TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Thơ ca TPHCM đương đại: Từ bản sắc đô thị đến những chuyển động thẩm mỹ mới

Thơ ca TPHCM đương đại: Từ bản sắc đô thị đến những chuyển động thẩm mỹ mới

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-03-20 15:18:30
mail facebook google pos stwis
112 lượt xem

Từ góc nhìn lý luận – phê bình, TS Hà Thanh Vân phác thảo diện mạo thơ ca đô thị TP.HCM đương đại như một không gian thẩm mỹ đang vận động mạnh mẽ giữa truyền thống và hiện đại. Bài viết, đăng trên Tạp chí Văn nghệ TP.HCM số ra ngày 12/3/2026, không chỉ nhận diện những chuyển biến về đề tài, ngôn ngữ và hình thức nghệ thuật, mà còn gợi mở những vấn đề về bản sắc và vai trò của thơ ca trong đời sống đô thị hôm nay. Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

HÀ THANH VÂN

Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là trung tâm kinh tế, chính trị năng động bậc nhất cả nước mà còn là một trung tâm văn hóa rực rỡ, nơi hội tụ và lan tỏa những luồng tư tưởng, trào lưu nghệ thuật đa dạng. Trong dòng chảy hối hả của nhịp sống đô thị ấy, thơ ca không hề bị lãng quên hay tan biến; mà ngược lại, nó đang tự làm mới mình để trở thành tấm gương phản chiếu trung thực nhất những rung động, ưu tư và cả những rạn nứt trong tâm hồn con người hiện đại.

Nếu như thơ ca giai đoạn trước thường nghiêng về cảm hứng sử thi, những tiếng lòng chung của thời đại, thì thơ ca đô thị TPHCM đương đại lại dấn thân sâu hơn vào những vỉa tầng của đời sống cá nhân và thế sự khách quan. Đó là một không gian nghệ thuật đầy ắp những va đập, giữa truyền thống hào sảng và hiện đại gấp gáp, giữa vẻ hào nhoáng của những tòa cao ốc và nỗi cô đơn sát sườn của những thân phận nhập cư, giữa thực tại trần trụi và thế giới ảo đầy biến động.

TS Hà Thanh Vân - tác giả bài viết.

Viết về thơ ca đô thị TPHCM hiện nay không chỉ là công việc định danh các tác giả, tác phẩm, mà còn là nỗ lực nhận diện một hệ sinh thái thẩm mỹ mới. Ở đó, ngôn ngữ thơ đã thoát ly khỏi những khuôn mẫu ước lệ để khoác lên mình chiếc áo của đời thường, của hơi thở phố phường và những trải nghiệm sinh tồn mãnh liệt. Bài viết này mong muốn phác thảo một diện mạo chung về dòng thơ đô thị phương Nam trong giai đoạn đương đại, qua đó khám phá những chuyển dịch quan trọng trong tư duy nghệ thuật và bản sắc của người nghệ sĩ giữa lòng một đô thị không ngủ, bởi vì xét cho cùng, nhà thơ, cho dù sinh sống ở nơi nào, họ vẫn cứ làm thơ, chỉ là ở đô thị thì sẽ có phần khác biệt.

Thành phố kẻ làm thơ

Đêm mơ tơ nhện

Biển cồn cào giăng lưới trăng sao

(Hoài niệm thành phố tuổi thơ – Lê Thiếu Nhơn).
 

Không gian đô thị và những chuyển biến trong tâm thế con người hiện đại

Trong tiến trình vận động của văn học đương đại, không gian không còn đơn thuần là cái nền địa lý hay bối cảnh khách quan, mà đã trở thành một không gian ký hiệu mang đậm dấu ấn tư tưởng của tác giả. Với một thực thể đặc thù như TPHCM, nơi hội tụ của những giao thoa, tiếp biến và cả những đứt gẫy, đổ vỡ văn hóa, không gian đô thị trong thơ ca khoảng 10-20 năm trở lại đây hiện lên như một nhân vật đa diện, vừa bao dung, hào sảng, vừa đầy rẫy những áp lực sinh tồn.

Trước hết, đó là sự kiến tạo một hệ thống biểu tượng đô thị mới. Thơ ca không còn đắm mình trong những ước lệ truyền thống với những mã biểu tượng lãng mạn như thời Thơ Mới 1930 – 1945 hay mã biểu tượng anh hùng như trong giai đoạn 1945 – 1975, mà trực diện đối mặt với thực tại trần trụi của đô thị. Những con hẻm sâu hút, những dòng xe kẹt cứng dưới cái nắng nung người, những tòa nhà kính soi bóng xuống dòng kênh đang hồi sinh, những con tàu trên sông nước... tất cả bước vào thơ với nguyên trạng vẻ bụi bặm và náo nhiệt của nó. Trong thơ của các tác giả như Phan Hoàng, Lê Thiếu Nhơn, Nguyễn Đăng Khoa… đô thị là một máy xay khổng lồ, nơi con người vừa nỗ lực hòa nhập, vừa không ngừng chất vấn bản sắc cá nhân giữa những khối bê tông vô cảm.

Những toà nhà tầng tầng mọc ngược đáy sông

nghiêng nghiêng cười tỏa bóng uy nghi thành phố

Những con tàu khổng lồ úp mặt mây trắng

nghênh ngang nở những tràng cười đập vào bờ xanh

 

Một đàn chim xuyên qua mặt gương loáng bạc

xuyên qua trăng non sóng sánh ánh đèn

ríu rít tiếng cười trốn tìm thơ dại

(Tiếng cười trên sông Sài Gòn – Phan Hoàng)

Không gian thơ đương đại đô thị là sự đối lập gay gắt giữa vẻ hoa lệ và những góc khuất thân phận. Đọc thơ TPHCM hôm nay, ta bắt gặp một cái nhìn nhân văn sâu sắc hướng về phía những vỉa hè sinh kế. Đó là sự va đập giữa ánh sáng neon rực rỡ của các trung tâm thương mại với bóng tối lặng lẽ trong căn phòng trọ của người nhập cư. Đô thị hiện lên như một mê lộ mà ở đó, con người dễ dàng bị choáng ngợp và lạc lối. Các nhà thơ không né tránh những mặt trái của đô thị hóa; trái lại, họ sử dụng chúng như một chất liệu để tạo nên tính hiện thực gai góc, buộc người đọc phải suy ngẫm về cái giá của sự phát triển, sự thay đổi cũng như những góc khuất phận người.

Mỗi ngày đối phó với những nỗi lo vô hình

Bạn châm giùm ta điếu thuốc

Rít giùm ta chút khói

Thổn thức cùng ta những mối đi về

Mình lướt vội từng sợi bê tông

Người ta găm vào chân những mảng màu sắc lạnh

Nhân danh hiện đại - văn minh - đô thị - sinh thái - thiên nhiên…

Những khái niệm mĩ miều xanh lòng và đau lòng

(Giấc mơ lênh đênh – Nguyệt Phạm)

Một điểm cốt lõi nữa chính là trạng thái cô đơn giữa đám đông của con người đô thị. Khi không gian vật lý bị nén chặt, con người lại có xu hướng giãn cách về tâm hồn. Nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh, Trần Lê Sơn Ý, Nguyễn Phong Việt, Đào Phong Lan… và nhiều nhà thơ khác thường xuất hiện trong tư thế của một người quan sát cô độc. Họ hiện diện giữa những ngã tư đèn đỏ, trong những quán cà phê không tên hay trên những ban công nhà cao tầng để tự đối thoại với chính mình. Nỗi cô đơn ở đây không phải là sự ủy mị, yếu đuối mà là một phản xạ văn hóa, một nỗ lực để giữ gìn cái tôi nguyên bản trước sức ép của nhịp sống số và tốc độ vận động chóng mặt của thành phố. Chúng ta thấy một Inrasara phản biện đầy sắc sảo về quá trình đô thị hóa, một Lê Thiếu Nhơn trăn trở với sự chật chội của không gian sống, hay một Trần Lê Sơn Ý tĩnh lặng tìm kiếm những vệt nắng trên ban công chung cư.

Có thể nói, không gian đô thị trong thơ ca TPHCM đương đại đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ không gian miêu tả đô thị sang không gian tâm tưởng con người. Thành phố không chỉ được nhìn bằng mắt, mà được cảm nhận bằng những sang chấn của hệ thần kinh, bằng nỗi khao khát được kết nối và được thấu hiểu giữa một thực tại đầy biến động.
 

Những cách tân về hình thức nghệ thuật và sự biến đổi của ngôn ngữ thơ

Nếu như nội dung của thơ ca đô thị TPHCM đương đại là một cuộc dấn thân vào những vỉa tầng tâm lý phức tạp, thì hình thức nghệ thuật chính là cuộc cách mạng để chuyển tải trọn vẹn những xáo động đó. Ở giai đoạn này, chúng ta chứng kiến sự phá vỡ các khuôn mẫu cổ điển để nhường chỗ cho những cấu trúc tự do, phóng khoáng và giàu tính trải nghiệm.

Có sự xâm lấn của ngôn ngữ đời thường và chất liệu văn hóa đại chúng vào thơ ca đương đại. Ngôn ngữ thơ ca TPHCM hôm nay rũ bỏ vẻ đài các, ước lệ để khoác lên mình lớp áo của đời sống thực tại. Đó là sự xuất hiện của các khẩu ngữ, từ lóng, thuật ngữ công nghệ và cả những từ ngữ mang đậm phong vị phương Nam, bình dân, giản dị, thậm chí bộc tuệch nhưng đầy sức sống. Các nhà thơ không ngần ngại đưa vào tác phẩm những âm thanh của đường phố, những mẩu đối thoại rời rạc hay những ký hiệu của thời đại số. Việc phi thơ hóa ngôn ngữ này không làm thơ rẻ rúng hay kém đi, mà trái lại, nó tạo ra một cầu nối trực diện, giúp thơ chạm sát vào da thịt của đời sống đô thị, biến mỗi bài thơ thành một lát cắt chân thực của hiện thực khách quan.

Anh tặng em bản đồ lô cốt

để cho em di chuyển được đúng giờ

đường Sài Gòn dạo này đang thẩm mỹ

chạm chỗ nào cũng nhạy cảm, rất khó… yêu.

(Lô cốt tình yêu – Ngô Thị Hạnh)

Bên cạnh đó là sự lên ngôi của các cấu trúc thơ tự do và thơ văn xuôi. Đô thị với nhịp sống gấp gáp, những va đập ngẫu nhiên và sự đứt gãy trong tư duy đã không còn phù hợp với những thể thơ có vần luật chặt chẽ. Thơ đương đại TPHCM có xu hướng tìm đến thơ tự do, thơ văn xuôi hoặc những cấu trúc phi tuyến tính. Những câu thơ ngắn dài bất nhất, những khoảng trắng cố ý, hay cách xuống dòng đột ngột chính là sự mô phỏng nhịp thở hổn hển của phố phường và sự bất an trong tâm trí con người. Trong các thể nghiệm của một số nhà thơ, ta thấy sự phá vỡ ranh giới giữa thơ và văn xuôi, giữa thơ và các loại hình nghệ thuật khác, tạo ra một không gian diễn xướng của ngôn từ hơn là một văn bản đọc truyền thống.

Tư duy thơ và hình ảnh thơ trong đô thi đương đại còn mang tính trực giác và điện ảnh. Ảnh hưởng của văn hóa thị giác đã tác động sâu sắc đến cách kiến tạo hình ảnh trong thơ đô thị. Hình ảnh thơ không còn dừng lại ở mức độ biểu tượng tĩnh mà mang tính động, giống như những cú cắt cảnh trong điện ảnh. Người đọc bắt gặp những hình ảnh gai góc, lạ hóa, đôi khi là những liên tưởng bạo liệt về cơ thể con người, về sự đổ nát hay sự tái cấu trúc của các không gian đô thị. Điều này cho thấy tư duy nghệ thuật đã chuyển từ cảm nhận bằng tâm hồn sang quan sát bằng thị giác và phân tích bằng lý trí.

Nhưng bên cạnh đó, vẫn có chỗ đứng cho ngôn ngữ thơ ca mang vẻ đẹp lãng mạn truyền thống, như để thấy rằng, mọi đổi thay vẫn bắt đầu từ những nền tảng. Mùa đông là tứ thơ quen thuộc, song để có một lát cắt mùa đông mỏng thì lại cần đến sự thấu cảm tinh tế của nhà thơ.

Mùa đông như dải lụa

Về trên thành phố rồi…

Bên đường nhặt chiếc lá

Chợt thấy mỏng bàn tay

(Mùa đông mỏng – Trần Lê Khánh)

Cuối cùng là sự xuất hiện của thơ đa phương tiện (Multimedia Poetry) và sự tương tác số. Trong lòng một đô thị công nghệ như TPHCM, thơ không chỉ nằm trên giấy. Nó hiện diện trên các nền tảng mạng xã hội, kết hợp với hình ảnh đồ họa, âm nhạc đương đại và nghệ thuật trình diễn. Sự thay đổi về phương thức tiếp cận này đã làm thay đổi cả cấu trúc bên trong của bài thơ, ngắn gọn hơn, giàu tính biểu tượng hơn và có độ mở tối đa để bạn đọc tham gia vào quá trình đồng sáng tạo.

Như vậy, những cách tân về nghệ thuật của thơ ca đô thị TPHCM hiện nay không chỉ là sự thay đổi về kỹ thuật, mà chính là sự tự thân vận động để tương thích với một thời đại mới, thời đại mà con người không chỉ sống trong không gian vật lý, mà còn sống trong một mạng lưới các ký hiệu và dòng chảy không ngừng của thông tin.
 

Điểm tựa cho thơ ca đô thị đương đại

Trong dòng chảy hối hả của những khối bê tông, những đại lộ rực rỡ và cả những con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo, thơ ca đô thị đương đại đã nảy mầm và vươn lên như một nhu cầu tự thân để cân bằng lại đời sống tinh thần của con người hiện đại. Ở đó, vai trò của Hội Nhà văn TPHCM cùng các hoạt động văn học trọng điểm đã trở thành máy điều hòa và trạm tiếp năng lượng không thể thay thế.

Hội Nhà văn TPHCM không chỉ dừng lại ở vai trò một tổ chức nghề nghiệp, mà còn là một thực thể văn hóa sống động, giúp định hình diện mạo thơ ca đô thị. Giữa một không gian đô thị dễ làm con người cảm thấy bị nuốt chửng bởi tốc độ và sự phân mảnh, Hội đã tạo ra những diễn đàn để các thế hệ cầm bút kết nối. Cuộc thi thơ “Nhân nghĩa đất phương Nam” lần 1 và 2 do Hội Nhà văn TPHCM phát động là một minh chứng hùng hồn cho việc thơ ca không hề xa rời thực tại. Cuộc thi đã vượt ra khỏi khuôn khổ của một giải thưởng văn chương thông thường để trở thành một liệu pháp tinh thần quý giá.

Thông qua những vần thơ của các tác giả, hình ảnh thành phố hiện lên không chỉ có kẹt xe và khói bụi, mà còn ngời sáng vẻ đẹp của sự bao dung, tính nghĩa hiệp. Những bữa cơm 0 đồng, những chuyến xe nghĩa tình đi vào thơ ca một cách tự nhiên, khẳng định rằng giữa nhịp sống nghiệt ngã nhất, lòng trắc ẩn chính là sợi dây liên kết bền chặt nhất của cộng đồng đô thị. Đây chính là chất liệu đô thị nhân văn, một đặc sản văn hóa riêng biệt của vùng đất phương Nam. Cũng từ cuộc thi thơ này và các hoạt động khác của Hội Nhà văn TPHCM, các tuyển tập thơ “Tay người đô thị đầy dấu nắng khuya”, “Thơ phổ nhạc - 50 năm thành phố Hồ Chí Minh”… cùng  nhiều tuyển thơ khác ra đời, góp phần khắc họa chân dung một đội ngũ nhà thơ đô thị.

Bên cạnh các cuộc thi, Ngày thơ Việt Nam tại TPHCM đã biến thơ ca thành một lễ hội văn hóa đại chúng. Việc đưa thơ ra khỏi các trang sách để trình diễn tại các không gian mở đã giúp mềm hóa những khối bê tông vô hồn. Sự kết hợp giữa thơ với âm nhạc, hội họa và nghệ thuật sắp đặt đã thu hút đông đảo công chúng trẻ. Tại đây, ranh giới giữa tác giả và độc giả bị xóa nhòa, thơ ca trở thành một phương thức giao tiếp hiện đại, giúp con người đô thị định vị bản sắc cá nhân giữa dòng xoáy của toàn cầu hóa. Sự hiện diện của những nhà thơ lão thành như Hoài Vũ, Nguyễn Duy, Tần Hoài Dạ Vũ… bên cạnh những cây bút Gen Z cho thấy một mạch ngầm văn hóa bền bỉ, chưa bao giờ đứt gãy của thành phố này.

Thơ ca đô thị TPHCM đương đại, dưới sự dẫn dắt và tiếp sức của Hội Nhà văn TP, đã và đang thực hiện tốt sứ mệnh của mình, đó là giữ gìn phần hồn cho thành phố. Nó chứng minh rằng, dù đô thị có phát triển đến đâu, con người vẫn luôn cần những khoảng lặng nhân văn để trú ngụ, để thấu cảm và để yêu thương. Những cuộc thi, những ngày hội thơ chính là lời khẳng định: Sài Gòn – TPHCM không chỉ sống bằng hơi thở công nghiệp, mà còn sống bằng nhịp đập của những trái tim biết rung động trước cái đẹp và lòng nhân ái.

Thơ ca đô thị TPHCM đương đại không chỉ là một hiện tượng văn học khu vực mà còn là bộ phận tiên phong, nhạy bén nhất trong việc phản ánh những biến chuyển của đời sống Việt Nam. Thơ ca đã định vị được một hệ giá trị thẩm mỹ mới gắn liền với đô thị. Đó không còn là cái nhìn lãng mạn hóa hay sử thi hóa, mà là cái nhìn hiện thực, đa chiều và trực diện. Thành phố Hồ Chí Minh hiện lên trong thơ không chỉ như một đối tượng để ngợi ca mà như một không gian để đối thoại, nơi con người không ngừng nỗ lực tìm kiếm sự cân bằng giữa những áp lực của tốc độ, công nghệ và những giá trị nhân bản cốt lõi.

Sự trỗi dậy của cái tôi cá nhân đa dạng cũng phải được kể đến. Thơ ca đô thị giai đoạn này đã cho thấy một phổ biên độ rộng lớn của cảm xúc, từ nỗi đơn độc sâu thẳm của các nhà thơ nữ, tính phản biện xã hội quyết liệt của các cây bút nam, đến sự phá cách, phóng khoáng của thế hệ trẻ. Chính sự đa dạng này đã làm nên sức sống bền bỉ và sự hấp dẫn riêng biệt của văn học phương Nam, góp phần làm phong phú thêm diện mạo của thơ ca cả nước.

Sự dấn thân vào những thể nghiệm hình thức táo bạo là điều đáng ghi nhận. Việc phá vỡ các khuôn mẫu vần luật truyền thống, đưa ngôn ngữ đời thường vào thơ và tận dụng sức mạnh của các phương tiện truyền thông hiện đại đã giúp thơ ca rút ngắn khoảng cách với độc giả. Thơ trở nên gần gũi, trở thành tiếng nói đồng hành cùng con người trong những thăng trầm của cuộc sống hằng ngày.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, dòng thơ này cũng đứng trước những thách thức về sự vụn vặt hóa, tầm thường hóa, hay nguy cơ đánh mất bản sắc trong cơn lốc thời hội nhập. Nhưng nhìn chung, thơ ca đô thị TPHCM vẫn đang giữ vững vai trò là nơi khởi phát của những thể nghiệm mới, là nơi khởi phát cho những ý tưởng nghệ thuật giàu tính sáng tạo.

Có thể khẳng định rằng thơ ca đô thị TP.HCM chính là bản hòa âm đầy bản sắc của một vùng đất không bao giờ ngủ. Nó là minh chứng cho thấy, dù trong bất kỳ thời đại nào, dù phố phường có ồn ã hay bụi bặm đến đâu, con người vẫn luôn cần thơ ca như một khoảng lặng để thấu hiểu và yêu thương chính mình cũng như nơi mình đang sống.

Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TP.HCM số 199, ra ngày 12/3/2026

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm