TIN TỨC

Trần Lê Khánh: Một giây nữa là đến mai

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-05-26 10:24:02
mail facebook google pos stwis
807 lượt xem

Mai Văn Phấn

Xuất hiện trên văn đàn mới khoảng một thập kỷ gần đây, nhà thơ Trần Lê Khánh đã nhanh chóng tạo được dấu ấn riêng. Thơ anh đậm chất thiền, dung hòa triết lý phương Đông với tư duy hiện đại. Tác phẩm của anh hướng đến sự hài hòa giữa con người và vũ trụ, đồng thời khám phá chiều sâu triết lý trong những điều tưởng chừng nhỏ bé, giản dị, mở ra những tầng nghĩa phong phú. Sau tám thi tập liên tục ra mắt từ năm 2016, Trần Lê Khánh tiếp tục khẳng định vị thế của mình trong năm 2024 với thi tập "Đồng" (Nxb. Văn học). Phải nói rằng thi pháp lục bát của anh đã chín muồi trong thi tập này, với cấu trúc bốn cặp câu mỗi bài, không gây cảm giác gò bó hay khiên cưỡng mà tuôn chảy tự nhiên, tự do và giàu sức gợi, mở ra không gian suy tưởng phong phú.

Bìa tập thơ Đồng

Vẫn biết với thể thơ truyền thống như lục bát, nếu không có sự sáng tạo trong thi pháp, thơ rất dễ đi vào lối mòn, chỉ là vần điệu du dương, đèm đẹp mà sáo rỗng. Song thi tập mới này của Trần Lê Khánh, gồm 100 bài thơ mang nhan đề "Xứ", được đánh số thứ tự và phân chia thành 11 chương, thực sự là một thứ rượu nồng nàn hương vị mới lạ đựng trong chiếc bình cổ quý giá.

Mở đầu chương 1 của tập thơ "Đồng" là câu lục bát “không cần đếm cho mùa xuân/ bao nhiêu con bướm chân trần lấm hoa”, mở ra một cảnh giới hoàn toàn tự nhiên, hình ảnh trong trẻo, tứ thơ nhẹ nhàng mang hơi thở mùa xuân, nơi vạn vật thảnh thơi, phơi phới, thoát khỏi sự kiềm tỏa của lý trí. Sinh vật bé nhỏ ấy, từ khoảnh khắc hiện diện, đã dẫn dắt nhà thơ vào hành trình khám phá, nơi trời đất giao hòa, muôn vật sinh sôi. Hành trình thơ Trần Lê Khánh là cuộc viễn du qua cõi người, thiên nhiên và vũ trụ, đồng thời cũng là cuộc đối thoại sâu sắc với chính mình, với nhân sinh. Mỗi bài thơ trong tập "Đồng" là một “Xứ” – tựa khoảnh khắc lắng đọng, nơi mọi hữu thể đều sống động và đượm màu suy tưởng. Hành trình bắt đầu từ “con bướm chân trần”, biểu tượng của tự do và thơ ngây, để rồi khép lại ở chương cuối với hình ảnh “những bước chân nhỏ” nhẫn nại, cần mẫn của một chú kiến: "Con kiến buộc lại lối đi/ những bước chân nhỏ như vì sao xanh".

Riêng cái nhan đề của tập thơ đã đầy ấn tượng, khơi gợi nhiều cách tiếp cận và suy ngẫm. "Đồng", theo cảm nhận của tôi, biểu đạt hành trình đa chiều: đó là quá trình quy tâm, tỉnh ngộ, thấu hiểu, trở về, thâm nhập, gói gọn, tái tạo bản thể... Và "Đồng", cũng là sự đồng hiện. Từ điểm hội tụ, đồng hiện ấy, vạn vật lại tiếp tục chuyển dịch: triển nở, lan tỏa, tan rã, khuếch tán, phân hủy, bành trướng, truyền bá, thoái trào,... mờ nhạt dần theo dòng chảy của thời gian. Chuyển dịch này tựa như những đợt gió mùa hay cơn sóng khí hậu làm thay đổi cảnh sắc thiên nhiên, tác động đến tâm lý và thể chất con người, xáo trộn mọi nhịp điệu sinh tồn.

ta về phố xá rộn người

nắng vàng nằm gãi ngọn đồi xa xa

(Xứ 99);

 

cơn mưa đổ xuống hai vai

tôi nối tôi với một vài giọt rơi

(Xứ 96)

Biến động của thiên nhiên, vũ trụ trong những câu thơ trên thấm sâu vào tâm lý, cảm xúc và nhịp điệu sống. Những chuyển dịch ấy vừa xáo động tâm hồn vừa mở ra nhận thức về sự tồn tại và mối liên hệ bất tận giữa cái tôi và thế giới. Thiên nhiên không còn là phông nền tĩnh lặng mà trở thành nguồn năng lượng, khơi dậy, thức tỉnh và hòa quyện bản thể con người với nhịp điệu miên viễn của đời sống.

Thơ Trần Lê Khánh là dòng chảy của tâm thức, dẫn dắt người đọc qua nhiều tầng không gian và thời gian. Hành trình ấy trải ra từ xa đến gần, từ sự mờ tối đến sáng rõ, từ ngoại vi đến nội tâm. Đó là quá trình thâm nhập vào tầng sâu tâm thức, nơi cảm nhận và ý niệm được tái sinh trong ánh sáng minh triết, chạm đến cốt lõi bản thể. Trên hành trình này, ngôn ngữ thơ Trần Lê Khánh như những cánh cửa hé mở, nơi từng thi ảnh chứa đựng năng lượng của sự tỉnh thức. Quá trình quy tâm của bản thể được khởi ngay từ bài thơ đầu tiên.

"sân chùa đôi dép để xa

tiếng chuông vọng tới tự va vào trời";

"nhà sư bỗng thấy vắng mình

trong yên lặng đóa hoa quỳnh nở ra"

(Xứ 01)

Hình ảnh "đôi dép" như bật dậy, biến hóa khi nghe tiếng chuông, hay "nhà sư" an trú trong tâm không tĩnh lặng, đã mở ra những tầng ý nghĩa ẩn dụ sâu xa trong trùng trùng duyên khởi. Ở đó, tâm thức con người hiện ra như một thực thể vừa độc lập vừa hòa nhập, đặt ra câu hỏi: đó là tiếng nói của cá nhân hay sự tan hòa trong dòng chảy ý niệm? Những vần thơ của Trần Lê Khánh, tuy bình dị và gắn liền với đời thường, lại ẩn chứa triết lý sâu sắc về bản thể, về mối tương quan giữa cái tôi và vũ trụ.

"rót tiếng chân vào con đường

cho đầy những chuyện bình thường cuối năm"

(Xứ 04);

"người về rót xuống cụm mây

thế là quán xá trổ đầy khách quen"

(Xứ 27)

Những câu thơ của Trần Lê Khánh phảng phất hoài niệm và khát vọng tái hồi, như một nỗ lực hòa nhập với cái nguyên sơ, thuần khiết. Anh dẫn dắt người đọc vào cõi trầm mặc và sâu lắng, nơi sự trở về không chỉ là hành động mà còn là sự thẩm thấu của ý niệm.

"nắng vàng về lót ban mai

con đường khẽ dụi lên vài bước chân

rõ ràng trong cõi trầm luân

mây đổ bóng xuống ba lần mới thôi"

(Xứ 30);

 

"mai về hớt váng bình minh

cho xanh con phố cuốn mình theo em"

(Xứ 32)

 

Những động từ như "lót", "dụi", "đổ", "hớt", "cuốn" chất chứa sự vun đầy, chu kỳ hóa của đời sống. Chúng biểu đạt một cuộc quay về mang tính vĩnh cửu, phản ánh bản chất bất biến của vòng luân hồi: trầm luân, chuyển hóa, và tái sinh. Trong đó, con người lặng lẽ để lại dấu ấn của mình, hòa quyện với dòng chảy miên viễn của vũ trụ.

"hồng hoang rục rịch heo may

gió lùa giọng nói về đầy tổ xuân

 

nhà sư đang bước sang tuần

nắng vàng xóa hết phần thân con đường"

(Xứ 41)

Hình ảnh trong đoạn thơ trên khơi mở một cảnh giới trầm mặc và uyên áo. Con người và vạn vật dường như tan hòa vào sự thuần khiết nguyên sơ. Câu thơ "gió lùa giọng nói về đầy tổ xuân" cho ta cảm giác kỳ diệu của sự trở về, diễn đạt sự vận động vi diệu của thời gian và tâm thức, nơi sự tái sinh hòa cùng nhịp thở phồn thịnh của vũ trụ.

Nhà thơ Trần Lê Khánh

Lại có những câu thơ khơi mở dòng chuyển hóa từ ý niệm đến hình hài, từ sự tái sinh trong tâm tưởng đến sự hiện diện của đời sống, gợi lên suy tư sâu sắc về cách con người biến đổi niềm tin, ký ức và cảm xúc thành những dấu vết hữu hình trong dòng chảy vô tận của thời gian:

"tháng giêng em khẩn thần linh

con rối đừng tưởng mình sinh ra rồi"

(Xứ 45);

 

"những ngày sông nhớ quê hương

ta thèm kết lại bằng khuôn mặt người"

(Xứ 58)

Chốn quy tụ trong thơ Trần Lê Khánh là những điểm đột sáng, những khoảnh khắc xuất thần, tạo ra nguồn năng lượng tâm linh:

"chùa thiêng ngọn cỏ cũng linh

ánh đèn chỉ xéo lên mình chúng sanh"

(Xứ 63)

“Ánh đèn chỉ xéo” là ngọn lửa thắp sáng trong mông lung cõi người, là ánh sáng khai minh, khải thị, chạm đến chiều sâu tâm thức, để lại một khoảng sáng lặng lẽ trong lòng người đọc.

Hay hình ảnh con nhện đầy hối hận đối diện với tội lỗi trong khoảnh khắc tĩnh lặng dưới đây:

"con nhện xưng tội trên cao

em cầm cây thước khẻ vào mông lung"

(Xứ 06)

Cây thước ở đây dường như đang đo đạc cái vô tận của đời sống và chiều sâu bản thể con người, hay chiều sâu của sự suy tư.

Những thi ảnh trong các cặp lục bát tiếp theo là các đơn vị phân mảnh, được sắp đặt trong không gian nghệ thuật hiện đại:

"trăng soi mặt giếng nước trong

còn nguyên mùi đất mà lòng vô tư"

(Xứ 03);

 

"sông còn giữ sóng nổi không

bàn tay ta vỗ lên dòng nước xanh"

(Xứ 08)

Mặt giếng và lòng người, sóng nước và tiếng vỗ của bàn tay được kết nối qua nguồn mạch tâm linh, giao thoa giữa cái thoáng qua và miên viễn.

Thơ Trần Lê Khánh thấm đẫm tư tưởng Phật giáo, thể hiện qua những chiêm nghiệm sâu sắc về vô thường, sắc-không, và buông bỏ. Tác giả khắc họa sự mong manh của đời sống thế tục, sự nhỏ bé và vô định của con người trong vũ trụ. Thơ anh là lời mời gọi hướng đến tỉnh thức, giác ngộ, và giải thoát khỏi những ràng buộc của tham, sân, si, mở ra con đường đến sự an lạc và tự tại trong tâm hồn.

"sân chùa nắng chiếu lung linh

những ngọn tre quét bóng mình khỏi nhau"

(Xứ 11)

“Sân chùa” là biểu trưng cho sự thanh tịnh và bình yên, nơi mọi vật được phản chiếu trong ánh sáng của trí tuệ và từ bi. Hình ảnh "những ngọn tre quét bóng mình khỏi nhau" gợi lên sự buông bỏ, tự giải thoát khỏi những ràng buộc và chấp niệm. Đây cũng là phép ẩn dụ cho sự tha thứ, khi con người học cách rời xa những mâu thuẫn, xóa nhòa những dấu vết của cái tôi để hòa nhập vào sự an nhiên của cõi tịnh.

Trong cảnh giới ấy, mọi xung đột, khổ đau đều là hư vô, chỉ còn lại sự giao hòa giữa con người và vũ trụ. Và đây là hình ảnh của hành trình tìm kiếm sự chiêm nghiệm nội tâm:

"tôi ngồi thắp sáng lòng tôi

linh hồn chảy giọt mồ hôi lạ lùng"

(Xứ 19);

 

"dặn người rửa sạch bàn chân

trong cơn mộng mị dễ lần ra nhau"

(Xứ 26)

Đó là quá trình soi sáng từ bên trong, sự tự nhận thức và giác ngộ, nhận ra những ảo tưởng của thế gian mà con người dễ dàng bị cuốn vào.

Sự lan tỏa và chuyển dịch từ chân thực đến mơ hồ, từ trung tâm ra ngoại biên, không chỉ phản ánh dòng chảy bất định của vũ trụ mà còn khơi gợi những tầng nghĩa khác biệt từ nhan đề "Đồng". Nhan đề này gợi lên sự hòa quyện và kết nối, nơi mọi yếu tố trong cuộc sống không ngừng tương tác, chuyển hóa và hòa nhập vào tổng thể. Đồng thời, nó nhấn mạnh sự cân bằng giữa cái cụ thể và cái mơ hồ, giữa hiện hữu và tan biến.

"có một hạt cát ra đi

bỏ lại chỗ trống cho vì sao hôm"

(Xứ 02)

Hình ảnh hạt cát gợi lên ý niệm về sự đổi mới, vòng tuần hoàn và sự vận động không ngừng của thời gian.

"một ngày chợt tẽ thành đôi

rồi chiếc nhánh mọc ra tôi như là"

(Xứ 14)

Chiếc nhánh mọc ra từ “tôi” biểu thị sự triển nở của sinh mệnh, đồng thời là dấu hiệu kết nối giữa thực tại và mơ hồ.

"mượn người cũng đã đủ lâu

những giọt nước mắt ngẩng đầu đi ra"

(Xứ 37)

Câu thơ trên mở ra khoảng trống đầy ám gợi, mở ra sự tan biến và tái sinh, làm nổi bật vòng tuần hoàn của sự sống. Qua chu kỳ sinh thành, phân rã, và hòa tan, nó dẫn dắt người đọc cảm nhận nhịp điệu vô định của "Đồng", nơi vạn vật giao thoa và biến chuyển không ngừng.

Đó là sự nhập nhòa giữa thực và mơ, giữa hữu hình và vô hình, như dòng chảy của thời gian cuốn mọi thứ vào màn sương huyền ảo:

"bóng người lẫn với mùa thu

làm sao em biết sương mù đang tan"

(Xứ 38)

Sự khiêm nhường trước vũ trụ bao la được thể hiện qua hình ảnh trả lại những gì không thuộc về mình:

"em vay mặt nước nhỏ nhoi

trả con thuyền giấy về trời một đêm"

(Xứ 40)

Hay sự tiếp nối của dòng đời, dù tổn thương nhưng vẫn không ngừng chảy, mang theo ký ức từ những lần gặp gỡ, những chia ly, những dang dở:

"trăng va phải tảng đá ngầm

con sông mang một vết bầm đi xa"

(Xứ 42);

 

"ngọn gió lẫn vào hoang vu

ta chưa kịp gửi vào thu một người"

(Xứ 48)

Có những câu thơ khơi gợi sự mất mát và chuyển hóa, khi những gì tưởng chừng vĩnh cửu lại tan biến để nhường chỗ cho một chu kỳ mới.

“nhà sư cất chiếc đèn dầu

ngọn lửa cháy đỏ lắc đầu ra đi”

(Xứ 36)

"Ngọn lửa" là đạo lý, là chân lý không bao giờ biến mất, có lúc nó chỉ tạm "ra đi", để rồi lại đến, lại thắp sáng.

“người đi qua chốn ừ ào

vết nhàu trên áo đâu hao vải mềm”

(Xứ 54)

Đó là câu triết lý về tính không, mọi thứ chỉ là tạm bợ, không thực sự thuộc về chúng ta. Hoặc một ẩn dụ về ràng buộc, tham ái và chấp trước – những mối dây kết nối dù bám víu vào đâu, cũng chỉ dẫn đến sự tan biến, để lại sự trống rỗng trước dòng chảy sinh diệt của vũ trụ:

“con nhện giăng một sợi yêu

mắc vào đâu cũng mất tiêu lòng mình”

(Xứ 57)

Một hình ảnh khác tượng trưng cho thời gian thoáng qua, nhưng cũng là sự tái tạo thế giới:

“mùa thu tàn sao quá nhanh

em lau quả đất cho xanh bầu trời”

(Xứ 53)

Và những câu thơ như "em chìm trong một mùa sương/ dấu chân in xuống con đường hiện thân” (Xứ 56) diễn tả sự hòa nhập và chuyển hóa, từ sự ra đi đến sự trở về; hoặc “bóng mình đã ngủ no nê/ nhà sư đứng dậy dắt về đỉnh non” (Xứ 73) biểu đạt sự vượt thoát khỏi bản ngã để đạt đến sự thăng hoa, giác ngộ.

Thơ Trần Lê Khánh thể hiện suy niệm triết học sâu sắc về sự sống, cái chết và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Câu thơ "ta quỳ bên chiếc lá rơi/ nghìn năm mà đất trả lời chưa xong” (Xứ 88) gợi sự đối diện với vô thường và câu hỏi về sự sống, cái chết, mở ra nhãn quan triết học về bản thể con người; “nhà sư từ thuở bước qua/ con giun đất đỏ bới ra chân trời” (Xứ 89) là hình ảnh của cuộc tìm kiếm sự thật vĩnh cửu và sự giác ngộ.

Không chỉ thế, thơ anh còn kết hợp với sự dí dỏm, vừa sâu sắc vừa nhẹ nhàng, vui tươi. Sự dí dỏm này thể hiện qua cách chơi chữ, hình ảnh bất ngờ và sự đối lập giữa hiện thực và ẩn dụ. Những câu thơ như “áo em kín cổng cao tường/ kẻ trộm dễ kéo con đường ra xa” (Xứ 17); hay “tôi ngồi đỏ ửng hai tai/ em về ran rát như vài giọt mưa” (Xứ 64) là sự nghịch đảo hình ảnh, biến hiện thực thành siêu thực.

Những câu thơ tài hoa của Trần Lê Khánh mở ra những cánh cửa vô hình, dẫn dắt tâm trí vào những khoảng không khép mở đầy bất ngờ, nơi sự giao thoa giữa thực tại và siêu nhiên không ngừng chuyển động. Thi ảnh của anh ẩn chứa những lớp nghĩa song trùng, tinh tế và sâu lắng, như trong câu“nhà sư đi giữa bụi trần/ nắng vàng nằm lót bàn chân trên đường” (Xứ 80), thi ảnh gợi lên một hành trình từ thực tại (“bụi trần”) đến giác ngộ (“nắng vàng”); hoặc trong câu “bóng đêm và những ngọn đèn/ cùng chia nhau giữ người quen bên đường” (Xứ 87), thi ảnh thể hiện sự giao thoa giữa vô thường và hữu thường, giữa bóng tối và ánh sáng.

Sự dân dã trong thơ Trần Lê Khánh tạo ra cảnh trí gần gũi, giản dị, nhưng ẩn chứa những suy tư sâu sắc về cuộc sống.

“người đàn bà lặt mớ rau

bỏ vào nồi nước đặt sau đời mình”

(Xứ 07)

 

“hỡi người chóng chán cả thèm

cuộc đời là lúc người quen cạn dần”

(Xứ 10)

Những hình ảnh đời thường trong "Đồng" không chỉ phản ánh thực tại mà còn mở ra những tầng ý nghĩa về không-thời gian và mối quan hệ trong đại thiên thế giới. "Một giây nữa là đến mai/ ngọn khói lơ lửng khoan thai thả hình" (Xứ 34). Đó là khoảnh khắc tâm thức con người bỗng trở nên sáng tỏ, khi mọi lớp màn vô minh, tham ái, và chấp ngã tan biến. Không còn sự xao động, tâm trí chìm vào tĩnh lặng, nơi chỉ còn lại sự sáng suốt nguyên sơ. Trong phút giây ấy, mọi vọng tưởng lặng im; tham, sân, si nhường chỗ cho tỉnh thức. Con người chợt nhận ra bản chất vô thường, vô ngã của vạn pháp, nhận ra mình không còn tách biệt với vũ trụ. Ranh giới giữa "cái tôi" và "cái khác" mờ dần, để rồi bản thể hòa tan vào dòng chảy vô hạn của chân lý. Tôi chọn câu thơ trong "Xứ 34" làm nhan đề bài viết này, bởi nó soi sáng con đường sáng tạo của Trần Lê Khánh, một con đường thấm đẫm sự tỉnh thức và hòa điệu với vũ trụ.

Với thể lục bát truyền thống, Trần Lê Khánh vừa gìn giữ giá trị cốt lõi vừa tái tạo nó trong cấu trúc hiện đại, mang đến nhịp điệu phóng khoáng và nghệ thuật tu từ sáng tạo. Những hình ảnh trong thơ đôi khi thay đổi bất ngờ, tạo ấn tượng mạnh và khơi dậy những cảm xúc sâu lắng nơi người đọc. Thi tứ đôi lúc tưởng chừng vu vơ, nhưng lại bất ngờ dẫn dắt vào những triết lý sâu sắc, khiến người đọc suy ngẫm về sự tồn tại, về mối tương quan giữa hữu hạn và vô hạn. Tác giả kết hợp vẻ đẹp cổ điển với nét phóng khoáng hiện đại, đôi lúc mang sự chênh vênh, nhưng chính sự chênh vênh ấy lại trở nên quyến rũ, dẫn dụ người đọc vào trạng thái cân bằng, chiêm nghiệm và lắng đọng. Tập thơ "Đồng" của Trần Lê Khánh mở ra một cánh cửa nghệ thuật độc đáo, nơi thơ ca trở thành không gian suy niệm, kết nối sâu sắc giữa con người, thiên nhiên và vũ trụ.

M.V.P

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm