TIN TỨC

Tình yêu bển đảo trong thơ Lê Tiến Lợi

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-01-27 21:10:21
mail facebook google pos stwis
1125 lượt xem

Nhà thơ Lê Tiến Mợi là một trong những người gắn bó lâu năm với nghiệp văn chương. Anh đã có số lượng tác phẩm khá lớn, trong đó một số sáng tác của anh đã chiếm được cảm tình của người đọc. Sau đây xin trân trọng gửi tới Ban Biên tập Văn chương thành phố Hồ Chí Minh bài viết về tình yêu biển đảo trong thơ anh. Xin chân thành cảm ơn Ban Biên tập khi được cộng tác với Văn chương thành phố Hồ Chí Minh.

Nhà thơ Lê Tiến Mợi

Một ngày cuối thu, tôi ghé thăm nhà thơ Lê Tiến Mợi tại ngôi nhà riêng của anh trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Quê gốc là Thạch Hà, Hà Tĩnh nhưng sớm chọn vùng đất phương Nam làm nơi lập nghiệp, Lê Tiến Mợi đã có gần 35 năm là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Bình Dương. Sau vài câu chuyện hàn huyên, anh dẫn tôi lên thư phòng ở tầng hai. Vừa bước vào phòng, tôi bị thu hút bởi bên cạnh bàn viết là tủ sách bày các tác phẩm của anh, với 9 tập in chung và 13 tập in riêng, trong đó có 9 tập thơ.

Lê Tiến Mợi sinh ra trong một gia đình có nguồn gốc nhà nho yêu nước, nhiều đời tham gia cách mạng. Bà nội anh từng tham gia phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh, bị địch bắt, giam cầm và mất trong tù, được Bác Hồ truy tặng Kỷ niệm chương. Ông nội anh là cơ sở nuôi dấu cán bộ của Đảng, được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tặng bằng Có công với nước. Bố anh có hơn 50 năm cống hiến tài sức cho cách mạng, được Đảng, Nhà nước tặng nhiều huân, huy chương. Anh ruột anh chiến đấu, hy sinh ở Thành Cổ Quảng Trị. Truyền thống cao đẹp của gia đình đã sớm hun đúc trong anh những phẩm chất đáng quý. Từ nhỏ, Lê Tiến Mợi đã thể hiện ý chí phấn đấu và tinh thần ham học. Năm cuối trung học phổ thông, anh đã có thơ đăng trên báo Hà Tĩnh. Sau một thời gian tham gia quân ngũ, anh học qua đại học công an, đại học tổng hợp, Trung tâm bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du và có nhiều năm phục vụ trong ngành công an. Tuy vậy, anh yêu thích văn chương, báo chí và gắn bó với nghiệp cầm bút như một duyên nợ.

Lê Tiến Mợi từng tham gia viết báo và có những tác phẩm đạt chất lượng cao, được in trên báo Đảng và các tờ báo lớn ở trung ương, nhưng anh chủ yếu làm thơ, viết văn.  Đề tài trong thơ Lê Tiến Mợi khá phong phú, trong đó các tác phẩm anh viết về biển đảo tạo được sức hút đối với người đọc. Vốn là người con của vùng biển Cửa Sót, Hà Tĩnh và từng tham gia lực lượng vũ trang, Lê Tiến Mợi mang tình yêu tha thiết đổi với biển đảo và luôn hướng lòng mình về vùng biển thân yêu của Tổ quốc. Cho đến nay, anh đã có 63 bài thơ viết về đề tài này, được tập hợp trong cuốn Trường Sa trong trái tim ta, do nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2013, trong đó có 17 bài được dịch sang tiếng Anh, sáu bài đã được phổ nhạc. Hình ảnh biển cả quê hương hiện lên trong thơ anh thật đẹp. Đứng trước biển, lòng anh ngân lên niềm rung cảm, tự hào với những câu thơ có âm điệu ngọt ngào, tươi tắn:

Thạch Kim quê em đẹp tuyệt vời

Buồm căng gió lộng giữa biển khơi

Mực tôm đầy khoang thuyền cặp bến

Quê hương giàu đẹp sáng biển trời”

(Chiều khơi)

Về thăm “Đảo Nam Giới cát màu lấp lánh”, nhà thơ đắm say trước vẻ đẹp của thiên nhiện và các sản vật trong cảnh đất nước thanh bình:

“San hô trên đảo màu trắng ngọc ngà

Mọc từ đáy biển nở hoa trên cạn

Trong không gian tĩnh nhuốm màu lãng mạn

Tựa hoa ti gôn – hoài vọng đợi chờ”

(Hoa tigôn trên đảo Nam Giới)

Lê Tiến Mợi yêu biển đảo quê hương với tình yêu tha thiết và sâu lắng. Những năm tháng xa cách, lòng anh không nguôi nỗi nhớ. Anh thầm hẹn ước một ngày sẽ cùng người thương trở về thăm vùng biển quê nhà:

“Đón em về quê mẹ - Biển Thạch Khê

Ngắm quặng sắt trào lên từ đáy biển

Cảng Vũng Áng sáng bừng trong ánh điện

Đoàn tàu về cặp cảng dưới đêm trăng”

(Biển mặn tình em)

Với âm điệu sống động và những từ “trào lên”, “sáng bừng” cùng hình ảnh đêm trăng, khổ thơ vừa như một đoạn clip ngắn đặc tả cảnh sắc kỳ vĩ của biển cả, vừa nói lên tình yêu tha thiết và niềm tự hào của tác giả trước sự đẹp giàu của quê hương, đất nước.

Đứng trước biển, bằng ngòi bút tinh tế của mình, Lê Tiến Mợi đã khắc họa nên bức tranh thiên nhiên lãng mạn và đầy chất thơ, với những đợt sóng nhẹ nhàng, êm đềm như cánh tay dịu dàng đang vuốt ve bờ cát, giữa không gian vừa yên bình, vừa hư ảo, lung linh:

“Sóng vỗ về trên từng triền cát trắng

Chiều hoàng hôn gom nắng giữa biển mơ

Biển thì thầm điều gì trong sóng biếc?

Chia góc nhân tình cho trăng và thơ”               

Trong tâm thức tác giả, biển quê hương thật gần gũi, thân thương nhưng luôn  mang trong mình một vẻ huyền bí sâu xa. Sự huyền bí ấy gắn liền với những biểu tượng về cái đẹp vĩnh cửu của vũ trụ và con người là trăng, thơ và tình yêu, tạo nên một không gian đầy mơ mộng. Nhà thơ cảm thấy lòng rạo rực, băn khoăn:

“Cứ nôn nao như có gì lỗi hẹn…

Sợi tơ trời giăng giữa biển đêm trăng

Dùng dằng mãi…

                           có gì chưa trọn vẹn…?

Anh và em duyên nợ biển Thiên Cầm”

(Biển Thiên Cầm)

Càng yêu tha thiết vùng biển quê hương, Lê Tiến Mợi càng trải lòng mình với mọi miền đất nước. Anh đã đến với nhiều vùng biển từ Bắc chí Nam, đã đi tàu thủy gần 2000 cây số tới các đảo tiền tiêu của Tổ quốc. Anh hòa mình vào sóng biển Thuận An; bén duyên với vùng cửa biển Phan Rang; tự tình cùng biển Cam Ranh trong đêm trăng thơ mộng; dang vòng tay ôm Nha Trang “biển nắng”; thả hồn về Mũi Né, Ninh Chữ, Vũng Tàu; dõi mắt về ngọn “sóng hồng” Hoàng Sa; xôn xao nỗi nhớ Trường Sa yêu dấu… Một lần đến với vùng biển Đà Nẵng của “khúc ruột miền Trung”, nhà thơ hòa  lòng mình với những người đang bơi lội, vẫy vùng giữa sự vỗ về của sóng biển, và anh ngỡ hàng ngàn mái đầu vừa nhô lên khỏi mặt nước đều đang hướng mắt về một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc với lời thề son sắt thủy chung:

“Cát vẫn trắng trên biển Mỹ Khê

Em bơi trên sóng – sóng vỗ về

Nghìn cái đầu nhô lên mặt nước

Hướng mắt Trường Sa – trọn câu thề”

(Biển Mỹ Khê)

Đó là một một hình ảnh rất đẹp, rất sống động và có ý nghĩa, thể hiện sự tinh tế của tác giả. Phải có một tình yêu sâu nặng đối với biển đảo của Tổ quốc mới viết được câu thơ như vậy.      

Hình như hình ảnh của biển luôn hiện hữu trong tâm tưởng nhà thơ. Với anh, biển đảo của Tổ quốc không chỉ đẹp mà còn giàu có, với nguồn tài nguyên to lớn. Một lần, ngồi trước đại dương mênh mông, Lê Tiến Mợi mãi suy nghĩ về tình yêu, về cuộc sống, nhưng rồi trái tim anh lại hướng nhịp đập về với biển cả. Anh liên tưởng sự đẹp giàu của biển với ánh bình minh rạng ngời của quê hương, đất nước:

“Hai mươi năm một nhịp cầu

Phố xưa xao động một câu thơ tình

Đêm khuya ngắm biển một mình

Lửa hồng dầu khí hay bình minh lên?”

(Tìm trong lãng vắng)

Đến với biển Nha Trang, trong lòng nhà thơ dội lên những câu thơ hào sảng:

“Hỡi biển Nha Trang gió mát

Hãy chở chị Hằng lên

Chiếu ánh sáng trên sóng bạc

Cho tàu thuyền ta như những mũi tên

Đuổi cá kình

Vây cá thu

Làm chủ ngư trường”        

Lê Tiến Mợi không nói “chờ” mà anh gọi biển “chở chị Hằng lên”. Chữ “chở” thể hiện một tinh thần hoàn toàn chủ động. Trước mắt người đọc, hình ảnh vầng trăng vàng đang hiện dần trên đại dương mênh mông, tỏa ánh sáng xuống muôn ngàn ngọn sóng bạc thật đẹp và kỳ vĩ. Giữa không gian thơ mộng ấy, cảnh những đoàn thuyền như những mũi tên vây đuổi các đàn cá, làm chủ ngư trường tạo nên một thước phim thật sống động.

Trước mắt nhà thơ, mùa xuân về trên biển rất chậm nhưng để lại những ấn tượng không thể phai mờ, với những sắc màu lung linh, những âm thanh trong trẻo, hòa nhịp với cuộc sống con người, tạo nên một khung cảnh thật hùng tráng và rực rỡ:

“Ôi! Lạ thật!Mùa xuân về rất chậm

tiếng xuân rơi trên biển ngọc giàn khoan

biển xanh thẳm

những cánh buồm vươn ngang tầm hoài niệm

tôi với biển

biển Vũng Tàu xanh quắc màu ngọc bích

biển với người – người và biển nên thơ”

(Mùa xuân về trước biển)

Cụm từ “tiếng xuân rơi” được tác giả sử dụng thật đắc địa!

Nhân dịp kỷ niệm ngày lễ lớn của đất nước, vinh dự được tham gia phái đoàn từ đất liền ra thăm Trường Sa, nhà thơ Lê Tiến Mợi cảm thấy lòng tràn ngập niềm vui sướng, tự hào. Trên hành trình cùng con tàu rẽ sóng ra khơi, biển đảo của Tổ quốc hiện lên trước mắt anh thật lộng lẫy:

“Quốc khánh thu này rực sắc hoa                                     

Tàu anh rẽ sóng ra Trường Sa

Trên đảo Sinh Tồn hoàng hôn đẹp

Em buông cặp mắt giữa biển hoa”

Hình ảnh con tàu sẽ sóng ra khơi vừa nói lên sự mạnh mẽ, hùng dũng, vừa gợi tả  cảnh đất nước thanh bình và tư thế của những người làm chủ đại dương. Qua ngòi bút tác giả, hoàng hôn trên đảo diễn ra giữa “biển hoa” thật rực rỡ và huyền ảo, làm say đắm lòng người. Có lẽ, bên cạnh sự phản chiếu từ mặt biển bởi ánh đèn pha của con tàu và ánh đèn điện của những người “lính đảo”, sự rực rỡ, huyền diệu ấy còn là thần thái của một đêm “trời sao trên biển, biển nhân sao” như nhà thơ Huy Cận đã diễn tả trong một bài thơ nổi tiếng.

Nhưng, bên cạnh vẻ đẹp hùng vĩ, nên thơ, đảo tiền tiêu luôn phải đối mặt với bão tố, phong ba cùng sự cách chia với đất liền một khoảng không gian xa vời vợi. Đến với biển đảo mới thấy hết sự vất vả, thiếu thốn của những người chiến sỹ đang ngày đêm canh giữ phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc giữa trùng khơi. Vì sự trường tồn và hưng thịnh của đất nước, họ đã hy sinh cả tuổi thanh xuân tươi đẹp của mình. Là người từng ở trong quân ngũ, nhà thơ thấu hiểu sâu sắc sự vất vả, thiếu thốn ấy. Tự đáy lòng, anh dành cho họ niềm yêu thương, cảm phục sâu sắc thông qua sự so sánh tinh tế:

“Tôi ra biển xa đất liền nhớ mẹ

Lính trẻ Trường Sa nhớ cả quê nhà

Nhưng vì chủ quyền thiêng liêng trên biển đảo

Lý tưởng các anh trong sáng ngọc ngà”

(Trường Sa trong trái tim ta)

Đối với mỗi chúng ta, nỗi nhớ mẹ khi xa là nỗi nhớ ray rứt khôn nguôi. Nhưng, trong sự cảm nhận đầy tinh thần nhân văn của nhà thơ, những người lính đảo không chỉ nhớ mẹ mà“nhớ cả quê nhà”. Đó là tình cảm to lớn, đồng thời là sự hy sinh vô giá chỉ có ở những con người sẵn sàng dấn thân cho lý tưởng cao đẹp. Nói lên điều đó, tác giả đã thể hiện sự chia sẻ sâu sắc với nỗi niềm của người chiến sỹ và tôn vinh họ một cách trân quý nhất.

Với tình yêu và nỗi nhớ Trường Sa, mỗi khi ngắm nhìn những hạm đội hải quân của Quân đội Nhân dân Viêt Nam vượt sóng ra khơi, nhà thơ – chiến sỹ Lê Tiến Mợi lại hướng tầm mắt ra đại dương và lòng anh ngân lên những câu thơ  đầy xúc cảm:   

“Đẹp làm sao hình ảnh anh người lính biển

Những chuyến hải trình giữ gìn giới tuyến

Trăng soi đường biển tình tự đêm đêm…”

(Biển đêm đêm tình tự với mình)

Trong tâm tưởng nhà thơ, hình ảnh người lính biển thật gần gũi và cao đẹp, và  chính vì lẽ đó, thiên nhiên cũng thể hiện sự cảm phục và hết lòng hỗ trợ họ, xem họ như người bạn tâm tình. Qua những câu thơ chắt lọc từ đáy lòng, tác giả muốn gửi tới những người con thân yêu của Tổ quốc đang xem “đảo là nhà, biển cả là quê hương” những tình cảm sâu đậm nhất.

Đọc những bài thơ viết về biển của Lê Tiến Mợi, ta cảm nhận rõ những rung động chân thực và sâu sắc của anh. Những rung động đó bắt nguồn từ tình yêu, niềm tự hào về chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc trên biển đảo và những người chiến sỹ đang ngày đêm canh giữ quyền chủ quyền ấy.

Để chuyển tải nội dung trên đây, tác giả đã sử dụng các biệp pháp so sánh, suy tưởng, nhân cách hóa… khá chủ động, linh hoạt. Ngôn ngữ, hình ảnh trong thơ anh thường sinh động, súc tích và có khả năng biểu đạt cao. Nhiều tác phẩm của anh như là sự kết hợp đẹp đẽ giữa thơ, nhạc, họa và điện ảnh, làm cho câu thơ có sức lay động và lan tỏa. Tuy nhiên, bên cạnh những vần thơ vừa uyển chuyển, bay bổng, vừa có sức mạnh nội sinh, một số câu thơ của anh còn tạo cảm giác chông chênh. Có lẽ, nguồn xúc cảm sôi nổi và dồi dào của tác giả đã tạo nên sự xô đẩy ý thơ cùng ngôn từ chăng?

Thơ Lê Tiến Mợi là sự bộc bạch tư tưởng, tình cảm một cách tự nhiên, mạnh mẽ và có chiều sâu. Đọc những bài thơ viết về biển đảo của Lê Tiến Mợi, ta cảm thấy lòng ấm áp hơn. Gấp tập thơ Trường Sa trong trái tim ta của anh lại, hình ảnh tươi đẹp, hùng vĩ và giàu có của biển Việt Nam cùng những con người đang ngày đêm gìn giữ chủ quyền, khai thác tiềm năng của biển đảo như vẫn đang hiện về trong tâm thức và trước mắt ta.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm