TIN TỨC

Người giữ lại những vần thơ người nhất

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-08-10 07:33:51
mail facebook google pos stwis
2146 lượt xem

LÊ VĂN VỴ

Sinh ra bên dòng sông Ngàn Phố, huyện miền núi Hương Sơn, nhưng tuổi thơ Tuấn theo bố ra thành phố. Bố Tuấn, nhà báo Đinh Nho Liêm - TBT báo Nghệ Tĩnh và là nhà thơ với bút danh Minh Nho có nhiều đóng góp cho Thơ ca, báo chí Cánh mạng.


4 trong 5 tập thơ đã xuất bản của nhà thơ
Đinh Nho Tuấn

Tốt nghiệp THPT, Tuấn theo học Khoa Luật, Trường ĐH Tổng hợp quốc gia Odessa (1986-1991). Tháng 9/1993-9/1996, Tuấn là nghiên cứu sinh tại Trung tâm nghiên cứu quan hệ quốc tế kinh tế, chính trị, Học viện hàn lâm khoa học Moscow, Liên bang Nga và tiếp tục làm việc tại thành phố Moscow, Liên bang Nga 3 năm. Tháng 9/1999, Tuấn về TP Hồ Chí Minh, làm việc tại Khoa Luật quốc tế Trường ĐH Luật TP Hồ Chí Minh. Hai năm sau (2001), Tuấn trở lại LB Nga. Từ tháng 9/2003 đến nay Tuấn sống và làm việc tại TP. Hồ Chí Minh.

Hiện nay, Tuấn là hội viên chuyên ngành Thơ, Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh. Những tác phẩm đã xuất bản: “Em hãy cho anh vội” (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2018); “Em tôi” (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2019); “Díu dan với núi sông” (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2020); “Ngàn tiếng đời ấp ủ” (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2022). GS Phong Lê trong “Lời bạt” cho tập thơ ”Em hãy cho anh vội” nhận xét: “Tuấn đã tạo được một thế giới nghệ thuật riêng, đối với tôi là rất ấn tượng ở hồn thơ, giọng thơ không giống, không lẫn với bất cứ ai trong đội ngũ làm thơ hôm nay…”.

Năm 2022, Đinh Nho Tuấn được Hội nhà văn TP Hồ Chí Minh tặng thưởng thơ.

Thật có lý khi nói rằng: Không phải Tuấn làm thơ mà thơ lựa chọn Tuấn để trao bút.  “Ngàn tiếng đời ấp ủ” bấy lâu nay đã tuôn trào cảm xúc, thăng hoa, gọi về lớp lớp sóng ngôn từ để cho ra đời 332 bài thơ với 4 tập thơ xuất hiện dày đặc chỉ trong 5 năm. Trong bài thơ “Xứ Nghệ”, Đinh Nho Tuấn đã phân thân nhập vai nhân vật trữ tình lạ lẫm và ngạc nhiên khi “xúc thơ từng đọi” :/ Anh ơi, chơ răng mà anh xúc thơ từng đọi/ Đổ xuống mùa em say cả ánh trăng rằm!/. Người thơ như người nông dân, “xúc… thơ” dễ dàng như người nông dân xúc lúa gạo.  Tuấn hồn nhiên làm thơ. “Những vần thơ cào xé” từ gan ruột máu thịt. Dấu vết tham dự của kỹ thuật cấu trúc bài thơ cũng như tổ chức khổ, câu dòng thơ không lộ diện. Hình như những câu thơ hồn nhiên tuôn chảy theo cảm xúc và khi nào cảm xúc không còn tuôn trào, bài thơ kết thúc. Do vậy, dòng, câu trong thơ Tuấn chủ yếu là vài chục câu trở lên, thậm chí có những bài trên 100 câu, như “Tổ quốc và tôi” 128 câu thơ và “Lễ cưới vui vẻ” 252 câu thơ. Điều đáng nói là những bài thơ trường thiên của Tuấn từ câu đầu tiên đến câu kết thúc vẫn tràn trề cảm xúc, không gây nên sự hụt hững trong lòng độc giả. Không có nội lực thơ mạnh mẽ, không thể tạo nên được thế giới thơ đa dạng, sinh động hấp dẫn!

Mặt khác, với Tuấn thơ là tinh lọc, làm thơ là “vót thơ”, viết những câu thơ bạc đầu” và “những câu thơ thít cổ ta rồi” không hề dễ dãi!

Những sóng thơ ào ạt tuôn chảy tràn ra những quy phạm, những khuôn mẫu tìm đến thể thơ trữ tình điệu nói tự do với những câu thơ dài ngắn khác nhau, nhịp điệu biến hóa mang hơi thở nhịp điệu của đời sống hiện sinh. Có một xứ Nghệ làm nên dòng chảy sông thơ Đinh Nho Tuấn. Dòng sông đó bắt nguồn từ Ngàn Phố, Ngàn Sâu chảy qua sông La, sông Lam, soi bóng Hồng Lĩnh, uốn lượn giữa những xóm làng trù mật, giữa đôi bờ ví dặm, ca trù mà nên duyên câu Kiều, lục bát, chảy mãi đến vô cùng, vô tận…

Quê Tuấn nằm bên tả ngạn sông Ngàn Phố, hạ Hương Sơn, vùng đất “địa linh nhân kiệt”. Nhưng từ nhỏ, Tuấn theo cha ra rời làng ra phố. Tốt nghiệp THPT, Tuấn xa xứ, tu nghiệp ở Liên xô (cũ), trở về nước lập nghiệp ở TP Hồ Chí Minh, nên Tuấn cõng quê hương, xứ sở và mang hồn cốt quê hương suốt với hành trình. Do vậy, xứ Nghệ, quê hương là không gian ký ức, sâu đậm, ám ảnh, sống động với những đối nghịch: vừa hùng vĩ vừa hiểm trở; vừa thơ mộng vừa khắc nghiệt; vừa tĩnh, vừa động; vừa tồn tại vừa phát triển; vừa mất vừa còn vừa khoảnh khắc vừa vĩnh cửu; vừa đi qua chiến tranh, tang tóc, hòa bình đã đến nhưng hạnh phúc còn là một hành trình…Ở đấy, núi Hồng sông La, Tam Soa, Giang Đình vv… không chỉ là địa danh thiên nhiên mà còn là tâm thức văn hóa, tâm linh, là thơ ca nhạc họa được sinh ra, nuôi dưỡng bởi con người: /Núi làm cha/Đất làm mẹ/Cha mẹ sinh ra dòng sông con người/(Quê hương).

Có một Hồng Lĩnh rất khác biệt trong thơ Tuấn:/Hồng Lĩnh chôn chân không trốn chạy/Núi nhấp nhô đánh võng trú bên trời/(Quê hương) và xứ sở “chảo lửa túi mưa”,  nắng nóng: “ hững con đường khạc lửa”; “bão chồng bão, lũ chồng lũ” hiện lên ám ảnh trong thơ Tuấn: /Những con sông không uống dùm hết nước/Thương sông Lam chết đuối cả trong vườn/ (Quê hương - Díu dan với núi sông).

Trong sự biến thiên của lịch sử, vô thủy, vô chung của thời gian, QUÊ với Tuấn là LÀNG; LÀNG QUÊ, chứa đựng biết bao vỉa tầng văn hóa; là cõi đi về, vừa cố hữu vừa thay đổi với số phận gắn chặt với số phận con người. Những con người xứ Nghệ mang những tính cách đối nghịch, ranh giới thật mong manh giữa cách tân và bảo thủ; anh hùng và ương gàn; quyết liệt và liều lĩnh; lạnh lùng và nồng ấm; hiện thực nghiệt ngã và lãng mạn bay bổng.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa tinh tế nhận xét: ”Đặc sắc của xứ Nghệ là người Nghệ. Đặc sản xứ Nghệ cũng là người Nghệ. Tôi và anh trai; nhà thơ Trần Nhuận Minh, mỗi lần đi qua cầu Bến Thủy bao giờ cũng ngã mũ, vì bên kia sừng sững 99 ngọn Hồng Lĩnh, là thông Ngàn Hống với những Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ…”.

Trong thơ Đinh Nho Tuấn có người Nghệ ở lại và người Nghệ ra đi. Người Nghệ ở lại không chỉ là những người thân yêu, ruột thịt: ông, bà, cha mẹ, chị em, con cháu mà còn là những người vô danh, những người đã khuất linh hồn họ hóa vào làng quê, đồng ruộng, sông núi.  Những người nhà quê đối mặt với chiến tranh, tang tóc, với bão lũ, với thiên nhiên nghiệt ngã, với nghèo đói và trong họ ánh lên những vẻ đẹp kiên trì, bền bỉ, ân tình, ân nghĩa, chịu thương, chịu khó, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng chưa bao giờ nguôi tắt ngọn lửa của khát vọng. Họ là nguồn cội, hồn cốt, khát vọng của quê hương. Nỗi nhớ của Tuấn về họ thật là khác biệt:

Có nỗi nhớ đè ta như hòn đá

Dằn lên ta trong vại nhút người ơi!

(Quê hương)

Nỗi nhớ sâu nặng ấy đã giúp Tuấn viết được những câu thơ hay rất thân phận. Đây là hình ảnh “Giữa trưa hè cha tôi bổ củi”: /Bổ xuống nhấc lên lưỡi rìu bóng loáng/ Đời cha tôi sét rỉ dưới lưỡi rìu/. Còn đây là thân phận chị tôi lấy chồng: “duyên tình trà trộn”, “ ép giày vẹt mòn” “lí lắc rơi”:/ Đêm đêm nằm nghe tiếng cuốc kêu bỏ vợ/ Đêm đêm nằm nghe lũ gà mái chồn chân khiếp chồng/ (Chị tôi) mà nổi da gà, sởn ốc, lạnh gáy trước nỗi bất hạnh của người phụ nữ mỏng duyên ở làng quê!

Nhưng có lẽ Tuấn đã dành những vần thơ ám ảnh cho những người nông dân, và những người tri thức ở làng quê. Những người “phận người như lá chuối”, “xanh như da bưởi”, “mười ngón tay” tua tủa ngọn khoai:

Đội mưa nắng cả khi ở trong nhà

Củ khoai quả cà làm nên vóc dáng

(Quê hương)

Những người“dân thường”, thân phận “con ong cái kiến”, là hạt cát bãi sông, khoai sắn ngoài đồng, bầu bí rau cà ngoài vườn, chắt chiu, lam lũ, cần mẫn, chịu thương chịu khó, ân tình, ân nghĩa, nhưng khi giặc ngoại xâm đến xâm phạm bờ cõi mang sức mạnh khác thường của lòng yêu nước: /Gộp cốt xương cao hơn Trường Sơn/ Gộp máu đào chảy tràn hơn sông Hồng mùa lũ/Gộp đau thương quằn lên lịch sử/ để cho: “Bốn ngàn năm đứng thẳng trường tồn”. Người nông dân Nghệ tằn tiện chắt lót nhằm“hy sinh đời bố, củng cố đời con”như một lẽ sống. Bài thơ “Quà quê” kể chuyện đứa cháu từ quê, khăn gói, mang theo can rượu, bịch kẹo cu đơ vào Sài Gòn thăm dượng với khao khát:/Bỏ nhà đi vào dượng/ Tìm mưu kế sinh nhai/ Quyết cứu mấy đứa nhỏ/ Không như bố sau này/, mặc dầu làng quê giờ đã nông thôn mới, nhưng thân phận của người nông dân vẫn quăng quật bươn chải, lăn lóc sang Lào “buôn gỗ”, “nấu rượu cả ngày”, chăn  vịt: ”Lơ thơ mấy lều hoang”mà vẫn không thoát nghèo. Đinh Nho Tuấn đã nhìn thẳng sự thật, có những phản biện bằng thơ đáng suy ngẫm. Bài thơ kết lại hình ảnh hai dượng cháu thưởng thức “Quà quê” đơn giản mà rưng rưng xúc động bởi ân tình, ân nghĩa của người nhà quê: /Cu đơ thơm mùi mía/ Hạt lạc đồng sơn khê/ Bánh tráng giòn hơn pháo/ Tròn trịa vành trăng quê/.

Những người tri thức xứ Nghệ là niềm tự hào của non nước Hồng Lam. Những Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Xuân Diệu, Huy Cận…đó là những thi sĩ đã dọn những bữa tiệc thi ca không chỉ cho các thế hệ người Việt mà còn của nhân loại. Trong thơ Tuấn, hình ảnh những ông giáo “đồ gàn xứ Nghệ” đã truyền cảm hứng cho bao thế hệ học sinh:

Bút nghiên lặng thầm ngàn sâu dâu bể

Quê hương lặng thầm, phấn bảng hát ru

(Mái tóc thu đổ- Em tôi)

Những thế hệ học sinh, bạn bè của Tuấn “dùi mài kinh sử”, “học gạo” để mong mỏi “kiếm cần câu cơm”. Những vần thơ hồi ức về bạn bè một thuở đã vượt lên đói nghèo vật chất, cơm áo gạo tiền để nuôi giấc mộng đèn sách, ôm chí lớn thành người.

Rau dưa là cái bút nghiên

Còn thêm gia vị đã nghiền thơ ra

Mắm tôm là cái dân ca

Còn thêm trái ớt ấy là tản văn

(Uống ta - Em tôi)

Mảng thơ viết về người xứ Nghệ ra đi trong hành trình hội nhập với đất nước nhân dân là mảng thành công của Tuấn. Không chỉ thời đèn sách mà sau này lập thân, lập nghiệp, Tuấn vẫn bôn ba xứ người. Vì vậy, bao nhiêu tính cách, hồn cốt người Nghệ được thể hiện ở hình tượng nhân vật trữ tình với muôn vàn sắc điệu khác nhau mà chẳng thể nào lẫn được. “Người Nghệ” là bài thơ tự do thành công của Tuấn. Với giọng điệu trữ tình điệu nói, ngôn ngữ đặc Nghệ, hìnhảnh câu chữ từng vỉa, từng tảng như khắc như chạm, ngòi bút của Tuấn đã “cá biệt hóa” tính cách Nghệ. Người Nghệ có mặt khắp nơi, gặp người Nghệ không bình thường mà khác thường “húc” vào người Nghệ, như trâu bò “húc” vào nhau. Tính cách Nghệ khác thường “Ăn”, “Nói”, “Làm”, “Yêu” đều “phăm phăm” như ngựa tung bờm, trên hành trình bất chấp mọi trở lực. Điệp từ, điệp cấu trúc, nhịp thơ dứt khoát câu thơ ngắn gọn, như “đinh đóng cột” khẳng định tính cách khác biệt của người Nghệ. Đinh Nho Tuấn đã quan sát tinh tế từng hànhđộng, điệu bộ, cử chỉ và pha chút tếu táo bằng những hìnhảnh phóng đại: /bắt tay ngỡ bẻ xương/ cười đôi khi ướt bạn/ bộc lộ ranh giới giữa bên này là thẳng thắn chân tình bên kia là thô vụng. Tính cách Nghệ “làm hết ga, chơi tới bến, yêu tận cùng”/ Yêu chi yêu dập yêu vùi/ Ghét chi phang thẳng đến đui, đến què/. Nhưng cá biệt đến mức “xả láng”: / Hết tiền tiêu cắm cả thơ Xuân Diệu/ Ngày xông xênh giở Huy Cận làm mồi/ thì trên trái đất này không  có ở mô có giống người như người Nghệ. Thú thực tôi khoái nhất 4 câu thơ sau của Tuấn: /Vác ví dặm/ Ngâm bốn phương/ Cõng nàng Kiều/ Đi tán gái/ nhìn bề ngoài hình ảnh câu chữ có gì đó thô kệch của gã đàn ông hám gái nhưng lắng lại, ngẫm kỹ không tầm thường chút nào, bởi Kiều “nghiêng nước nghiêng thành”, tài đàn, tài thơ, trung hiếu vẹn toàn “mười phân vẹn mười ” thì “cõng Kiều đi tán gái” không phải là người thường rồi. Điều này được xác tín bởi sinh thời, Nguyễn Du về ở ẩn ở Tiên Điền đã cùng bè bạn “xăm xăm đè nẻo” Trường Lưu, Can Lộc, hát ví với thập nhị mỹ nhân phường vải Trường Lưu đó sao?

Trong hành trình hội nhập với đất nước, nhân dân với nhân loại, Đinh Nho Tuấn đã hun đúc tình yêu đất nước, quê hương, nhất là trước những biến cố ở biển Đông hay Coovid 19, “ăng ten thơ” Đinh Nho Tuấn nhạy bén đập nhịp đập cùng đất nước, thời đại. Tuấn đã viết “những vần thơ cào xé” “Những hòn đảo Tổ quốc” -   “Ngàn tiếng đời ấp ủ”:

Nếu biết đi, những hòn đảo quê hương

Sẽ hội nghị Diên Hồng trên biển rộng

Tuấn trưởng thành và tình yêu đất nước trong Tuấn lý trí, thẳm sâu, gắn liền với trách nhiệm công dân.

Tuấn đã phát triển đến đỉnh cao hồn cốt Nghệ và trên hành trình tận cùng bản sắc dân tộc, Tuấn gặp nhân loại. Cũng như vậy, soi vào nhân loại vào các dân tộc khác, Tuấn đã thức dậy, bổ sung làm giàu có bản sắc văn hóa Nghệ. Chỉ cần một âm thanh, một hình ảnh về quê hương đã đánh thức trong Tuấn cả nỗi nhớ vô tận. Tôi muốn dừng lại ở bài “Khói rơm”. Một bài thơ 5 chữ phảng phất giặm vè xứ Nghệ. Trong 74 bài thơ 5 chữ, “Quà quê” và “Khói rơm” là 2 tác phẩm đặc sắc. Nếu quà quê thân phận, thì “Khói rơm” bay bổng, tràn đầy chất thi sĩ. Những làn khói đốt rơm rạ bay là là vào thành phố, đã khơi dậy biết bao ký ức về làng quê. Tôi yêu vô cùng bức tranh quê mà Tuấn vẽ ra trong ký ức: // Ô hay trong sương khói/ Thấy đàn trâu ra đồng/ Con đê lười nằm nghỉ/ Tiếng sáo diều thinh không// Ô hay trong sương khói/ Mẹ nhen lửa lá ngô/ Nước chè lên xanh ngắt/ Con giếc quẫy mặt hồ// Ô hay, trong sương khói/ Ễnh ương rúc tù và/ Nỉ non buồn lũ dế/ Rô đồng vẫy đuôi xa//

Chính bản sắc văn hóa đã giúp Tuấn hòa nhập chứ không hòa tan. Những năm tháng học ở Liên Xô (cũ), Tuấn đã mang văn hóa Hồng La hòa nhập với văn hóa Slavơ. Có một chi tiết thú vị là người yêu và sau này là người bạn đời của Tuấn có tên Việt là Lê Nghiêm và tên Nga là Lê Na. Lê Nghiêm - Lê Na với trái tim thắp lửa đã sưởi ấm tâm hồn Tuấn đi qua mùa đông tuyết trắng, băng giá xứ người.

Tuấn ao ước, con cò ca dao, dân ca nước Việt thân yêu sẽ sải cánh cùng “Đàn sếu” thơ Rasul Gamzatov. Không phải con cò thơ nào cũng cùng hành trình với đàn sếu thi ca Nga. Nhưng có những con cò trắng thơ Đinh Nho Tuấn đã hòa nhập với “Đàn sếu” thơ ca Nga. Không vui sao được!?

Hà Tĩnh 11/6/2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm