TIN TỨC

Trần Lê Khánh: Một giây nữa là đến mai

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-05-26 10:24:02
mail facebook google pos stwis
604 lượt xem

Mai Văn Phấn

Xuất hiện trên văn đàn mới khoảng một thập kỷ gần đây, nhà thơ Trần Lê Khánh đã nhanh chóng tạo được dấu ấn riêng. Thơ anh đậm chất thiền, dung hòa triết lý phương Đông với tư duy hiện đại. Tác phẩm của anh hướng đến sự hài hòa giữa con người và vũ trụ, đồng thời khám phá chiều sâu triết lý trong những điều tưởng chừng nhỏ bé, giản dị, mở ra những tầng nghĩa phong phú. Sau tám thi tập liên tục ra mắt từ năm 2016, Trần Lê Khánh tiếp tục khẳng định vị thế của mình trong năm 2024 với thi tập "Đồng" (Nxb. Văn học). Phải nói rằng thi pháp lục bát của anh đã chín muồi trong thi tập này, với cấu trúc bốn cặp câu mỗi bài, không gây cảm giác gò bó hay khiên cưỡng mà tuôn chảy tự nhiên, tự do và giàu sức gợi, mở ra không gian suy tưởng phong phú.

Bìa tập thơ Đồng

Vẫn biết với thể thơ truyền thống như lục bát, nếu không có sự sáng tạo trong thi pháp, thơ rất dễ đi vào lối mòn, chỉ là vần điệu du dương, đèm đẹp mà sáo rỗng. Song thi tập mới này của Trần Lê Khánh, gồm 100 bài thơ mang nhan đề "Xứ", được đánh số thứ tự và phân chia thành 11 chương, thực sự là một thứ rượu nồng nàn hương vị mới lạ đựng trong chiếc bình cổ quý giá.

Mở đầu chương 1 của tập thơ "Đồng" là câu lục bát “không cần đếm cho mùa xuân/ bao nhiêu con bướm chân trần lấm hoa”, mở ra một cảnh giới hoàn toàn tự nhiên, hình ảnh trong trẻo, tứ thơ nhẹ nhàng mang hơi thở mùa xuân, nơi vạn vật thảnh thơi, phơi phới, thoát khỏi sự kiềm tỏa của lý trí. Sinh vật bé nhỏ ấy, từ khoảnh khắc hiện diện, đã dẫn dắt nhà thơ vào hành trình khám phá, nơi trời đất giao hòa, muôn vật sinh sôi. Hành trình thơ Trần Lê Khánh là cuộc viễn du qua cõi người, thiên nhiên và vũ trụ, đồng thời cũng là cuộc đối thoại sâu sắc với chính mình, với nhân sinh. Mỗi bài thơ trong tập "Đồng" là một “Xứ” – tựa khoảnh khắc lắng đọng, nơi mọi hữu thể đều sống động và đượm màu suy tưởng. Hành trình bắt đầu từ “con bướm chân trần”, biểu tượng của tự do và thơ ngây, để rồi khép lại ở chương cuối với hình ảnh “những bước chân nhỏ” nhẫn nại, cần mẫn của một chú kiến: "Con kiến buộc lại lối đi/ những bước chân nhỏ như vì sao xanh".

Riêng cái nhan đề của tập thơ đã đầy ấn tượng, khơi gợi nhiều cách tiếp cận và suy ngẫm. "Đồng", theo cảm nhận của tôi, biểu đạt hành trình đa chiều: đó là quá trình quy tâm, tỉnh ngộ, thấu hiểu, trở về, thâm nhập, gói gọn, tái tạo bản thể... Và "Đồng", cũng là sự đồng hiện. Từ điểm hội tụ, đồng hiện ấy, vạn vật lại tiếp tục chuyển dịch: triển nở, lan tỏa, tan rã, khuếch tán, phân hủy, bành trướng, truyền bá, thoái trào,... mờ nhạt dần theo dòng chảy của thời gian. Chuyển dịch này tựa như những đợt gió mùa hay cơn sóng khí hậu làm thay đổi cảnh sắc thiên nhiên, tác động đến tâm lý và thể chất con người, xáo trộn mọi nhịp điệu sinh tồn.

ta về phố xá rộn người

nắng vàng nằm gãi ngọn đồi xa xa

(Xứ 99);

 

cơn mưa đổ xuống hai vai

tôi nối tôi với một vài giọt rơi

(Xứ 96)

Biến động của thiên nhiên, vũ trụ trong những câu thơ trên thấm sâu vào tâm lý, cảm xúc và nhịp điệu sống. Những chuyển dịch ấy vừa xáo động tâm hồn vừa mở ra nhận thức về sự tồn tại và mối liên hệ bất tận giữa cái tôi và thế giới. Thiên nhiên không còn là phông nền tĩnh lặng mà trở thành nguồn năng lượng, khơi dậy, thức tỉnh và hòa quyện bản thể con người với nhịp điệu miên viễn của đời sống.

Thơ Trần Lê Khánh là dòng chảy của tâm thức, dẫn dắt người đọc qua nhiều tầng không gian và thời gian. Hành trình ấy trải ra từ xa đến gần, từ sự mờ tối đến sáng rõ, từ ngoại vi đến nội tâm. Đó là quá trình thâm nhập vào tầng sâu tâm thức, nơi cảm nhận và ý niệm được tái sinh trong ánh sáng minh triết, chạm đến cốt lõi bản thể. Trên hành trình này, ngôn ngữ thơ Trần Lê Khánh như những cánh cửa hé mở, nơi từng thi ảnh chứa đựng năng lượng của sự tỉnh thức. Quá trình quy tâm của bản thể được khởi ngay từ bài thơ đầu tiên.

"sân chùa đôi dép để xa

tiếng chuông vọng tới tự va vào trời";

"nhà sư bỗng thấy vắng mình

trong yên lặng đóa hoa quỳnh nở ra"

(Xứ 01)

Hình ảnh "đôi dép" như bật dậy, biến hóa khi nghe tiếng chuông, hay "nhà sư" an trú trong tâm không tĩnh lặng, đã mở ra những tầng ý nghĩa ẩn dụ sâu xa trong trùng trùng duyên khởi. Ở đó, tâm thức con người hiện ra như một thực thể vừa độc lập vừa hòa nhập, đặt ra câu hỏi: đó là tiếng nói của cá nhân hay sự tan hòa trong dòng chảy ý niệm? Những vần thơ của Trần Lê Khánh, tuy bình dị và gắn liền với đời thường, lại ẩn chứa triết lý sâu sắc về bản thể, về mối tương quan giữa cái tôi và vũ trụ.

"rót tiếng chân vào con đường

cho đầy những chuyện bình thường cuối năm"

(Xứ 04);

"người về rót xuống cụm mây

thế là quán xá trổ đầy khách quen"

(Xứ 27)

Những câu thơ của Trần Lê Khánh phảng phất hoài niệm và khát vọng tái hồi, như một nỗ lực hòa nhập với cái nguyên sơ, thuần khiết. Anh dẫn dắt người đọc vào cõi trầm mặc và sâu lắng, nơi sự trở về không chỉ là hành động mà còn là sự thẩm thấu của ý niệm.

"nắng vàng về lót ban mai

con đường khẽ dụi lên vài bước chân

rõ ràng trong cõi trầm luân

mây đổ bóng xuống ba lần mới thôi"

(Xứ 30);

 

"mai về hớt váng bình minh

cho xanh con phố cuốn mình theo em"

(Xứ 32)

 

Những động từ như "lót", "dụi", "đổ", "hớt", "cuốn" chất chứa sự vun đầy, chu kỳ hóa của đời sống. Chúng biểu đạt một cuộc quay về mang tính vĩnh cửu, phản ánh bản chất bất biến của vòng luân hồi: trầm luân, chuyển hóa, và tái sinh. Trong đó, con người lặng lẽ để lại dấu ấn của mình, hòa quyện với dòng chảy miên viễn của vũ trụ.

"hồng hoang rục rịch heo may

gió lùa giọng nói về đầy tổ xuân

 

nhà sư đang bước sang tuần

nắng vàng xóa hết phần thân con đường"

(Xứ 41)

Hình ảnh trong đoạn thơ trên khơi mở một cảnh giới trầm mặc và uyên áo. Con người và vạn vật dường như tan hòa vào sự thuần khiết nguyên sơ. Câu thơ "gió lùa giọng nói về đầy tổ xuân" cho ta cảm giác kỳ diệu của sự trở về, diễn đạt sự vận động vi diệu của thời gian và tâm thức, nơi sự tái sinh hòa cùng nhịp thở phồn thịnh của vũ trụ.

Nhà thơ Trần Lê Khánh

Lại có những câu thơ khơi mở dòng chuyển hóa từ ý niệm đến hình hài, từ sự tái sinh trong tâm tưởng đến sự hiện diện của đời sống, gợi lên suy tư sâu sắc về cách con người biến đổi niềm tin, ký ức và cảm xúc thành những dấu vết hữu hình trong dòng chảy vô tận của thời gian:

"tháng giêng em khẩn thần linh

con rối đừng tưởng mình sinh ra rồi"

(Xứ 45);

 

"những ngày sông nhớ quê hương

ta thèm kết lại bằng khuôn mặt người"

(Xứ 58)

Chốn quy tụ trong thơ Trần Lê Khánh là những điểm đột sáng, những khoảnh khắc xuất thần, tạo ra nguồn năng lượng tâm linh:

"chùa thiêng ngọn cỏ cũng linh

ánh đèn chỉ xéo lên mình chúng sanh"

(Xứ 63)

“Ánh đèn chỉ xéo” là ngọn lửa thắp sáng trong mông lung cõi người, là ánh sáng khai minh, khải thị, chạm đến chiều sâu tâm thức, để lại một khoảng sáng lặng lẽ trong lòng người đọc.

Hay hình ảnh con nhện đầy hối hận đối diện với tội lỗi trong khoảnh khắc tĩnh lặng dưới đây:

"con nhện xưng tội trên cao

em cầm cây thước khẻ vào mông lung"

(Xứ 06)

Cây thước ở đây dường như đang đo đạc cái vô tận của đời sống và chiều sâu bản thể con người, hay chiều sâu của sự suy tư.

Những thi ảnh trong các cặp lục bát tiếp theo là các đơn vị phân mảnh, được sắp đặt trong không gian nghệ thuật hiện đại:

"trăng soi mặt giếng nước trong

còn nguyên mùi đất mà lòng vô tư"

(Xứ 03);

 

"sông còn giữ sóng nổi không

bàn tay ta vỗ lên dòng nước xanh"

(Xứ 08)

Mặt giếng và lòng người, sóng nước và tiếng vỗ của bàn tay được kết nối qua nguồn mạch tâm linh, giao thoa giữa cái thoáng qua và miên viễn.

Thơ Trần Lê Khánh thấm đẫm tư tưởng Phật giáo, thể hiện qua những chiêm nghiệm sâu sắc về vô thường, sắc-không, và buông bỏ. Tác giả khắc họa sự mong manh của đời sống thế tục, sự nhỏ bé và vô định của con người trong vũ trụ. Thơ anh là lời mời gọi hướng đến tỉnh thức, giác ngộ, và giải thoát khỏi những ràng buộc của tham, sân, si, mở ra con đường đến sự an lạc và tự tại trong tâm hồn.

"sân chùa nắng chiếu lung linh

những ngọn tre quét bóng mình khỏi nhau"

(Xứ 11)

“Sân chùa” là biểu trưng cho sự thanh tịnh và bình yên, nơi mọi vật được phản chiếu trong ánh sáng của trí tuệ và từ bi. Hình ảnh "những ngọn tre quét bóng mình khỏi nhau" gợi lên sự buông bỏ, tự giải thoát khỏi những ràng buộc và chấp niệm. Đây cũng là phép ẩn dụ cho sự tha thứ, khi con người học cách rời xa những mâu thuẫn, xóa nhòa những dấu vết của cái tôi để hòa nhập vào sự an nhiên của cõi tịnh.

Trong cảnh giới ấy, mọi xung đột, khổ đau đều là hư vô, chỉ còn lại sự giao hòa giữa con người và vũ trụ. Và đây là hình ảnh của hành trình tìm kiếm sự chiêm nghiệm nội tâm:

"tôi ngồi thắp sáng lòng tôi

linh hồn chảy giọt mồ hôi lạ lùng"

(Xứ 19);

 

"dặn người rửa sạch bàn chân

trong cơn mộng mị dễ lần ra nhau"

(Xứ 26)

Đó là quá trình soi sáng từ bên trong, sự tự nhận thức và giác ngộ, nhận ra những ảo tưởng của thế gian mà con người dễ dàng bị cuốn vào.

Sự lan tỏa và chuyển dịch từ chân thực đến mơ hồ, từ trung tâm ra ngoại biên, không chỉ phản ánh dòng chảy bất định của vũ trụ mà còn khơi gợi những tầng nghĩa khác biệt từ nhan đề "Đồng". Nhan đề này gợi lên sự hòa quyện và kết nối, nơi mọi yếu tố trong cuộc sống không ngừng tương tác, chuyển hóa và hòa nhập vào tổng thể. Đồng thời, nó nhấn mạnh sự cân bằng giữa cái cụ thể và cái mơ hồ, giữa hiện hữu và tan biến.

"có một hạt cát ra đi

bỏ lại chỗ trống cho vì sao hôm"

(Xứ 02)

Hình ảnh hạt cát gợi lên ý niệm về sự đổi mới, vòng tuần hoàn và sự vận động không ngừng của thời gian.

"một ngày chợt tẽ thành đôi

rồi chiếc nhánh mọc ra tôi như là"

(Xứ 14)

Chiếc nhánh mọc ra từ “tôi” biểu thị sự triển nở của sinh mệnh, đồng thời là dấu hiệu kết nối giữa thực tại và mơ hồ.

"mượn người cũng đã đủ lâu

những giọt nước mắt ngẩng đầu đi ra"

(Xứ 37)

Câu thơ trên mở ra khoảng trống đầy ám gợi, mở ra sự tan biến và tái sinh, làm nổi bật vòng tuần hoàn của sự sống. Qua chu kỳ sinh thành, phân rã, và hòa tan, nó dẫn dắt người đọc cảm nhận nhịp điệu vô định của "Đồng", nơi vạn vật giao thoa và biến chuyển không ngừng.

Đó là sự nhập nhòa giữa thực và mơ, giữa hữu hình và vô hình, như dòng chảy của thời gian cuốn mọi thứ vào màn sương huyền ảo:

"bóng người lẫn với mùa thu

làm sao em biết sương mù đang tan"

(Xứ 38)

Sự khiêm nhường trước vũ trụ bao la được thể hiện qua hình ảnh trả lại những gì không thuộc về mình:

"em vay mặt nước nhỏ nhoi

trả con thuyền giấy về trời một đêm"

(Xứ 40)

Hay sự tiếp nối của dòng đời, dù tổn thương nhưng vẫn không ngừng chảy, mang theo ký ức từ những lần gặp gỡ, những chia ly, những dang dở:

"trăng va phải tảng đá ngầm

con sông mang một vết bầm đi xa"

(Xứ 42);

 

"ngọn gió lẫn vào hoang vu

ta chưa kịp gửi vào thu một người"

(Xứ 48)

Có những câu thơ khơi gợi sự mất mát và chuyển hóa, khi những gì tưởng chừng vĩnh cửu lại tan biến để nhường chỗ cho một chu kỳ mới.

“nhà sư cất chiếc đèn dầu

ngọn lửa cháy đỏ lắc đầu ra đi”

(Xứ 36)

"Ngọn lửa" là đạo lý, là chân lý không bao giờ biến mất, có lúc nó chỉ tạm "ra đi", để rồi lại đến, lại thắp sáng.

“người đi qua chốn ừ ào

vết nhàu trên áo đâu hao vải mềm”

(Xứ 54)

Đó là câu triết lý về tính không, mọi thứ chỉ là tạm bợ, không thực sự thuộc về chúng ta. Hoặc một ẩn dụ về ràng buộc, tham ái và chấp trước – những mối dây kết nối dù bám víu vào đâu, cũng chỉ dẫn đến sự tan biến, để lại sự trống rỗng trước dòng chảy sinh diệt của vũ trụ:

“con nhện giăng một sợi yêu

mắc vào đâu cũng mất tiêu lòng mình”

(Xứ 57)

Một hình ảnh khác tượng trưng cho thời gian thoáng qua, nhưng cũng là sự tái tạo thế giới:

“mùa thu tàn sao quá nhanh

em lau quả đất cho xanh bầu trời”

(Xứ 53)

Và những câu thơ như "em chìm trong một mùa sương/ dấu chân in xuống con đường hiện thân” (Xứ 56) diễn tả sự hòa nhập và chuyển hóa, từ sự ra đi đến sự trở về; hoặc “bóng mình đã ngủ no nê/ nhà sư đứng dậy dắt về đỉnh non” (Xứ 73) biểu đạt sự vượt thoát khỏi bản ngã để đạt đến sự thăng hoa, giác ngộ.

Thơ Trần Lê Khánh thể hiện suy niệm triết học sâu sắc về sự sống, cái chết và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Câu thơ "ta quỳ bên chiếc lá rơi/ nghìn năm mà đất trả lời chưa xong” (Xứ 88) gợi sự đối diện với vô thường và câu hỏi về sự sống, cái chết, mở ra nhãn quan triết học về bản thể con người; “nhà sư từ thuở bước qua/ con giun đất đỏ bới ra chân trời” (Xứ 89) là hình ảnh của cuộc tìm kiếm sự thật vĩnh cửu và sự giác ngộ.

Không chỉ thế, thơ anh còn kết hợp với sự dí dỏm, vừa sâu sắc vừa nhẹ nhàng, vui tươi. Sự dí dỏm này thể hiện qua cách chơi chữ, hình ảnh bất ngờ và sự đối lập giữa hiện thực và ẩn dụ. Những câu thơ như “áo em kín cổng cao tường/ kẻ trộm dễ kéo con đường ra xa” (Xứ 17); hay “tôi ngồi đỏ ửng hai tai/ em về ran rát như vài giọt mưa” (Xứ 64) là sự nghịch đảo hình ảnh, biến hiện thực thành siêu thực.

Những câu thơ tài hoa của Trần Lê Khánh mở ra những cánh cửa vô hình, dẫn dắt tâm trí vào những khoảng không khép mở đầy bất ngờ, nơi sự giao thoa giữa thực tại và siêu nhiên không ngừng chuyển động. Thi ảnh của anh ẩn chứa những lớp nghĩa song trùng, tinh tế và sâu lắng, như trong câu“nhà sư đi giữa bụi trần/ nắng vàng nằm lót bàn chân trên đường” (Xứ 80), thi ảnh gợi lên một hành trình từ thực tại (“bụi trần”) đến giác ngộ (“nắng vàng”); hoặc trong câu “bóng đêm và những ngọn đèn/ cùng chia nhau giữ người quen bên đường” (Xứ 87), thi ảnh thể hiện sự giao thoa giữa vô thường và hữu thường, giữa bóng tối và ánh sáng.

Sự dân dã trong thơ Trần Lê Khánh tạo ra cảnh trí gần gũi, giản dị, nhưng ẩn chứa những suy tư sâu sắc về cuộc sống.

“người đàn bà lặt mớ rau

bỏ vào nồi nước đặt sau đời mình”

(Xứ 07)

 

“hỡi người chóng chán cả thèm

cuộc đời là lúc người quen cạn dần”

(Xứ 10)

Những hình ảnh đời thường trong "Đồng" không chỉ phản ánh thực tại mà còn mở ra những tầng ý nghĩa về không-thời gian và mối quan hệ trong đại thiên thế giới. "Một giây nữa là đến mai/ ngọn khói lơ lửng khoan thai thả hình" (Xứ 34). Đó là khoảnh khắc tâm thức con người bỗng trở nên sáng tỏ, khi mọi lớp màn vô minh, tham ái, và chấp ngã tan biến. Không còn sự xao động, tâm trí chìm vào tĩnh lặng, nơi chỉ còn lại sự sáng suốt nguyên sơ. Trong phút giây ấy, mọi vọng tưởng lặng im; tham, sân, si nhường chỗ cho tỉnh thức. Con người chợt nhận ra bản chất vô thường, vô ngã của vạn pháp, nhận ra mình không còn tách biệt với vũ trụ. Ranh giới giữa "cái tôi" và "cái khác" mờ dần, để rồi bản thể hòa tan vào dòng chảy vô hạn của chân lý. Tôi chọn câu thơ trong "Xứ 34" làm nhan đề bài viết này, bởi nó soi sáng con đường sáng tạo của Trần Lê Khánh, một con đường thấm đẫm sự tỉnh thức và hòa điệu với vũ trụ.

Với thể lục bát truyền thống, Trần Lê Khánh vừa gìn giữ giá trị cốt lõi vừa tái tạo nó trong cấu trúc hiện đại, mang đến nhịp điệu phóng khoáng và nghệ thuật tu từ sáng tạo. Những hình ảnh trong thơ đôi khi thay đổi bất ngờ, tạo ấn tượng mạnh và khơi dậy những cảm xúc sâu lắng nơi người đọc. Thi tứ đôi lúc tưởng chừng vu vơ, nhưng lại bất ngờ dẫn dắt vào những triết lý sâu sắc, khiến người đọc suy ngẫm về sự tồn tại, về mối tương quan giữa hữu hạn và vô hạn. Tác giả kết hợp vẻ đẹp cổ điển với nét phóng khoáng hiện đại, đôi lúc mang sự chênh vênh, nhưng chính sự chênh vênh ấy lại trở nên quyến rũ, dẫn dụ người đọc vào trạng thái cân bằng, chiêm nghiệm và lắng đọng. Tập thơ "Đồng" của Trần Lê Khánh mở ra một cánh cửa nghệ thuật độc đáo, nơi thơ ca trở thành không gian suy niệm, kết nối sâu sắc giữa con người, thiên nhiên và vũ trụ.

M.V.P

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm