được một thế giới nghệ thuật riêng, đối với tôi là rất ấn tượng ở hồn thơ, giọng thơ không giống, không lẫn với bất cứ ai trong đội ngũ làm thơ hôm nay…”.

Năm 2022, Đinh Nho Tuấn được Hội nhà văn TP Hồ Chí Minh tặng thưởng thơ.

Thật có lý khi nói rằng: Không phải Tuấn làm thơ mà thơ lựa chọn Tuấn để trao bút.  “Ngàn tiếng đời ấp ủ” bấy lâu nay đã tuôn trào cảm xúc, thăng hoa, gọi về lớp lớp sóng ngôn từ để cho ra đời 332 bài thơ với 4 tập thơ xuất hiện dày đặc chỉ trong 5 năm. Trong bài thơ “Xứ Nghệ”, Đinh Nho Tuấn đã phân thân nhập vai nhân vật trữ tình lạ lẫm và ngạc nhiên khi “xúc thơ từng đọi” :/ Anh ơi, chơ răng mà anh xúc thơ từng đọi/ Đổ xuống mùa em say cả ánh trăng rằm!/. Người thơ như người nông dân, “xúc… thơ” dễ dàng như người nông dân xúc lúa gạo.  Tuấn hồn nhiên làm thơ. “Những vần thơ cào xé” từ gan ruột máu thịt. Dấu vết tham dự của kỹ thuật cấu trúc bài thơ cũng như tổ chức khổ, câu dòng thơ không lộ diện. Hình như những câu thơ hồn nhiên tuôn chảy theo cảm xúc và khi nào cảm xúc không còn tuôn trào, bài thơ kết thúc. Do vậy, dòng, câu trong thơ Tuấn chủ yếu là vài chục câu trở lên, thậm chí có những bài trên 100 câu, như “Tổ quốc và tôi” 128 câu thơ và “Lễ cưới vui vẻ” 252 câu thơ. Điều đáng nói là những bài thơ trường thiên của Tuấn từ câu đầu tiên đến câu kết thúc vẫn tràn trề cảm xúc, không gây nên sự hụt hững trong lòng độc giả. Không có nội lực thơ mạnh mẽ, không thể tạo nên được thế giới thơ đa dạng, sinh động hấp dẫn!

Mặt khác, với Tuấn thơ là tinh lọc, làm thơ là “vót thơ”, viết những câu thơ bạc đầu” và “những câu thơ thít cổ ta rồi” không hề dễ dãi!

Những sóng thơ ào ạt tuôn chảy tràn ra những quy phạm, những khuôn mẫu tìm đến thể thơ trữ tình điệu nói tự do với những câu thơ dài ngắn khác nhau, nhịp điệu biến hóa mang hơi thở nhịp điệu của đời sống hiện sinh. Có một xứ Nghệ làm nên dòng chảy sông thơ Đinh Nho Tuấn. Dòng sông đó bắt nguồn từ Ngàn Phố, Ngàn Sâu chảy qua sông La, sông Lam, soi bóng Hồng Lĩnh, uốn lượn giữa những xóm làng trù mật, giữa đôi bờ ví dặm, ca trù mà nên duyên câu Kiều, lục bát, chảy mãi đến vô cùng, vô tận…

Quê Tuấn nằm bên tả ngạn sông Ngàn Phố, hạ Hương Sơn, vùng đất “địa linh nhân kiệt”. Nhưng từ nhỏ, Tuấn theo cha ra rời làng ra phố. Tốt nghiệp THPT, Tuấn xa xứ, tu nghiệp ở Liên xô (cũ), trở về nước lập nghiệp ở TP Hồ Chí Minh, nên Tuấn cõng quê hương, xứ sở và mang hồn cốt quê hương suốt với hành trình. Do vậy, xứ Nghệ, quê hương là không gian ký ức, sâu đậm, ám ảnh, sống động với những đối nghịch: vừa hùng vĩ vừa hiểm trở; vừa thơ mộng vừa khắc nghiệt; vừa tĩnh, vừa động; vừa tồn tại vừa phát triển; vừa mất vừa còn vừa khoảnh khắc vừa vĩnh cửu; vừa đi qua chiến tranh, tang tóc, hòa bình đã đến nhưng hạnh phúc còn là một hành trình…Ở đấy, núi Hồng sông La, Tam Soa, Giang Đình vv… không chỉ là địa danh thiên nhiên mà còn là tâm thức văn hóa, tâm linh, là thơ ca nhạc họa được sinh ra, nuôi dưỡng bởi con người: /Núi làm cha/Đất làm mẹ/Cha mẹ sinh ra dòng sông con người/(Quê hương).

Có một Hồng Lĩnh rất khác biệt trong thơ Tuấn:/Hồng Lĩnh chôn chân không trốn chạy/Núi nhấp nhô đánh võng trú bên trời/(Quê hương) và xứ sở “chảo lửa túi mưa”,  nắng nóng: “ hững con đường khạc lửa”; “bão chồng bão, lũ chồng lũ” hiện lên ám ảnh trong thơ Tuấn: /Những con sông không uống dùm hết nước/Thương sông Lam chết đuối cả trong vườn/ (Quê hương - Díu dan với núi sông).

Trong sự biến thiên của lịch sử, vô thủy, vô chung của thời gian, QUÊ với Tuấn là LÀNG; LÀNG QUÊ, chứa đựng biết bao vỉa tầng văn hóa; là cõi đi về, vừa cố hữu vừa thay đổi với số phận gắn chặt với số phận con người. Những con người xứ Nghệ mang những tính cách đối nghịch, ranh giới thật mong manh giữa cách tân và bảo thủ; anh hùng và ương gàn; quyết liệt và liều lĩnh; lạnh lùng và nồng ấm; hiện thực nghiệt ngã và lãng mạn bay bổng.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa tinh tế nhận xét: ”Đặc sắc của xứ Nghệ là người Nghệ. Đặc sản xứ Nghệ cũng là người Nghệ. Tôi và anh trai; nhà thơ Trần Nhuận Minh, mỗi lần đi qua cầu Bến Thủy bao giờ cũng ngã mũ, vì bên kia sừng sững 99 ngọn Hồng Lĩnh, là thông Ngàn Hống với những Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ…”.

Trong thơ Đinh Nho Tuấn có người Nghệ ở lại và người Nghệ ra đi. Người Nghệ ở lại không chỉ là những người thân yêu, ruột thịt: ông, bà, cha mẹ, chị em, con cháu mà còn là những người vô danh, những người đã khuất linh hồn họ hóa vào làng quê, đồng ruộng, sông núi.  Những người nhà quê đối mặt với chiến tranh, tang tóc, với bão lũ, với thiên nhiên nghiệt ngã, với nghèo đói và trong họ ánh lên những vẻ đẹp kiên trì, bền bỉ, ân tình, ân nghĩa, chịu thương, chịu khó, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng chưa bao giờ nguôi tắt ngọn lửa của khát vọng. Họ là nguồn cội, hồn cốt, khát vọng của quê hương. Nỗi nhớ của Tuấn về họ thật là khác biệt:

Có nỗi nhớ đè ta như hòn đá

Dằn lên ta trong vại nhút người ơi!

(Quê hương)

Nỗi nhớ sâu nặng ấy đã giúp Tuấn viết được những câu thơ hay rất thân phận. Đây là hình ảnh “Giữa trưa hè cha tôi bổ củi”: /Bổ xuống nhấc lên lưỡi rìu bóng loáng/ Đời cha tôi sét rỉ dưới lưỡi rìu/. Còn đây là thân phận chị tôi lấy chồng: “duyên tình trà trộn”, “ ép giày vẹt mòn” “lí lắc rơi”:/ Đêm đêm nằm nghe tiếng cuốc kêu bỏ vợ/ Đêm đêm nằm nghe lũ gà mái chồn chân khiếp chồng/ (Chị tôi) mà nổi da gà, sởn ốc, lạnh gáy trước nỗi bất hạnh của người phụ nữ mỏng duyên ở làng quê!

Nhưng có lẽ Tuấn đã dành những vần thơ ám ảnh cho những người nông dân, và những người tri thức ở làng quê. Những người “phận người như lá chuối”, “xanh như da bưởi”, “mười ngón tay” tua tủa ngọn khoai:

Đội mưa nắng cả khi ở trong nhà

Củ khoai quả cà làm nên vóc dáng

(Quê hương)

Những người“dân thường”, thân phận “con ong cái kiến”, là hạt cát bãi sông, khoai sắn ngoài đồng, bầu bí rau cà ngoài vườn, chắt chiu, lam lũ, cần mẫn, chịu thương chịu khó, ân tình, ân nghĩa, nhưng khi giặc ngoại xâm đến xâm phạm bờ cõi mang sức mạnh khác thường của lòng yêu nước: /Gộp cốt xương cao hơn Trường Sơn/ Gộp máu đào chảy tràn hơn sông Hồng mùa lũ/Gộp đau thương quằn lên lịch sử/ để cho: “Bốn ngàn năm đứng thẳng trường tồn”. Người nông dân Nghệ tằn tiện chắt lót nhằm“hy sinh đời bố, củng cố đời con”như một lẽ sống. Bài thơ “Quà quê” kể chuyện đứa cháu từ quê, khăn gói, mang theo can rượu, bịch kẹo cu đơ vào Sài Gòn thăm dượng với khao khát:/Bỏ nhà đi vào dượng/ Tìm mưu kế sinh nhai/ Quyết cứu mấy đứa nhỏ/ Không như bố sau này/, mặc dầu làng quê giờ đã nông thôn mới, nhưng thân phận của người nông dân vẫn quăng quật bươn chải, lăn lóc sang Lào “buôn gỗ”, “nấu rượu cả ngày”, chăn  vịt: ”Lơ thơ mấy lều hoang”mà vẫn không thoát nghèo. Đinh Nho Tuấn đã nhìn thẳng sự thật, có những phản biện bằng thơ đáng suy ngẫm. Bài thơ kết lại hình ảnh hai dượng cháu thưởng thức “Quà quê” đơn giản mà rưng rưng xúc động bởi ân tình, ân nghĩa của người nhà quê: /Cu đơ thơm mùi mía/ Hạt lạc đồng sơn khê/ Bánh tráng giòn hơn pháo/ Tròn trịa vành trăng quê/.

Những người tri thức xứ Nghệ là niềm tự hào của non nước Hồng Lam. Những Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Xuân Diệu, Huy Cận…đó là những thi sĩ đã dọn những bữa tiệc thi ca không chỉ cho các thế hệ người Việt mà còn của nhân loại. Trong thơ Tuấn, hình ảnh những ông giáo “đồ gàn xứ Nghệ” đã truyền cảm hứng cho bao thế hệ học sinh:

Bút nghiên lặng thầm ngàn sâu dâu bể

Quê hương lặng thầm, phấn bảng hát ru

(Mái tóc thu đổ- Em tôi)

Những thế hệ học sinh, bạn bè của Tuấn “dùi mài kinh sử”, “học gạo” để mong mỏi “kiếm cần câu cơm”. Những vần thơ hồi ức về bạn bè một thuở đã vượt lên đói nghèo vật chất, cơm áo gạo tiền để nuôi giấc mộng đèn sách, ôm chí lớn thành người.

Rau dưa là cái bút nghiên

Còn thêm gia vị đã nghiền thơ ra

Mắm tôm là cái dân ca

Còn thêm trái ớt ấy là tản văn

(Uống ta - Em tôi)

Mảng thơ viết về người xứ Nghệ ra đi trong hành trình hội nhập với đất nước nhân dân là mảng thành công của Tuấn. Không chỉ thời đèn sách mà sau này lập thân, lập nghiệp, Tuấn vẫn bôn ba xứ người. Vì vậy, bao nhiêu tính cách, hồn cốt người Nghệ được thể hiện ở hình tượng nhân vật trữ tình với muôn vàn sắc điệu khác nhau mà chẳng thể nào lẫn được. “Người Nghệ” là bài thơ tự do thành công của Tuấn. Với giọng điệu trữ tình điệu nói, ngôn ngữ đặc Nghệ, hìnhảnh câu chữ từng vỉa, từng tảng như khắc như chạm, ngòi bút của Tuấn đã “cá biệt hóa” tính cách Nghệ. Người Nghệ có mặt khắp nơi, gặp người Nghệ không bình thường mà khác thường “húc” vào người Nghệ, như trâu bò “húc” vào nhau. Tính cách Nghệ khác thường “Ăn”, “Nói”, “Làm”, “Yêu” đều “phăm phăm” như ngựa tung bờm, trên hành trình bất chấp mọi trở lực. Điệp từ, điệp cấu trúc, nhịp thơ dứt khoát câu thơ ngắn gọn, như “đinh đóng cột” khẳng định tính cách khác biệt của người Nghệ. Đinh Nho Tuấn đã quan sát tinh tế từng hànhđộng, điệu bộ, cử chỉ và pha chút tếu táo bằng những hìnhảnh phóng đại: /bắt tay ngỡ bẻ xương/ cười đôi khi ướt bạn/ bộc lộ ranh giới giữa bên này là thẳng thắn chân tình bên kia là thô vụng. Tính cách Nghệ “làm hết ga, chơi tới bến, yêu tận cùng”/ Yêu chi yêu dập yêu vùi/ Ghét chi phang thẳng đến đui, đến què/. Nhưng cá biệt đến mức “xả láng”: / Hết tiền tiêu cắm cả thơ Xuân Diệu/ Ngày xông xênh giở Huy Cận làm mồi/ thì trên trái đất này không  có ở mô có giống người như người Nghệ. Thú thực tôi khoái nhất 4 câu thơ sau của Tuấn: /Vác ví dặm/ Ngâm bốn phương/ Cõng nàng Kiều/ Đi tán gái/ nhìn bề ngoài hình ảnh câu chữ có gì đó thô kệch của gã đàn ông hám gái nhưng lắng lại, ngẫm kỹ không tầm thường chút nào, bởi Kiều “nghiêng nước nghiêng thành”, tài đàn, tài thơ, trung hiếu vẹn toàn “mười phân vẹn mười ” thì “cõng Kiều đi tán gái” không phải là người thường rồi. Điều này được xác tín bởi sinh thời, Nguyễn Du về ở ẩn ở Tiên Điền đã cùng bè bạn “xăm xăm đè nẻo” Trường Lưu, Can Lộc, hát ví với thập nhị mỹ nhân phường vải Trường Lưu đó sao?

Trong hành trình hội nhập với đất nước, nhân dân với nhân loại, Đinh Nho Tuấn đã hun đúc tình yêu đất nước, quê hương, nhất là trước những biến cố ở biển Đông hay Coovid 19, “ăng ten thơ” Đinh Nho Tuấn nhạy bén đập nhịp đập cùng đất nước, thời đại. Tuấn đã viết “những vần thơ cào xé” “Những hòn đảo Tổ quốc” -   “Ngàn tiếng đời ấp ủ”:

Nếu biết đi, những hòn đảo quê hương

Sẽ hội nghị Diên Hồng trên biển rộng

Tuấn trưởng thành và tình yêu đất nước trong Tuấn lý trí, thẳm sâu, gắn liền với trách nhiệm công dân.

Tuấn đã phát triển đến đỉnh cao hồn cốt Nghệ và trên hành trình tận cùng bản sắc dân tộc, Tuấn gặp nhân loại. Cũng như vậy, soi vào nhân loại vào các dân tộc khác, Tuấn đã thức dậy, bổ sung làm giàu có bản sắc văn hóa Nghệ. Chỉ cần một âm thanh, một hình ảnh về quê hương đã đánh thức trong Tuấn cả nỗi nhớ vô tận. Tôi muốn dừng lại ở bài “Khói rơm”. Một bài thơ 5 chữ phảng phất giặm vè xứ Nghệ. Trong 74 bài thơ 5 chữ, “Quà quê” và “Khói rơm” là 2 tác phẩm đặc sắc. Nếu quà quê thân phận, thì “Khói rơm” bay bổng, tràn đầy chất thi sĩ. Những làn khói đốt rơm rạ bay là là vào thành phố, đã khơi dậy biết bao ký ức về làng quê. Tôi yêu vô cùng bức tranh quê mà Tuấn vẽ ra trong ký ức: // Ô hay trong sương khói/ Thấy đàn trâu ra đồng/ Con đê lười nằm nghỉ/ Tiếng sáo diều thinh không// Ô hay trong sương khói/ Mẹ nhen lửa lá ngô/ Nước chè lên xanh ngắt/ Con giếc quẫy mặt hồ// Ô hay, trong sương khói/ Ễnh ương rúc tù và/ Nỉ non buồn lũ dế/ Rô đồng vẫy đuôi xa//

Chính bản sắc văn hóa đã giúp Tuấn hòa nhập chứ không hòa tan. Những năm tháng học ở Liên Xô (cũ), Tuấn đã mang văn hóa Hồng La hòa nhập với văn hóa Slavơ. Có một chi tiết thú vị là người yêu và sau này là người bạn đời của Tuấn có tên Việt là Lê Nghiêm và tên Nga là Lê Na. Lê Nghiêm - Lê Na với trái tim thắp lửa đã sưởi ấm tâm hồn Tuấn đi qua mùa đông tuyết trắng, băng giá xứ người.

Tuấn ao ước, con cò ca dao, dân ca nước Việt thân yêu sẽ sải cánh cùng “Đàn sếu” thơ Rasul Gamzatov. Không phải con cò thơ nào cũng cùng hành trình với đàn sếu thi ca Nga. Nhưng có những con cò trắng thơ Đinh Nho Tuấn đã hòa nhập với “Đàn sếu” thơ ca Nga. Không vui sao được!?

Hà Tĩnh 11/6/2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm